Đặt vấn đề Ô nhiễm rác thải nhựa luôn là một vấn đề quan trọng được nhiều người chú ý và quan tâm, đặc biệt là trong môi trường nước. Kích thước của rác thải nhựa có thể dao động từ vài micromet đến vài mét, chúng đã được tìm thấy ở khắp các nơi (Barnes và ctv, 2010; Browne và ctv, 2011; Obbard va ctv, 2014; Van Cauwenberghe va ctv, 2013). Đối với các mảnh rác lớn có thé dé dang nhìn thay và thu gom, nhưng đối với các mảnh nhựa nhỏ có kích thước vài micromet rất khó phát hiện và xử lý. Vì thế, các mảnh nhựa nhỏ có thể tồn tại rất nhiều trong tự nhiên và có thé ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái (de Souza Machado và ctv, 2018; Green và ctv, 2017; López-RoJo và ctv, 2020), ví dụ như các loài sinh vật có thể vô tình nuốt phải chúng trong quá trình tìm kiến thức ăn và các mảnh nhựa nhỏ có đường kính dưới 5 mm được gọi là vi nhựa (Microplastics - MP).
Trong vài thập ký qua, vi nhựa đã trở thành một chất ô nhiễm phổ biến trong môi trường nước, dẫn đến mối đe đọa tiềm tàng đối với hệ sinh thái (Menicagli và ctv, 2022; Rai va ctv, 2023). Sự ghi nhận đầu tiên về vi nhựa trong nước mặt xuất hiện từ những năm 1970 ở Bắc Mỹ (Carpenter và ctv, 1972). Tuy nhiên, đánh giá về ô nhiễm vi nhựa trong môi trường mới được báo cáo cho đến đầu thế kỷ 21 (Thompson và ctv, 2004). Kê từ đó, vi nhựa đã được tìm thấy trong hau hết các thủy vực lớn (đại đương, biển, hồ và sông) va trầm tích (Arthur và ctv, 2009; Lusher và ctv, 2013; Thompson va ctv, 2004), ngay ca ở những khu vực xa xôi nhất trên thé giới như băng Bắc Cực và vùng biển Nam Cực (Bergmann va ctv, 2017; Cincinelli va ctv, 2017).
Vi nhựa tạo ra một dang 6 nhiễm nhựa ít rõ ràng hơn so với các mảnh rác thải nhựa với kích thước lớn. Các nhà nghiên cứu dự đoán rằng vào năm 2040 sẽ có hơn 600 triệu tan vi nhựa trong các đại dương của chúng ta. Bởi vì có kích thước nhỏ nên vi nhựa có thể xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau. Một số nghiên cứu và khảo sát đã phát hiện vi nhựa trong quan thé sinh vật, đặc biệt la quan thé sinh vat bién (Pegado va ctv, 2018; Van Cauwenberghe va Janssen, 2014) Theo một số nghiên cứu cho thay rang vi nhựa có thé gây nguy hiểm hon rac thai nhựa thông thường.
Chúng có nhiều tác động độc hại đối với các loài động vật lớn như các loài cá, động vật có vú và động vật không xương sống (Puskic và ctv, 2020; Zantis và ctv, 2021). Ví dụ, việc tiếp xúc với vi nhựa gây sự thay đổi trong quá trình kiến ăn và gián đoạn quá trình sinh sản ở hau (Sussarellu và ctv, 2016), gây tốn thương đường ruột của cá ngựa van (Lei và ctv, 2018), ở loài giun biển việc nuốt phải vi nhựa gây ra viêm nhiễm và tổn thương hệ tiêu hóa (Wright va ctv, 2013). Tuy nhiên, các sinh vật nhỏ hơn, chang hạn như động vật phiêu sinh lại có khả năng bị ảnh hưởng nhiều hơn do kích thước hạt vi nhựa có cùng kích thước với con môi của chúng. Cùng với các cơ chế chủ yếu là ăn lọc của nhiều loài thì sự tương tác này đang ngày càng được quan tâm, do vị trí của các sinh vật đó ở gần đầu của chuỗi thức ăn với vai trò chủ đạo trong hoạt động của hệ sinh thái (Botterell và ctv, 2019; Galloway va ctv, 2017).
