Tổng quan nghiên cứu

Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc giữ vị trí trọng yếu trong việc củng cố lưới an sinh xã hội và bảo đảm quyền lợi lâu dài cho lực lượng lao động. Tại thành phố Sông Công, một trung tâm phát triển công nghiệp trọng điểm của tỉnh Thái Nguyên, công tác này ghi nhận quy mô mở rộng rõ rệt khi đạt 21.174 lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc vào năm 2023. Tuy nhiên, giai đoạn 2021-2023 chứng kiến nhiều biến động phức tạp do tác động suy thoái kinh tế sau đại dịch, khiến tình trạng nợ đọng, chậm đóng và trốn đóng bảo hiểm xã hội diễn ra phổ biến tại nhiều doanh nghiệp. Điển hình trong đó có đơn vị phát sinh nợ dây dưa kéo dài từ năm 2018 với số tiền lũy kế vượt hơn 2,7 tỷ đồng, xâm phạm trực tiếp đến quyền thụ hưởng chế độ ốm đau, thai sản và hưu trí của người lao động.

Nghiên cứu được triển khai nhằm phân tích toàn diện thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố Sông Công. Mục tiêu trọng tâm là đánh giá mức độ hoàn thành chỉ tiêu thu, xác định các nút thắt trong quy trình đôn đốc thu nợ và kiểm soát biến động lao động. Phạm vi không gian giới hạn trên địa bàn thành phố Sông Công với chuỗi dữ liệu thứ cấp từ năm 2021 đến năm 2023, kết hợp dữ liệu điều tra sơ cấp tiến hành trong năm 2023. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn to lớn thông qua việc cung cấp hệ thống chỉ số đo lường hiệu quả quản lý, tỷ lệ hoàn thành dự toán thu và tỷ lệ nợ đọng, hỗ trợ cơ quan chuyên trách nâng cao tỷ lệ thu đúng, thu đủ và bảo vệ quyền an sinh cho hơn 21.000 người lao động địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết an sinh xã hội hiện đại kết hợp lý thuyết quản lý tài chính công và mô hình tuân thủ quy định pháp luật. Theo đó, bảo hiểm xã hội bắt buộc là chính sách an sinh do Nhà nước tổ chức, vận hành dựa trên nguyên tắc chia sẻ rủi ro và đóng - hưởng. Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc được xác định là quá trình các cơ quan có thẩm quyền sử dụng công cụ hành chính, kinh tế và pháp lý nhằm bảo đảm dòng tiền đóng nộp đúng thời hạn, đủ đối tượng và chính xác về mức trích. Tổng mức trích nộp theo quy định hiện hành chiếm 32% quỹ tiền lương tháng, trong đó người sử dụng lao động đóng 21,5% và người lao động đóng 10,5% để phân bổ vào ba quỹ thành phần gồm hưu trí - tử tuất, ốm đau - thai sản và bảo hiểm thất nghiệp.

Khung pháp lý nền tảng của nghiên cứu dựa trên Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13, Quyết định số 595/QĐ-BHXH năm 2017 và Quyết định số 704/QĐ-BHXH năm 2018 về quy trình thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Các văn bản quy phạm này quy định rõ nguyên tắc tập trung, thống nhất, minh bạch và an toàn tài chính. Khi các đơn vị sử dụng lao động chậm nộp từ 30 ngày trở lên so với thời hạn ấn định, chế tài tính lãi suất chậm nộp quá hạn cùng các biện pháp thanh tra chuyên ngành sẽ được áp dụng nhằm bảo toàn nguồn quỹ dự phòng tài chính quốc gia.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2021-2023 của cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố Sông Công và các niên giám thống kê địa phương. Dữ liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2023 bằng phương pháp điều tra bảng hỏi. Nghiên cứu xác định cỡ mẫu khảo sát dựa trên công thức xác suất của Slovin với tổng thể 21.174 người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn. Với sai số cho phép 0,05 và độ tin cậy 95%, quy mô mẫu lý thuyết tính toán là 392 đối tượng. Để tăng độ chuẩn xác, tác giả phát ra 402 phiếu điều tra và thu về 400 phiếu hợp lệ phục vụ phân tích định lượng. Ngoài ra, nghiên cứu khảo sát toàn diện 20 cán bộ, công chức làm công tác quản lý tại cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố.

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng trên 7 nhóm đơn vị để bảo đảm tính đại diện: Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 250 phiếu, Khối doanh nghiệp tư nhân chiếm 108 phiếu, Khối trường học chiếm 19 phiếu, Khối doanh nghiệp nhà nước chiếm 15 phiếu, Khối cơ quan hành chính xã phường chiếm 5 phiếu, Khối hành chính sự nghiệp thành phố chiếm 2 phiếu và Khối hợp tác xã chiếm 1 phiếu. Nghiên cứu lựa chọn phương pháp thống kê mô tả, phân tích tỷ lệ hoàn thành dự toán và kiểm định giá trị trung bình qua thang đo Likert 5 mức độ (từ 1,00 đến 5,00 điểm). Cách tiếp cận này giúp lượng hóa khách quan nhận thức, thái độ tuân thủ và mức độ hài lòng của các bên liên quan.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ghi nhận sự tăng trưởng ổn định nhưng phân bổ không đồng đều giữa các khu vực kinh tế. Tính đến năm 2023, toàn thành phố đạt 21.174 lao động tham gia, trong đó khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giữ vai trò chủ lực, chiếm 62,5% tổng số mẫu điều tra (250/400 phiếu). Ngược lại, khối hợp tác xã và doanh nghiệp tư nhân nhỏ lẻ chỉ chiếm tỷ trọng thấp nhưng lại có tỷ lệ biến động lao động cao nhất, bình quân tăng giảm khoảng 12% mỗi quý.

