chương 1 và 2. - Phương pháp nghiên cứu cau trúc va loại hình học nhằm sắp xép các nhóm, mục vào một mô hình, bảng biéu. Trong quá trình thực hiện, chúng tôi tiến hành mô hình hóa các nhóm truyện thuộc motif điệt mặt trời thành những sơ đỗ thé hiện mối quan hệ của các thành tô và sự khác biệt rõ nét của các thành tố thé hiện qua từng nhánh; bên cạnh đó, còn thé hiện sự phát triển của các thành tố trong nhánh. Phương pháp này được chúng tôi sử dụng chủ yêu ở chương 2.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành được chúng tôi áp dụng khí kết hợp các thành tựu và phương pháp của các ngảnh văn hóa học, dân tộc học. tâm lí học dé lí giải các ý nghĩa của motif diệt mặt trời. Phương pháp này được chúng tôi vận dụng chủ yếu ở chương 3 nhằm áp dung các thành tựu của văn hóa học, dan tộc học vào lí giải ý nghĩa của mặt trời trong tâm thức người Việt và vận dụng lí thuyết tâm lí của Jung đề lí giải cho một số biểu tượng xuất hiện trong truyện. lá - Phương pháp so sánh được chúng tôi sử dụng đẻ chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa thần thoại của các dân tộc ít người ở Việt Nam và thần thoại trên thế giới.
Phương pháp này được chúng tôi vận dụng chủ yếu ở chương 3. Cấu trúc của khóa luận tốt nghiệp Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYET VÀ THỰC TIEN CUA DE TAI Ở chương nay, chúng tôi khái quát về những lí thuyết nền tảng nhất là cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu dé tài, bao gôm li thuyét vé motif, khai niém than thoai va li thuyét vé biéu tugng. Chương 2: CẤU TAO MOTIF DIET MAT TRỜI Ở chương nay, chúng tôi tién hành chi ra mô hình chung cia motif diét mặt trời cũng như phân loại nó ra thành các nhóm dé thấy rõ kết cau và các dạng biểu hiện cụ thể của motif. Chương 3: NHỮNG Ý NGHĨA VE MAT VAN HỌC VÀ VĂN HÓA Ở chương này, chúng tôi tiền hành phân tích, diễn giải ý nghĩa của motif diệt mặt trời trong văn học (cấu trúc truyện, cách xây dựng nhân vật) và ý nghĩa biểu tượng của motif trong tâm thức của con người.
15 CHUONG 1: CO SO LY THUYET VA THUC TIEN CUA DE TAI 1. Nghiên cứu motif trong truyện dân gian 1. Lịch sử hình thành và phát triển Trên thé giới, van dé tiếp cận tác phẩm văn học dan gian dưới góc độ type va motif đã được tìm hiểu và nghiên cứu khá sớm. Julius Leopold Fredrik Krohn và Kaarle Krohn là hai nhà nghiên cứu đã khởi xướng một trường phái nghiên cứu folklore là trường phái Phần Lan.
Trường phái này được Antti Aarne - học trò của hai ông - tiếp tục nghiên cứu và đạt được những thành tựu nhất định trong đó là công bố nguyên tắc lý thuyết đưới tác động của phương pháp nảy và lay đó làm cơ sở nhằm thực hiện công việc sưu tầm các di bản của những truyện kê dân gian Phần Lan và Châu Âu, lập bảng tra cứu, cudi cùng la xác định niên đại va định vị các hình thức nguyên bản cô nhất của truyện ké dân gian ấy. Đặc biệt thì sau đó, Stith Thompson đã kế thừa va phát triển bảng tra cứu của Antti Aarne, tạo ra Từ điền A -T, nhằm hỗ trợ cho các nhà nghiên cứu Văn học dân gian trên thé giới làm công cụ dé tìm hiểu truyện kê dân gian của nước minh. Vladimir la Propp là một chuyên gia nghiên cứu folklore và có nhiều ảnh hưởng đến phương pháp tiếp cận truyện kê dân gian dưới góc độ type và motif sau nay. Nam 1928, với công trình Hình thái học của truyện cô tích than kì, Propp đã giúp cho các nhà nghiên cứu trên thé giới có những định hướng nhất định trong việc nghiên cứu thé loại tự sự dân gian.