Tại Việt Nam cũng không ngoại lệ, trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống người dân cảng được nâng cao thì lượng vi nhựa trong môi trường cũng tăng theo. Theo tình hình hiện tại, vấn đề ô nhiễm vi nhựa tại Việt Nam mới chỉ được quan tâm và nghiên cứu trong vài năm trở lại đây. Các cuộc khảo sát và nghiên cứu về tác động của vi nhựa đến các sinh vật, đặc biệt là động vật phiêu sinh vẫn còn rất hạn chế. Xuất phát từ thực tế trên, nghiên cứu “Nghiên cứu, đánh giá khả năng tích tụ va tác động của vi nhựa lên động vật phiêu sinh đặc trưng Moina macrocopa” đã được thực hiện.
Mục tiêu đề tài Nuôi sinh sản và thích nghĩ M. macrocopa dé cung cấp đủ số lượng va đảm bảo sự đồng đều về độ tuôi, kích thước của sinh vật thực hiện thí nghiệm. Xác định khả năng tích tụ vi nhựa trong cơ thé và ảnh hưởng của vi nhựa đối với tỷ lệ chết của động vật phiêu sinh M macrocopa. Từ đó, xác định được những anh hưởng xấu của vi nhựa đối với M.
macrocopa nói riêng và các sinh vật khác nói chung. Nội dung thực hiện Nuôi sinh sản và thích nghỉ sinh vật trong điều kiện phòng thí nghiệm. Thí nghiệm cấp tính trong môi trường có vi nhựa sơ cấp. TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Tống quan về vi nhựa Hạt vi nhựa (Microplastics - MP) được định nghĩa là các polyme tổng hợp có kích thước không vượt quá 5 mm (UNEP, 2016). Hạt vi nhựa có thể được sản xuất chủ động ở kích thước nhỏ (microbeads) có trong các sản phâm kem đánh răng, tây tế bào chết, sữa rửa mặt hoặc có nguồn gốc hình thành từ quá trình phân mảnh các mảnh nhựa lớn hơn trong môi trường (Castillo và ctv, 2016). Từ nguồn gốc hình thanh vi nhựa được phân chia thành hai loại chính đó là vi nhựa sơ cấp (Primary microplastic PMP) và vi nhựa thứ cấp (Secondary microplastics SMP): Vi nhựa so cap (PMP): là những mảnh nhựa nhỏ được sản xuất có chủ đích. Chúng bao gồm các hạt siêu nhỏ và hạt nhựa (còn được gọi là nurdles).
Một số loại thường được sử dụng trong sữa rửa mặt và mỹ phẩm, hoặc trong công nghệ thôi khí (Arthur và ctv, 2009). Trong một số trường hợp, việc sử dụng chúng trong y học làm vật trung gian truyền thuốc đã được kiểm chứng. Các hạt vi nhựa, được sử dung trong sữa rửa tay tay tế bao chết và tay tế bào chết trên mặt, đã thay thé các thành phan tự nhiên được sử dụng truyền thống, bao gồm vỏ hạnh nhân xay, bột yến mạch và đá bọt. Vi nhựa thứ cấp (SMP): là những mảnh nhựa nhỏ có nguồn gốc từ sự phân hủy của các mảnh nhựa lớn hon, cả trên biển và trên đất liền.
Theo thời gian, đỉnh điểm của quá trình phân hủy vật lý, sinh học và hóa học, bao gồm cả quá trình oxy hóa do tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, có thé làm giảm tính toan vẹn cau trúc của các mảnh nhựa, cuối cùng dẫn đến phân hủy thành kích thước mà mắt thường không thể phát hiện được (Thompson và ctv, 2004). Quá trình phân hủy vật liệu nhựa lớn thành nhiều mảnh nhỏ hơn này được gọi là quá trình phân mảnh. Người ta cho rằng vi nhựa có thể tiếp tục phân hủy để có kích thước nhỏ hơn, mặc dù vi nhựa nhỏ nhất được phát hiện trong các đại dương hiện nay có đường kính 1,6 um (Conkle va ctv, 2018). Sự phổ biến của vi nhựa với hình dạng không đồng đều cho thấy rằng sự phân mảnh là một nguồn chính.
