CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VAN DE LY THUYET VE THUE GIA TRI GIA TANG 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ngoài nước Yue Mei Guo, Run Yui Shi (2020) cho rằng việc giảm thuế giá trị gia tăng là một công cụ quan trọng để tạo động lực mới cho phat triển kinh tế và nó đã có tác động đáng ké đến áp lực tài chính địa phương. Lấy vi dụ về việc giảm thuế suất thuế GTGT năm 2018 — 2019 ở Trung Quốc, bài viết này sử dụng mô hình CGE dé ước tính tác động của chính sách giảm thuế GTGT đối với áp lực tài chính địa phương ở Trung Quốc do đại dịch COVID-19.
Kết quả cho thấy áp lực tai chính địa phương tăng từ 0,342 lên 0,435, tức là tăng 27,08%. Nghiên cứu đưa ra các hàm ý chính sách về tối ưu hóa cấu trúc thuế và giảm bớt áp lực tài khóa địa phương. [12] Xinyu Liu (2022) nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết tại Trung Quốc và tác động của chính sách giảm thuế GTGT đối với các doanh nghiệp trong đại địch COVID-19. Tác giả đã chỉ ra rằng tác động của COVID-19 đối với doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) là khác nhau.
Ngoài ra, các thuận lợi mà DNNN va DNNQD thu được thông qua chính sách giảm thuế GTGT cũng không giống nhau. COVID-19 ảnh hưởng xấu đến các công ty niêm yết của Trung Quốc nhưng DNNN chịu thiệt hại ít hơn DNNQD do có sự trợ giúp từ bên ngoai cua Chính phủ. Chính sách giảm thuế GTGT giúp doanh nghiệp tăng hiệu quả hoạt động và DNNQD được hưởng lợi nhiều hơn so với DNNN từ chính sách này. Bên cạnh đó, DNNQD có xu hướng ưu thích đầu tư vào tài sản cố định hơn DNNN.
Trong một số ngành mà DNNN độc quyền kinh doanh, họ thường có hiệu quả hoạt động xuất sắc hơn nhiều so với DNNQD. [13] Ida I Dewa Ayu Manik SASTRI & cộng sự (2021) với nghiên cứu về vai trò của ưu đãi thuế trong thời kỳ dai địch Covid-19 và ôn định tăng trưởng kinh tế bền vững. Cụ thể, Chính phủ Indonesia đã ban hành quy định số 23, 44, 86, 110 và 143 về ưu đãi thuế cho người nộp thuế bị ảnh hưởng bởi đại dịch vi-rút corona 19. Trong tông số 68.101 người nộp thuế tại Tổng cục Thuế ở Bali, chỉ có 16.624 người được hưởng ưu đãi thuế, vì vậy cơ quan này phải làm rõ tại sao người nộp thuế không tận dụng tối ưu các ưu đãi thuế để kích thích tăng trưởng kinh tế.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các ưu đãi thuế mà người nộp thuế sử dụng đã kích thích tăng trưởng kinh tế, nhưng có những người nộp thuế không tận dụng được các ưu đãi thuế do thủ tục phức tạp và một số người không nhận được thông tin về các ưu đãi. Chính vì vậy, Tổng cục Thuế cần đơn giản hóa thủ tục và xã hội hóa rộng rãi hon. [15] Dian Widiyati & cộng sự (2021) với nghiên cứu về vai trò của kế toán công trong phòng chống gian lận và phát hiện gian lận trong ngành Thuế giai đoạn Covid-19. Hiện nay, tại Indonesia đã có nhiều trường hợp trốn thuế.