Đó là cách nghiên cứu “khong chi miêu tả những phương thức thi pháp thuần túy mà còn giải thích bản chất thẻ loại của truyện cô tích và để sau đó tìm cách lý giải có tính lịch sử về sự độc đáo của truyện cô tích, nghĩa là theo công việc chỉ ra hình thái cấu trúc của một thẻ loại văn học dân gian là giai đoạn đầu hết sức cần thiết dé trên cơ sở đó giải thích cội nguồn lịch sử của nó” (La Mai Thi Gia 2018: 75) Bên cạnh đó, vào những năm đầu của thé ki XX nhà ngữ văn học người Nga A.Veselovski đã dé xuất phương pháp nghiên cứu folklore theo hướng thi pháp học lịch sử. Nghiên cứu thi pháp học lịch sử folklore là nghiên cứu bản thân “cái cầu trúc bên trong của tác phẩm folklore, nghiên cứu nghệ thuật ngôn từ của folklore, nghiên cứu văn hóa. Thị pháp lịch sử “xem folklore như là một bộ phận của dân tộc học và muốn nghiên cứu folklore phải dựa vào dan tộc học, từ hướng nghiên cứu ay có thẻ thay được sự biêu hiện của folklore đối với thực tai” (La Mai Thi Gia 2018: 64) Van dụng lí thuyết của trường phái Phan Lan, lí thuyết cau trúc của V.Propp và lí thuyết của trường phái thi pháp học lịch sử đại điện là A.Veselovski đã giúp cho 16 các nhà nghiên cứu xác định được tên gọi, cầu tạo và so sánh sự giỏng và khác nhau của type và motif của truyện kế dân gian; đồng thời còn giúp các nhà nghiên cứu so sánh lype và motif của truyện kể dân gian đến với bình điện rộng va sâu sắc hơn trong cả nguồn gốc sản sinh và quá trình biến đôi một cách trọn vẹn. Ở Việt Nam, van dé nghiên cứu truyện kế dan gian đưới góc độ type và motif bắt đầu tương đối muộn.
Tuy bắt đầu nghiên cứu muộn như thế nhưng bằng sự vận dụng trường phái lý thuyết cũng như các công trình trên thế giới và sáng tạo ra cái mới mà các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đạt được nhiều thành tựu đáng chú ý như: hình thành được các bộ sưu tập truyện kê: các bang tra cứu type và motif của truyện kẻ; các công trình nghiên cứu thẻ loại (loại hình) và các công trình khảo cứu về mặt lịch sử văn hóa mà truyện kê mang lại. Hiện nay van đề nghiên cứu so sánh type và motif của truyện kế Việt Nam đối sánh với type và motif ở một số quốc gia khác cũng được nhiều nhà nghiên cứu chủ ý. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có thé nói đến tác giả Kiều Thu Hoạch, Lê Chí Qué, Nguyễn Tan Đắc. Kiều Thu Hoạch có 2 bài nghiên cứu là Sơ bộ tìm hiểu kiểu truyện Tấm Cám ở Trung Quốc, So sánh tip truyện Trâu cau ở Trung Quốc va tip truyện cùng loại ở Việt Nam va Campuchia, bàn về tục ăn trầu và văn hóa quyền trau cau Đông Nam A; Nguyễn Bich Hà trong chuyên khảo Thạch sanh và kiểu truyện diing sĩ trong truyện có tích Việt Nam và Đông Nam A; Nguyễn Tan Đắc, năm 2001, đã có một tuyển tập các bài nghiên cứu truyện dân gian Việt Nam và Đông Nam A có tên Truyén kể dan gian đọc bằng type và motif.
