Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam đang trải qua quá trình già hóa dân số với tốc độ thuộc hàng nhanh nhất thế giới, đứng thứ 1 tại châu Á và thứ 7 trên toàn cầu. Số lượng người từ 60 tuổi trở lên đã tăng gần gấp đôi từ 5,6 triệu người năm 1990 lên xấp xỉ 9,7 triệu người năm 2015 và dự báo sẽ tăng gấp 3 lần trong 20 năm tiếp theo. Đáng chú ý, khoảng 73% người cao tuổi tại Việt Nam không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội, buộc họ phải tiếp tục lao động hoặc phụ thuộc tài chính vào con cái. Áp lực an sinh ngày càng gia tăng khi tỷ lệ người đóng trên người hưởng lương hưu sụt giảm nghiêm trọng từ mức 217:1 năm 1996 xuống còn 8,1:1 năm 2015, đe dọa trực tiếp đến tính bền vững của quỹ hưu trí quốc gia.

Nhằm đa dạng hóa hệ thống an sinh theo mô hình đa trụ cột, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 115/2013/TT-BTC tạo hành lang pháp lý cho bảo hiểm hưu trí tự nguyện. Tuy nhiên, sau hơn 3 năm triển khai, kết quả thị trường ghi nhận rất khiêm tốn: doanh thu phí bảo hiểm hưu trí năm 2015 chỉ đạt khoảng 279 tỷ đồng với 20.000 khách hàng, chiếm chưa đầy 2% tổng doanh thu phí khai thác mới của toàn ngành bảo hiểm nhân thọ. Luận văn tập trung phân tích các rào cản pháp lý cốt lõi kìm hãm sự phát triển của sản phẩm, trọng tâm là quyền hủy hợp đồng, quyền rút tiền trước hạn của khách hàng và chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cũng như thuế thu nhập cá nhân trong giai đoạn 2013 - 2017. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc hoàn thiện thể chế tài chính, bảo vệ quyền lợi người mua bảo hiểm và giảm tải gánh nặng an sinh xã hội cho ngân sách nhà nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thuyết tự do hợp đồng (Freedom of Contract) được quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 và Hiến pháp 2013, khẳng định quyền tự do thỏa thuận, sửa đổi, tạm dừng và chấm dứt cam kết dân sự của các chủ thể. Luận văn áp dụng học thuyết hoàn cảnh thay đổi cơ bản (Hardship doctrine) theo Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015 và Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế để xem xét quyền định đoạt hợp đồng khi điều kiện kinh tế của người mua bảo hiểm biến động ngoài dự liệu.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp mô hình hệ thống an sinh xã hội đa trụ cột của Ngân hàng Thế giới (World Bank Multi-pillar Pension System), trong đó bảo hiểm hưu trí tự nguyện đóng vai trò là trụ cột thứ ba nhằm bù đắp mức trần lương hưu của hệ thống công (vốn bị khống chế ở mức 75% của 20 tháng lương cơ sở, tương đương khoảng 21 triệu đồng). Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm: quyền lợi có thể được bảo hiểm (Insurable Interest), nguyên tắc trung thực tuyệt đối (Utmost Good Faith), giá trị giải ước (Surrender Value) và kế hoạch đóng phí xác định (Defined Contribution - DC).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2001 - 2016 từ Cục Quản lý và Giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính), Tổng cục Thống kê, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Ngân hàng Thế giới và tài liệu thực tế từ các doanh nghiệp bảo hiểm lớn tại Việt Nam như Prudential và Cathay Life.

Phương pháp luật học so sánh được lựa chọn làm phương pháp chủ đạo, đối chiếu quy định pháp lý của Việt Nam với khung pháp luật tại 6 quốc gia và vùng lãnh thổ đại diện cho các châu lục và nền kinh tế phát triển (Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Vương quốc Anh, Thụy Sĩ và Kenya). Cỡ mẫu khảo sát bao gồm toàn bộ 6 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đang cung cấp sản phẩm hưu trí tại Việt Nam cùng biểu mẫu điều khoản hợp đồng thực tế. Phương pháp phân tích quy phạm kết hợp lý thuyết chi phí giao dịch (Transaction Cost Theory) giúp đánh giá khách quan các hạn chế pháp lý hiện hành tác động đến tâm lý tiêu dùng và hiệu quả kinh doanh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, thị trường bảo hiểm hưu trí tự nguyện rơi vào tình trạng đóng băng tương đối so với đà tăng trưởng chung của ngành bảo hiểm. Trong 9 tháng đầu năm 2016, tổng doanh thu phí khai thác mới của thị trường bảo hiểm nhân thọ đạt trên 11.466 tỷ đồng (tăng trưởng gần 30%), nhưng tỷ trọng phí bảo hiểm hưu trí lại sụt giảm xuống dưới 1%, thấp hơn mức 2% của năm 2015.

