CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN THUẾ GTGT VÀ THUẾ TNDN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÊ TÔNG VÀ XÂY DỰNG THỪA THIÊN HUẾ 1. Những vấn đề cơ bản về thuế 1. Khái niệm Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân (cá nhân) và pháp nhân (tổ chức) có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế.
(Trích từ TS. Lê Quang Cường & TS. Nguyễn Kim Quyến (1976), giáo trình Thuế 1) 1. Đặc điểm của thuế Thứ nhất, thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách nhà nước: Tính bắt buộc của thuế thể hiện ở chỗ, đối với người nộp thuế thì buộc phải chuyển giao một phần tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước, nếu không thực hiện thì sẽ bị áp dụng những biện pháp cưỡng chế cần thiết.
Còn đối với cơ quan thu thuế buộc phải thực hiện việc thu thuế đối với mọi tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ là như nhau mà không được có sự ưu tiên với bất kì người nộp thuế nào. Thứ hai, thuế gắn với quyền lực nhà nước: Để thuế phát huy vai trò của mình đối với xã hội thì Nhà nước đã pháp luật hóa thuế thành hệ thống pháp luật, từ đó buộc mọi cá nhân phải tuân thủ. Chỉ gắn với yếu tố quyền lực thì thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn tài chính cho ngân sách Nhà nước. Thứ ba, thuế không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp: Thuế là khoản bắt buộc mà người nộp thuế phải nộp cho Nhà nước khi có những điều kiện nhất định.
Khi nộp thuế người nộp sẽ không được nhận lại một số tiền tương đương với khoản thuế đã nộp mà chỉ nhận được những lợi ích không thể xác định dưới dạng vật chất như: yên 7 bình xã hội, sự phát triển kinh tế… đó là tính không hoàn trả trực tiếp của thuế. Số tiền thuế phải nộp không phụ thuộc vào mức độ hưởng lợi ích của người nộp thuế. Chức năng, vai trò của thuế a. Chức năng - Chức năng phân phối và phân phối lại: Là chức năng cơ bản đặc thù của thuế.
Nhà nước dùng tiền thu từ thuế để tái đầu tư và phân phối thu nhập trong toàn xã hội - Chức năng điều tiết nền kinh tế: Thuế là một công cụ của chính sách kinh tế có thể đóng vai trò khuyến khích, hạn chế hoặc ổn định. Thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế, xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế. Vai trò Thứ nhất, thuế là công cụ chủ yếu huy động nguồn lực vật chất cho Nhà nước: Đối với các nước có nền kinh tế phát triển, để huy động tập trung nguồn lực tài chính đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu của Nhà nước thì vai trò quan trọng này thuộc về thuế. Thuế luôn được coi là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước.
Thứ hai, thuế là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường: Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước có khả năng sử dụng chính sách thuế điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Điều đó xuất phát từ chức năng điều tiết của thuế, lợi ích xã hội, Nhà nước có thể tăng thuế hoặc giảm thuế đối với thu nhập của các tầng lớp dân cư và với doanh nghiệp để kích thích hoặc hạn chế sự phát triển của các lĩnh vực các ngành nghề khác nhau của nền kinh tế. Việc điều chỉnh chính sách thuế cũng góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý theo yêu cầu phát triển nền kinh tế trong từng giai đoạn. Thứ ba, thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối: Trong các chính sách, vai trò của thuế, Nhà nước đã xác định đối tượng điều tiết khác nhau với các mức thuế suất và chế độ ưu đãi khác nhau.
Sự bình đẳng của chính sách thuế sẽ tạo điều kiện cho mọi thành viên trong xã hội làm ăn có hiệu quả, có năng suất cao phải được thu nhập cao hơn. Vai trò phân phối lại của thuế được 8 thực hiện thông qua việc Nhà nước sử dụng tiền thuế để sản xuất ra HHDV công phục vụ tiêu dùng chung cho toàn xã hội. Ngoài ra Nhà nước còn sử dụng một phần tiền thuế để trợ cấp, thực hiện điều hòa thu nhập xã hội. Thứ tư, ngoài những vai trò của thuế nêu trên thuế còn có vai trò là công cụ thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh: Thông qua khai báo thuế của các doanh nghiệp, thông qua công tác kiểm tra kiểm soát của cơ quan thuế, có thể kiểm tra kiểm soát và nắm được thực trạng các hoạt động SXKD của các doanh nghiệp, từ đó có thể phát hiện ra những vấn đề gian lận thương mại, trốn thuế, khai báo sai với tình hình SXKD trong thực tế, góp phần chấn chỉnh các hoạt động SXKD và nâng cao vai trò giám sát hoạt động SXKD trong xã hội của cơ quan thuế.
