Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN L1. Khái niệm về đầu tư; - Bau tư là việc sử dụng một lực lượng tài sản nhất định như vốn, công nghệ, đất đai. vào một hoạt động sản xuất kinh doanh cu thể nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm để thu hút lợi nhuận cho xã hội. Đầu tư có 2 đặc trưng quan trọng là tính sinh lãi và rủi ro.
- Đầu tư quốc tế là một quá trình kính tế, trong đó các nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân) đưa vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào vào nước tiếp nhận vốn đầu tư để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận hoặc dat được các hiệu quả xã hội. Bản chất của đầu tư quốc tế là đầu tư, nhưng nó có thêm ba đặc điểm quan trọng khác với đầu tư trong nước là: + Chủ đầu tư là người nước ngoài. + Các yếu tố đầu tư chuyển qua biên giới quốc gia, + Đồng tiền tính toán thường là ngoại tệ mạnh (USD). Các dang dau tư: Về phân loại đầu tư quốc tế có thể có nhiều cách, nhưng luận văn chỉ căn cứ vào tính chất sử dụng của tư bản.
Nếuan! chất sử dụng của tư bản thì đầu tư quốc tế thường được chia ra 3 hình thức đầu tư chủ yếu là đầu tư gián tiếp, tín dụng quốc tế và đầu tư trực tiếp. Là hình thức đầu tư quốc tế mà trong đó chủ đầu tư nước ngoài chỉ được góp số vốn tối đa nào đó dưới hình thức mua cổ phiếu, sao cho bên nước ngoài không tham gia trực tiếp điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư. Hình thức này có ưu điểm là khi có sự cố trong kinh doanh, xảy ra đối với xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì các chủ đầu tư ít bị thiệt hại vì vốn đầu tư được phân tán trong số đông những người mua cổ phiếu, trái phiếu. Mặt khác, bên tiếp nhận vốn đầu tư hoàn toàn chủ động quản lý vốn kinh doanh theo ý mình một cách tập trung.
Tuy nhiên hình thức này có nhược điểm lớn là hạn chế khả năng thu hút vốn, kỹ thuật, công nghệ của từng chủ đầu tư nước ngoài vì họ bị khống chế mức độ góp vốn tối đa. Hơn nữa do bên nước ngoài không trực tiếp tham gia điểu hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư cho nên hiệu quả sử dụng vốn thường thấp. SVTH: Trần Thị Hang Le Trang:6 Kháa luận fF nghiệp GVHD: Thảu Hoàng Xuân Dang Là hình thức đầu tư dưới dạng cho vay vốn và kiếm lợi thông qua lãi suất tiền vay. Hình thức này được sử dụng khá phổ biến vì có những ưu điểm sau: Thứ nhất.
vốn vay chủ yếu dưới dạng tiền tệ. Thứ hai, nước tiếp nhận đầu tư toàn quyền chủ động sử dụng vốn đầu tư cho các mục đích riêng của mình. Thứ ba, chủ đầu tư nước ngoài có thu nhập ổn định, thông qua lãi suất tién cho vay, không phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của vốn đầu tư. Thứ tứ, nhiêu nước chủ đầu tư thông qua hình thức này đã rang buộc các nước _ tiếp nhận vào vòng ảnh hưởng của mình (đặc biệt đối với ODA của các nhà nước hoặc các tổ chức tài chính quốc tế).
Bên cạnh những ưu điểm thì cũng như hình thức đầu tư gián tiếp, hình thức này có nhược điểm lớn là hiệu quả sử dụng vốn thường thấp do bên nước ngoài không trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư. Hậu quả của đầu tư gián tiếp và tín dụng quốc tế là nhiều nước chậm và dang phát triển lâm vào tình trạng nợ nắn, thậm chí có nước còn mất khả nang chi trả, riêng 32 nước có mức thu nhập thấp năm 1993 nợ quốc tế lên tới 196 tỷ USD. Đầu tư trực tiếp, \” Là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ dau tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư. Tỷ lệ góp vốn của chủ đầu tư nước ngoài trong vốn pháp định đủ lớn là bao nhiêu còn tùy thuộc vào quy định của nước tiếp nhận đầu tư.
Nhìn chung, đầu tư trực tiếp có những đặc trưng và thế mạnh riêng của nó, cụ thể là: Thứ nhất, đâu tư trực tiếp mặc dù vẫn chịu sự chỉ phối của chính phủ, nhưng có phần ít bị lệ thuộc vào những mối quan hệ chính trị giữa hai bên so với hình thức tín dụng. Thứ hai, bên nước ngoài trực tiếp tham gia điều hành quá trình kinh doanh của xí nghiệp, nên họ trực tiếp kiểm soát hoạt động và đưa ra những quyết định có lợi nhất cho việc đầu tư, vì vậy mà mức độ khả thi và hiệu quả của dự án khá cao, đặc biệt trong việc tiếp cận thị trường quốc tế để mở rộng xuất khẩu. Thứ ba, do quyền lợi của chủ đầu tư nước ngoài gắn chặt với dự án, nên có thể lựa chọn kỹ thuật, công nghệ thích hợp, nâng cao dan trình độ quản lý và tay nghề cho công nhân ở nước tiếp nhận đầu tư. Tuy nhiên theo kinh nghiệm của các nước tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài cho thấy, bên cạnh những thế mạnh, đầu tưu trực tiếp nước ngoài diễn ra theo cơ chế thị trường trong khi người đầu tư nước ngoài có nhiều kinh nghiệm trong việc ký kết hợp đồng, còn phía chủ nhà lại thiếu kinh nghiệm, có nhiều sơ hở nên phía nước chủ nhà không hoàn toàn chủ động trong việc bố trí cơ cấu đầu tư theo ngành cũng như theo lãnh thổ.