Thứ hai, Thông tư số 115/2013/TT-BTC áp đặt các điều kiện quá cứng nhắc, tước bỏ quyền chấm dứt hợp đồng để nhận giá trị giải ước của khách hàng – một quyền dân sự cơ bản được bảo đảm trong Luật Kinh doanh Bảo hiểm và Bộ luật Dân sự. Khách hàng chỉ được tạm đóng tài khoản hưu trí mà không được rút tiền, ngoại trừ 3 trường hợp ngặt nghèo: suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, mắc bệnh hiểm nghèo theo quy định hoặc được phép định cư hợp pháp tại nước ngoài.

Thứ ba, chính sách ưu đãi thuế thiếu tính cạnh tranh và chưa công bằng. Mức khống chế chi phí mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ dừng lại ở mức 1.000.000 đồng/người/tháng theo Nghị định số 218/2013/NĐ-CP. Mức này thấp hơn rất nhiều so với đề xuất ưu đãi của chương trình hưu trí bổ sung (được đề xuất mức khấu trừ 5,26 triệu đồng/người/tháng hoặc miễn thuế toàn bộ), gây bất lợi lớn cho sản phẩm của khối doanh nghiệp bảo hiểm thương mại.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại trong việc mở rộng quy mô sản phẩm là sự can thiệp hành chính thiếu linh hoạt, triệt tiêu tính thanh khoản của dòng vốn tích lũy cá nhân. Khi người tiêu dùng so sánh với sản phẩm liên kết chung (Universal Life) hay liên kết đơn vị (Unit Link) – những sản phẩm cho phép rút tiền linh hoạt và nhận giá trị giải ước sau 24 tháng – bảo hiểm hưu trí trở nên kém hấp dẫn rõ rệt.

Dữ liệu nghiên cứu khi đối chiếu qua bảng so sánh quốc tế cho thấy sự khác biệt rõ nét: Luật Bảo hiểm Đài Loan (Điều 119) quy định doanh nghiệp bảo hiểm phải chi trả giá trị giải ước không thấp hơn 75% giá trị hợp đồng trong vòng 1 tháng kể từ khi nhận yêu cầu chấm dứt; thị trường Singapore và Hồng Kông đều cho phép khách hàng hủy hợp đồng nhận giá trị tiền mặt sau 2 năm đầu tiên. Tại Vương quốc Anh, cơ quan quản lý chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm nhằm tối ưu hóa sự đa dạng sản phẩm. Biểu đồ cơ cấu dân số và biểu đồ tỷ lệ đóng/hưởng lương hưu được phân tích trong nghiên cứu minh chứng rằng mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội không thể đạt được bằng cách trói buộc quyền định đoạt tài sản của khách hàng, mà phải đến từ việc thiết kế các công cụ tài chính minh bạch, linh hoạt và hấp dẫn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Bộ Tài chính cần sửa đổi khẩn cấp Thông tư số 115/2013/TT-BTC trước quý 4/2018, chính thức công nhận quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và nhận giá trị hoàn lại của bên mua bảo hiểm sau 24 tháng tham gia đóng phí, hướng tới mục tiêu nâng tỷ trọng sản phẩm hưu trí lên mức 5% tổng doanh thu khai thác mới vào năm 2020.

Thứ hai, mở rộng phạm vi quyền rút tiền trước hạn từ tài khoản hưu trí. Cơ quan soạn thảo cần bổ sung quy định cho phép người tham gia rút một phần (tối thiểu 50% giá trị tài khoản tích lũy) để phục vụ các nhu cầu tài chính khẩn cấp ngoài 3 trường hợp ngặt nghèo hiện tại, qua đó giảm tỷ lệ e ngại tâm lý của khách hàng và hạ tỷ lệ khiếu nại phát sinh xuống dưới 2%.

Thứ ba, Chính phủ và Bộ Tài chính cần điều chỉnh Nghị định số 218/2013/NĐ-CP về thuế thu nhập doanh nghiệp và các thông tư hướng dẫn thuế thu nhập cá nhân. Cụ thể, nâng mức trần chi phí đóng bảo hiểm hưu trí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp từ 1.000.000 đồng/người/tháng lên mức 3.000.000 đến 5.000.000 đồng/người/tháng giai đoạn 2018 - 2022 nhằm tạo động lực tài chính mạnh mẽ cho các doanh nghiệp mua bảo hiểm phúc lợi cho người lao động.

Thứ tư, Bộ Tài chính phối hợp cùng Bộ Công Thương ban hành quy chế phối hợp liên ngành nhằm tinh giản thủ tục phê chuẩn quy tắc, điều khoản sản phẩm bảo hiểm hưu trí mẫu từ thời gian xử lý kéo dài hơn 6 tháng xuống còn dưới 30 ngày làm việc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước (Cục Quản lý và Giám sát Bảo hiểm - Bộ Tài chính, Vụ Bảo hiểm Xã hội - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội). Luận văn cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn để hoàn thiện khung thể chế, sửa đổi các thông tư chuyên ngành và xây dựng chính sách thuế bình đẳng cho các trụ cột an sinh.