Những bài nghiên cứu này đã cung cấp những nhận xét thú vị, có ý nghĩa quan trọng làm tiền dé cho các nhà nghiên cứu sau này. Thứ ba, các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đã dựa theo phương pháp nghiên cứu folklore theo hướng thi pháp học lịch sử của A.Veselovski dé đi sâu vào nghiên cứu cội nguồn lịch sử, văn hóa của các motif. Hướng nghiên cứu này đã giúp các nhà nghiên cứu Việt Nam vạch ra những hướng đi mới cho việc lí giải các motif có liên quan đến van dé dân tộc, nguồn góc, lịch sử, văn hóa. Đại điện cho hướng nghiên cứu này có thê kẻ đến Nguyễn Thị Huế khi nghiên cứu Nhân vật xấu xí mà tài ba trong truyện co tích Việt Nam đã đưa ra nhiều lí giái về nguồn gốc, phong tục của người mang lốt, Bùi Thi Hạnh trong nghiên cứu Motif li tán trong than thoại và truyền thuyết các dan tộc người thiểu số ở Việt Nam, Motif thách cưới trong truyện cỗ tích các dân tộc; Motif thi tài trong truyện cỗ tích của dân tộc Kinh; Khảo sát mô tip hóa thân — hiển linh trong 25 gia, ma còn mang tính quốc tế.
Giải mã một biểu tượng không chi là giải mã tư duy của nhóm, cộng đồng người trong một khu vực nhỏ, mà còn là vô thức tập thê loài. Thần thoại mặt trời và motif diệt mặt trời 1. Thuật ngữ thần thoại Thuật ngữ thần thoại (myth) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cỗ là Mythos. Thời cô đại, mythos thường được dùng dé chi những chuyện hoang đường trong dân gian.
Herodote cho mythos là những truyện lan truyền nhưng không rõ xác minh, không rõ thực hư. Từ điện thuật ngữ văn học của Abrams giải thích: “Trong tiếng Hy Lạp cô. “mythos” có nghĩa là một câu chuyện (story) hoặc một cốt ké (plot) nào đó, có thật hoặc được sáng tạo ra. Tuy nhiên, theo nghĩa hiện nay, than thoại là truyện kể trong hệ than thoại (mythology) — một hệ thống những truyện ké bắt nguồn từ thời cô đại được truyền lại ngày nay mà trước đây được tin là có thật bởi một nên văn hóa cụ thé.
Thần thoại hướng tới giải thích nguôn gốc thé giới va sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng từ ý muốn hoặc hành động của các vị than va sự ton tại của những thé lực siêu nhiên khác, thiết lập nên nên tảng của các phong tục xã hội, các nghỉ lễ, củng cô sự xác nhận những quy ta ma nhờ chúng con người kiểm soát cuộc sông của chính minh.Rarrer trong cuốn “Van hóa nguyên thay” thì thần thoại là truyện kể về những sự khởi đầu mang tính chất văn hóa va tôn giáo”, “chi những sự khởi đầu, theo một nghĩa thiêng liêng.” (Tylor 2001: 214) William Bascom (1957) coi than thoại la một hình thức của truyện kê văn xuôi được các thành viên của xã hội có nên văn hóa chứa đựng huyền thoại đó tin là thật, Bascom xác nhận mặc du có ít thần thoại hơn truyện cô tích và truyền thuyết, nhưng thần thoại được xem là có tâm quan trọng vượt lên trên con số của chúng ở chỗ chúng thiêng liêng và cung cấp lí do căn bản cho sự tồn tại va cách làm việc trong nền văn hóa đó. Tóm lại, là thần thoại có chức năng giải thích căn nguyên. Trong cuốn “Từ điển thần thoại” của N.Rocher, Pierre Brunel (1988) đã tổng kết ba thành phan mà ông gọi là ba chức nang có ý nghĩa xác định than thoại, đó là: 26 (1), Thần thoại — truyện kê: Thần thoại là câu chuyện mà sức mạnh nằm ở chỗ nó được nhìn nhận, được tin tưởng một các sâu sắc như là thực.