Dĩ nhiên, để điều SVTH: Trần Thy Hang Lé Trang: 7 Khia luận fal nghiệp GVHD: Thay Hodng Xuân Dan; chỉnh hành vi và trách nhiệm giữa các bên cẩn dựa trên những cơ sở pháp lý chắc chấn của luật đầu tư nước ngoài cũng như các văn bản pháp lý có liên quan. Tóm lại, đầu tư trực tiếp sẽ mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh nên nó thúc đẩy sự phát triển của những ngành nghề mới ở nước nhận dau tư. Vì thế nó có tác dụng thúc đẩy công nghiệp hóa và phát triển kinh tế. Đầu tư trực tiếp là hình thức không kèm các khoản nợ đối với các nước nhận đầu tư.
Trong tương lai, lãi phân chia sẽ chuyển vé các nước đâu tư với điểu kiện là các công trình đầu tư trực tiếp phải thành công. Ở nước ta theo Luật đầu tư nước ngoài (ban hành năm 1987, điểu chỉnh năm 1990, 1992, 1996 và 2000) thì đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu là việc các nhà đầu tư nước ngoài (pháp nhân hoặc cá nhân) trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt Nam cho phép để tiến hành dưới các hình thức: Hoặc là hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, hoặc xí nghiệp liên doanh, hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, hoặc hợp đồng “xây dựng — kinh doanh - chuyển giao” (BOT). Như vậy, theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, thì đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm 4 hình thức sau: + Xi nghiệp liên doanh (A Joint Venture Company hoặc A Joint Venture Enterprise). Đó là bên nước ngoài (tổ chức, cá nhân) va bên Việt Nam (tổ chức pháp nhân thuộc mọi thành phần kinh tế) thành lập xí nghiệp liên doanh.
Xí nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam. Phan góp vốn của bên nước ngoài vào vốn pháp định của xí nghiệp liên doanh không bị hạn chế về mức độ cao nhất, theo sự thỏa thuận của hai bên nhưng không được dưới 30% tổng vốn pháp định. Hai bên chia lợi nhuận và chịu những rủi ro của xí nghiệp liên doanh theotỷ lệ góp vốn của mỗi bên. + Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài (An Enterprise with 100 percent foreign owned capital).
Đó là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài thành lập tại Việt Nam xi nghiệp 100% vốn của nước ngoài, tự mình quản lý xí nghiệp, chịu sự kiểm soát của cơ quan nhà nước về quản lý đầu tư nước ngoài, được hưởng các quyền lợi và phải thực hiện các nghĩa vụ ghi trong giấy phép đầu tư. Xí nghiệp 100% vốn của nước ngoài có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam. + Hợp đồng “Xây dựng - kinh doanh - chuyển giao” (Build — Operate - Transfer - BOT). Đó là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài ký kết với cơ quan nhà nước có thẩm quyển của Việt Nam để xây dựng, khai thác, kinh doanh công trình hạ ting cơ sở trong một thời gian nhất định, hết thời hạn, tổ chức, cá nhân nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho chính phủ Việt Nam.
Vai trd của đầu tư quốc tế: Đối với nước chủ đầu tư, đầu tư quốc tế mang lại cho họ những ích lợi sau đây: Thứ nhất, phan lớn các nước này là những nước công nghiệp phát triển mà tỷ suất lợi nhuận ngày càng có xu hướng giảm và kèm theo là hiện tượng “thừa” tương SVTH: Trần Thị Hang Le Trang: 8 Khia luận fot gập GVHD: Thấu Hoàm Xuân Dây đối tư bản ở trong nước. Cho nên, bằng hình thức đầu tư quốc tế, các nước này đã sử dụng những lợi thế của nước tiếp nhận đầu tư để giảm chỉ phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như tăng tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư. Thứ hai, đầu tư quốc tế khắc phục tình trạng lão hóa sản phẩm tức là thông qua đầu tư quốc tế (thường là đầu tư trực tiếp) các nước tư bản đã di chuyển một bộ phận sản phẩm công nghiệp, phần lớn là máy móc thiết bị ở giai đoạn lão hóa sang các nước kém phát triển hơn để tiếp tục sử dụng, kéo dài thêm chu kỳ sống của sản phẩm. Chúng ta còn nhớ vào những năm 70 của thế kỷ XX, khi cuộc khủng hoảng cơ cấu nổ ra trong chiến lược tái triển khai công nghiệp lần thứ nhất, các nước tư bản phát triển đã di chuyển một bộ phận công nghiệp có kỹ thuật đơn giản dùng nhiều lao động và gây 6 nhiễm môi trường bao gồm các ngành như: công nghiệp đệt may, giày dép, đồ chơi, hàng điện tử đơn giản, công nghiệp khai khoáng và sơ chế quặng sang các nước chậm và đang phát triển.
Đó là vòng đầu tư của công cuộc tái triển khai công nghiệp của các nước tư bản phát triển. Ngày nay, họ đã chuyển sang vòng d4u tư với sự tập trung đầu tư cao hơn để phát triển các ngành như 6 tô, điện tử, máy công cụ, thiết bi tự động,.