Chính phủ đã có phản ứng nhanh chóng thông qua các nới lỏng thuế khác nhau cho 22 sản phẩm hợp pháp. Một trong những điều đang được nghiên cứu là những thay đổi trong chính sách thuế GTGT. Các ưu đãi về thuế được ban hành trong đại dịch COVID-19 có khả năng bị lạm dụng vì vậy vai trò của Kế toán công trong việc ngăn chặn và phát hiện gian lận trong lĩnh vực thuế có thể được phát huy tối da nếu Kế toán công thực hiện đầy đủ các thủ tục theo chuẩn mực kiểm toán hiện hành. Kế toán công can tăng cường tính độc lập của mỗi cá nhân, trong khi đối với cơ quan thuế, cần thực hiện Chương trình giáo đục thường xuyên (Personal and Professional Learning — PPL) về kế toán theo các điều kiện kế toán hiện hành.
[17] Funke & cộng sự (2022) với nghiên cứu “Có phải việc cắt giảm thuế suất thuế GTGT tạm thời của Đức là một phần của gói kích thích tài khóa COVID- 19 dé thúc day tăng trưởng?”. Chính phủ Đức đã công bồ gói kích thích tài khóa trị giá 130 tỷ EUR nhằm kích thích nhu cầu thị trường và khởi động lại nền kinh tế sau đợt phong tỏa do đại dịch COVID-19 vào mùa xuân năm 2020. Biện pháp nồi bật nhất của chính sách này việc cắt giảm thuế suất thuế GTGT tạm thời trong sáu tháng, từ ngày 1 tháng 7 đến ngày 31 tháng 12 năm 2020. Sử dụng mô hình cân bằng động ngẫu nhiên tổng quát (Dynamic Stochastic General Equilibrium — DSGE), nhóm tác giả nghiên cứu hiệu quả của việc cắt giảm thuế suất thuế GTGT nhằm giảm bớt hậu quả của đại dịch suy thoái.
Mô phỏng của mô hình DSGE đã hiệu chỉnh mang lại mức tăng GDP thực tế khi áp dụng chính sách thuế khoảng 0,3 điểm phan trăm vào năm 2020. Các nghiên cứu trong nước Nguyễn Thị Hương (2022), nghiên cứu này sử dụng mô hình cân bằng tổng thé dạng động (DCGE) dé mô phỏng tác động của việc giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) từ 10% xuống 8% theo Nghị định số 15/2022/NĐ-CP của Chính phủ đến sự thay đổi các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Kết quả nghiên cứu cho thay việc giảm thuế suất thuế GTGT từ 10% xuống 8% làm cho nguồn thu thuế vào NSNN giảm trong ngăn hạn, tuy nhiên trong dai hạn việc giảm thuế suất thuế GTGT ảnh hưởng đến hệ thống giá của hàng hóa, tác động tích cực đến sản xuất. Chính phủ sẽ đạt được mục tiêu khôi phục nên kinh tế sau ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19.
[4] Nguyễn Thị Mai Chi (2020) với nghiên cứu “Doanh nghiệp siêu nhỏ Việt Nam trong dịch Covid-19”. Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có quy mô hoạt động rất nhỏ, hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh doanh như thương mại, dịch vu, vận tải, xây dựng. Số doanh nghiệp này rất đông đảo, phân bố rộng khắp trên địa ban, và đóng góp đáng ké cho nền kinh tế. Tuy nhiên với số von ít, quy mô nhỏ nên doanh nghiệp siêu nhỏ dễ bị ảnh hưởng trước những biến động của nền kinh tế.
Dai dịch Covid-19 đã và đang ảnh hưởng nặng nề đến toàn bộ nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp siêu nhỏ, nhiều doanh nghiệp siêu nhỏ phải tạm dừng hoạt động, đóng cửa trong khoảng thời gian dài. Trong khi không có doanh thu nhưng van phát sinh chi phí khiến doanh nghiệp siêu nhỏ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Vì vậy, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp kip thời. Các gói hỗ trợ đã được triển khai, nhưng trên thực tẾ, tại các doanh nghiệp siêu nhỏ vẫn tồn tại nhiều khó khăn, thách thức.