Thuế GTGT và thuế TNDN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế GTGT Khái niệm Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của giá trị hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. (Trích từ Điều 2 của luật số 13/2008/QH12 ban hành ngày 03/06/2008) Đặc điểm Thứ nhất, đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa được tiêu dùng, dịch vụ được sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam. Thứ hai, thuế GTGT có căn cứ tính thuế là phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ trong các khâu của quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Thứ ba, thuế GTGT có phạm vi tác động rộng, đánh vào hầu hết các HHDV được tiêu dùng trên lãnh thổ Việt Nam. Thứ tư, thuế GTGT có tính chất lũy thoái. Thứ năm, thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao. 9 Vai trò Thuế GTGT đóng vai trò rất quan trọng trong lưu thông hàng hóa và quản lý kinh tế Nhà nước, góp phần thúc đấy mạnh mẽ sự phát triển của nền kinh tế nước nhà trên thị trường quốc tế.
Cụ thể như sau : + Thuế GTGT có tác dụng điều tiết thu nhập của tổ chức, cá nhân tiêu dùng HHDV chịu thuế GTGT. + Thuế GTGT là khoản thu quan trọng của NSNN: Thuế GTGT tạo ra được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho NSNN, chiếm tỷ trọng ổn định. + Thuế GTGT không trùng lắp: Do chỉ tính dựa trên phần giá trị tăng thêm của HHDV, không tính vào phần giá trị đã chịu thuế GTGT ở các khâu trước đó. + Thuế GTGT giúp khuyến khích xuất khẩu: HHDV thông qua thuế suất 0% doanh nghiệp xuất khẩu HHDV không phải chịu thuế GTGT ở khâu xuất khẩu mà còn được hoàn toàn bộ số thuế đầu vào đã thu ở khâu trước đó nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng hóa xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế.
+ Thúc đẩy thực hiện chế độ hạch toán kế toán, sử dụng hóa đơn, chứng từ và thanh toán qua Ngân hàng: Tạo điều kiện chống thất thu thuế do việc khấu trừ thuế GTGT thực hiện căn cứ trên hóa đơn mua vào thúc đẩy DN hạch toán đầy đủ thuế GTGT đầu ra, thuế GTGT đầu vào và thực hiện tốt chế độ hóa đơn chứng từ, hạch toán kế toán. Đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế Đối tượng chịu thuế Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho SXKD và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ đối tượng không chịu thuế. Đối tượng không chịu thuế: Theo Điều 4 thông tư 219/2013/TT-BTC đã sửa đổi bổ sung theo Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC, Điều 4 Thông tư 151/2014/TT-BTC, 1 Điều 1 Thông tư 130/2016/TT-BTC, Điều 1 Thông tư 25/2018/TT-BTC có 26 nhóm hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT (xem phụ lục số 01) Đối tượng nộp thuế Tổ chức, cá nhân SXKD hàng hoá, dịch vụ chịu thuế (gọi chung là CSKD) và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế (gọi chung là người nhập khẩu) là đối tượng nộp thuế GTGT. Căn cứ và phương pháp tính thuế Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất: + Giá tính thuế: Theo điều 7 Luật thuế số 13/2008/QH12 bổ sung sửa đổi một số điều từ Luật thuế số 31/2013/QH13, hướng dẫn cụ thể tại Thông tư 219//2013/TT- BTC (xem phụ lục số 02) + Thuế suất: Theo điều 8 Luật 13/2008/QH12 và một số sửa đổi bổ sung từ Luật 31/2013/QH13 và Luật số 71/2014/QH13 (hiệu lực từ 01/01/2015) và Luật số 106/2016/QH13 (xem phụ lục số 03) Phương pháp tính thuế GTGT có hai phương pháp cụ thể như sau: Phương pháp khấu trừ + Đối tượng áp dụng: Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với CSKD thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ bao gồm: a) CSKD đang hoạt động có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ từ một tỷ đồng trở lên và thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ, trừ hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp.
b) CSKD đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, trừ hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp. 1 c) Tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu, khí nộp thuế theo phương pháp khấu trừ do bên Việt Nam kê khai khấu trừ nộp thay. + Cách tính: Số thuế GTGT = Số thuế GTGT - Số thuế GTGT đầu vào phải nộp đầu ra được khấu trừ (Trích Khoản 5, Điều 12 Thông tư 219/2013/TT-BTC) Trong đó: Số thuế GTGT đầu ra bằng tổng số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn GTGT.