Những mảnh vi nhựa được tìm thấy ở khắp nơi trên thé giới như trong đại dương, sông, đất và nhiều môi trường khác. Vi nhựa trong môi trường chủ yêu bắt nguồn từ sự phân hủy chất thải nhựa và chủ yếu được cấu thành từ các polyme phổ biến được sử dụng trong sản xuất nhựa, bao gồm polyetylene (PE), polystyrene (PS), polypropylene (PP), nylon, polyvinyl clorua (PVC), polyamit (PA), axit polylactic (PLA) và polyetylen terephthalate (PET) (Islam và ctv, 2022). Theo một nghiên cứu công bố rằng lượng nhựa và vi nhựa trôi nổi trong đại dương của chúng ta là khoảng 5,25 nghìn tỷ miếng hay 65. Thực trạng ô nhiễm vi nhựa 2.
Thực trạng ô nhiễm vi nhựa trên thế giới Trong vài thập kỷ qua, vi nhựa đã trở thành một chat 6 nhiễm phổ biến trong dat và nước, dẫn đến mối đe dọa tiềm tàng đối với hệ sinh thái. Cùng với đó ngày càng có thêm nhiều cuộc khảo sát và nghiên cứu về ô nhiễm vi nhưa trên khắp thế giới được thực hiện. Các nghiên cứu này trải dài từ nước ngọt đến nước mặn, từ đồng bằng đến miền núi, từ Á sang Âu, nhằm xác định nồng độ và tác động của chúng đối với môi trường sống. Ở Trung Quốc, nồng độ vi nhựa được báo cáo trong các mẫu nước mặt của 20 hồ và vùng đô thị bên bờ sông Hán Giang và sông Dương Tử dao động từ 1660 + 639 đến 8925 + 1591 MP/m° với nồng độ ngày càng cao khi gần trung tâm thành phó (Wang và ctv, 2017).
Vĩ nhựa dang sợi là hình dang được tìm thay nhiều nhất trong các mẫu, trong đó Polypropylene va Polyethylene Terephthalate là các polyme phổ biến. Một nghiên cứu khác đã điều tra sự xuất hiện của vi nhựa ở hồ Thái Hồ. Đây là hồ nước ngọt lớn thứ ba của Trung Quốc và được coi là một trong những hồ bị ô nhiễm nhất do một số hoạt động công nghiệp và du lịch xung quanh nó. Ở đây đã phát hiện vi nhựa trong khoảng nồng độ từ 3,4 - 25,8 MP/L trong nước mặt và 11,0 - 234,6 MP/kg trọng lượng khô trong các mẫu trầm tích (Su và ctv, 2016).
Các cuộc khảo sát do vi nhựa ở một vịnh hẹp Thụy Điển và khu vực bến cảng cạnh một nhà máy sản xuất Polyetylene cho thay nồng độ khoảng 100. Ở vùng Biển Dia Trung Hải nồng độ đo được là 243.853 MP/km2, lượng vi nhựa này có thể so sánh với lượng vi nhựa trung bình đo được ở các vùng tích tụ bên trong của các dòng hải lưu cận nhiệt đới. Lý do giải thích cho sự xuất hiện nồng độ vi nhựa cao này được cho là hệ quả của lượng nhựa thải ra tăng cao kết hợp với địa hình kép kính của Biển Địa Trung Hải (Collignon và ctv, 2012; Cózar và ctv, 2014). Tại Biển Den, với sự trao đổi cực kỳ hạn chế vào Biển Dia Trung Hải, thông qua eo biển Bosphorus va Dardanelles, đã được báo cáo là có lượng vi nhựa cao tới 3,3 x103 MP/m? (Aytan và ctv, 2016).
Một cuộc khảo sát khác được thực hiện ở Anh trên bờ sông Thames 4 cho thấy các hạt vi nhựa có kích thước 1 - 4 mm ở nồng độ 22 - 297 MP/L. Loại vi nhựa chiếm ưu thế nhất là dạng sợi, nhưng tại một địa điểm ở hạ lưu cống thoát nước mưa, tiếp nhận dong chảy đô thị, xuất hiện nhiều vi nhựa dạng mảnh có nguồn gốc từ sơn đánh dấu trên bề mặt đường (Horton và ctv, 2017) Theo một nghiên cứu gần đây của cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (International Atomic Energy Agency_IAEA).