Đề các gói hỗ trợ thiết thực đến được đúng đối tượng, tác giả đã đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả chính sách, hỗ trợ doanh nghiệp siêu nhỏ trong việc duy trì, ồn định và phát triển sản xuất, kinh doanh. Những van đề lý thuyết về thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm về thuế giá trị gia tăng Khái niệm về thuế giá tri gia tăng (GTGT) không được rộng rãi biết đến ngoài Pháp và một số tài liệu chuyên ngành cách đây gần 70 năm. Ngày nay nếu tinh theo tỷ lệ phần trăm của tổng doanh thu thuế toàn cầu, thuế giá tri gia tăng đã tăng một cách đáng kể, từ mức dưới 5% vào những năm 1960 lên đến đỉnh điểm gần 20,2% vào năm 2016 và ảnh hưởng đến khoảng 8 tỷ người dân [3].
Thuế giá trị gia tăng đã được áp dụng rộng rãi và trở thành trọng tâm của cải cách thuế ở nhiều quốc gia đang phát triển. Sự lan rộng của thuế GTGT đã va dang là một trong những tiến bộ đáng kể nhất trong chính sách và quản lý thuế trong những thập kỷ gần đây. Thuế gia tri gia tang (Tiéng Anh là Value Added Tax - VAT) là một loại thuế chung áp dụng cho tat cả các hoạt động thương mại liên quan đến sản xuất, phân phối hàng hóa và cung cấp dich vụ, được tính bằng cách cộng dồn tất cả các chi phí liên quan đến sản xuất và phân phối hang hóa hoặc dich vụ, trừ di sô tiên doanh nghiệp có thê nhận lại trong quá trình sản xuât cho nguôn đâu vào: các nguyên liệu, hàng hóa và dịch vụ được mua vào dé sản xuất ra thành phẩm. Theo định nghĩa trên, thuế GTGT được coi là một loại thuế gián thu.
Trên thực tế, những người phải nộp thuế thường là nhà sản xuất, nhà cung cấp dich vụ, nhưng người thực sự chịu thuế lại là người tiêu dùng sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ, vì số tiền thuế đã nộp sẽ được tính vào giá sản phẩm hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng phải trả. Điều này khiến số tiền thuế GTGT thu lại càng lớn khi có nhiều hàng hoá hoặc dịch vụ được cung cấp, tạo nguồn thu NSNN đồi dào. Đồng thời, loại thuế này còn giúp điều tiết tiêu dùng trong xã hội và hạn chế tình trạng trốn thuế từ phía nhà sản xuất, doanh nghiệp, vì họ là những đối tượng dé quan lý trong lĩnh vực thuế. Sự can thiết trong việc áp dụng thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT không chỉ là một trong những sắc thuế quan trọng mà còn góp phần hoàn thiện chính sách thuế nước ta.
Chính sách thuế là tông thé các quan điểm, chủ trương, giải pháp được cụ thé hóa bằng các quy định trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thuế, được sử dụng làm căn cứ dé thực hiện hoạt động quản lý Nhà nước về thuế. [10] Dựa trên cách hiểu về thuế GTGT nêu trên, chính sách thuế được thé hiện cụ thé thông qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về từng loại thuế và quản lý thuế như sau: - Luật thuế do Quốc hội ban hành va có thâm quyền cao nhất, thiết lập các nguyên tắc và quy tắc thuế chung. 10 - _ Nghị định do Chính phủ ban hành để quy định chi tiết, cụ thé hóa các quy định trong Luật thuế và có hiệu lực pháp lý cao thứ hai. - Cac Thông tư do Bộ Tài chính ban hành dé hướng dẫn thi hành các Luật thuế và Nghị định.
Thông tư có thâm quyên thấp nhất trong ba loại văn bản. Với cấu trúc trên, Luật là cấp cao nhất, tiếp theo là Nghị định và sau đó là Thông tư, định hình hệ thống chính sách thuế toàn diện của Việt Nam và chỉ phối tat cả các van đề về thuế trong nước.