Nhóm 2: Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ (Khối Pháp chế, Định phí Actuary và Phát triển Sản phẩm). Các công ty bảo hiểm có thể tham khảo cấu trúc hợp đồng quốc tế (Singapore, Hồng Kông, Đài Loan) để cải tiến điều khoản hợp đồng linh hoạt, cân bằng giữa bài toán thanh khoản và bảo toàn nguồn vốn dài hạn cho khách hàng.

Nhóm 3: Lãnh đạo doanh nghiệp và Giám đốc Nhân sự (HRD). Nghiên cứu cung cấp góc nhìn toàn diện về việc ứng dụng bảo hiểm hưu trí nhóm như một công cụ đãi ngộ, giữ chân nhân tài then chốt và tối ưu hóa chi phí thuế doanh nghiệp hợp pháp trong giới hạn quy định.

Nhóm 4: Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự và Tài chính - Bảo hiểm. Đây là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luật học so sánh, nguyên lý tự do hợp đồng và mô hình an sinh xã hội hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao sản phẩm bảo hiểm hưu trí tự nguyện tại Việt Nam kém thu hút hơn các dòng sản phẩm liên kết đầu tư? Do Thông tư số 115/2013/TT-BTC quy định cấu trúc sản phẩm quá cứng nhắc, người tham gia không được rút tiền linh hoạt hay hủy hợp đồng lấy lại tiền mặt, trong khi các sản phẩm liên kết đầu tư cho phép rút tiền sau 2 năm và nắm giữ tỷ trọng chi phối trên 50% doanh thu thị trường.

Khách hàng tham gia bảo hiểm hưu trí có quyền đơn phương hủy bỏ hợp đồng để nhận giá trị giải ước không? Theo quy định tại Thông tư 115/2013/TT-BTC, khách hàng không được quyền hủy hợp đồng để nhận giá trị giải ước mà chỉ được tạm đóng tài khoản. Luận văn đã chỉ ra quy định này xung đột với nguyên tắc tự do hợp đồng của Bộ luật Dân sự và Luật Kinh doanh Bảo hiểm.

Ba trường hợp duy nhất được rút tiền trước hạn từ tài khoản bảo hiểm hưu trí là gì? Người tham gia bảo hiểm chỉ được rút tiền trước hạn khi: suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, mắc bệnh hiểm nghèo theo danh mục luật định, hoặc là công dân Việt Nam được cơ quan có thẩm quyền cho phép xuất cảnh định cư hợp pháp tại nước ngoài.

Mức ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp hiện tại khi mua bảo hiểm hưu trí cho người lao động là bao nhiêu? Theo Nghị định số 218/2013/NĐ-CP, doanh nghiệp chỉ được tính vào chi phí hợp lý được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN tối đa 1.000.000 đồng/người/tháng cho khoản chi đóng bảo hiểm hưu trí tự nguyện, một con số còn khá thấp so với kỳ vọng giữ chân lao động.

Kinh nghiệm quốc tế xử lý quyền hủy hợp đồng bảo hiểm hưu trí như thế nào? Các thị trường như Đài Loan (Điều 119 Luật Bảo hiểm), Singapore hay Anh đều cho phép người mua bảo hiểm chấm dứt hợp đồng sau thời gian tối thiểu (thường là 24 tháng) và nhận lại giá trị giải ước tương ứng sau khi trừ chi phí quản lý hợp lý.

Kết luận

  • Già hóa dân số nhanh chóng với tỷ lệ người đóng/hưởng giảm còn 8,1:1 năm 2015 đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát triển mạnh mẽ trụ cột bảo hiểm hưu trí tự nguyện.
  • Các rào cản pháp lý tại Thông tư số 115/2013/TT-BTC về cấm hủy hợp đồng và hạn chế rút tiền trước hạn đã vi phạm nguyên tắc tự do hợp đồng, khiến doanh thu sản phẩm chiếm chưa đầy 2% thị trường.
  • Mức khống chế ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 1.000.000 đồng/người/tháng chưa tạo đủ sức hút tài chính cho cả người sử dụng lao động và người lao động.
  • Kinh nghiệm thực tiễn từ Đài Loan, Singapore và Anh khẳng định tính thanh khoản và quyền chấm dứt hợp đồng không làm suy giảm mục tiêu an sinh xã hội dài hạn.
  • Hoàn thiện thể chế pháp lý bảo hiểm và đồng bộ chính sách thuế là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy thị trường hưu trí phát triển bền vững trước nguy cơ mất cân đối quỹ bảo hiểm xã hội vào năm 2034.

Luận văn đã đóng góp hệ thống luận cứ pháp lý và thực tiễn vững chắc, mở đường cho các đề xuất sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn 2018 - 2020. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp bảo hiểm và nhà nghiên cứu cần đẩy mạnh phối hợp để sớm hiện thực hóa các khuyến nghị cải cách này.