Thứ hai, tình trạng nợ đọng bảo hiểm xã hội diễn biến gay gắt, tập trung chủ yếu ở khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các hợp tác xã vận tải. Khoản nợ khó đòi kéo dài nghiêm trọng nhất được ghi nhận tại Hợp tác xã Công nghiệp và Vận tải Chiến Công với thời gian nợ từ năm 2018 đến năm 2023, số tiền nợ đọng vượt mức 2,7 tỷ đồng. Tổng số tiền nợ đọng của các đơn vị ngoài quốc doanh có thời điểm chiếm hơn 3,5% kế hoạch thu được giao, gây suy giảm tính cân đối của quỹ thu cục bộ.

Thứ ba, cơ cấu nhân sự làm công tác quản lý thu phải chịu áp lực nghiệp vụ rất lớn. Toàn bộ cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố chỉ có 20 cán bộ, công chức chia làm 3 tổ nghiệp vụ chính. Tỷ lệ bình quân một cán bộ chuyên quản phải theo dõi, đôn đốc hơn 1.000 lao động và hàng chục doanh nghiệp phân tán trên diện tích rộng. Điều này trực tiếp hạn chế tần suất đối chiếu thực địa, khiến quy trình xử lý nợ đọng thường bị chậm so với quy định 15 ngày gửi văn bản đôn đốc một lần.

Thứ tư, kết quả khảo sát qua thang đo Likert ghi nhận sự phân hóa rõ rệt trong đánh giá của người dân và doanh nghiệp. Tiêu chí cải cách thủ tục hành chính và số hóa tiếp nhận hồ sơ đạt điểm số tích cực ở mức 4,12/5,00 điểm. Tuy nhiên, tiêu chí hiệu quả kiểm tra, cưỡng chế nợ đọng chỉ đạt mức trung bình khá với 3,18/5,00 điểm, phản ánh sự thiếu hụt các chế tài răn đe quyết liệt đối với những doanh nghiệp cố tình chây ỳ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ đọng gia tăng xuất phát từ cả yếu tố khách quan lẫn chủ quan. Về khách quan, chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy sau dịch bệnh khiến nhiều doanh nghiệp tại các khu công nghiệp Sông Công I và Sông Công II gặp khó khăn thanh khoản, dẫn đến việc dùng tiền lương trích nộp bảo hiểm xã hội bù đắp vốn lưu động. Về chủ quan, nhận thức pháp luật của người sử dụng lao động chưa nghiêm túc, trong khi người lao động vì áp lực việc làm nên chưa dám đấu tranh đòi quyền lợi. Cơ chế khởi kiện dân sự đòi nợ bảo hiểm xã hội gặp nhiều vướng mắc về thẩm quyền theo quy định của tổ chức công đoàn, cùng với thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính giới hạn trong 1 năm khiến nhiều vụ việc bị kéo dài.

Khi so sánh với kinh nghiệm thực tiễn tại các địa phương lân cận, Bảo hiểm xã hội thị xã Thuận Thành (tỉnh Bắc Ninh) đã khống chế tỷ lệ chậm đóng năm 2023 ở mức ấn tượng 0,93% nhờ triển khai 12.597 tài khoản VssID và đạt tỷ lệ 97% đồng bộ dữ liệu dân cư. Tương tự, tại huyện Bình Xuyên (tỉnh Vĩnh Phúc), số thu 6 tháng đầu năm 2023 đạt 889,8 tỷ đồng từ 1.189 đơn vị và duy trì tỷ lệ nợ ở mức 1,08% nhờ sự vào cuộc trực tiếp của Ban chỉ đạo liên ngành cấp huyện. Điều này cho thấy thành phố Sông Công cần đẩy mạnh việc công khai danh tính doanh nghiệp nợ đọng và thắt chặt thanh tra liên ngành.

Để minh họa các kết quả này một cách trực quan, dữ liệu quản lý thu qua các năm có thể được biểu diễn thông qua biểu đồ cột kép so sánh chỉ tiêu kế hoạch thu với số tiền thực thu, kết hợp đường biểu diễn tỷ lệ phần trăm nợ đọng giai đoạn 2021-2023. Song song đó, việc ứng dụng bảng ma trận phân loại nợ theo ba nhóm rủi ro (nợ dưới 3 tháng, nợ từ 3 đến 6 tháng, và nợ trên 12 tháng) sẽ hỗ trợ cơ quan quản lý xác định thứ tự ưu tiên xử lý hồ sơ cưỡng chế một cách khoa học.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng cường thanh tra chuyên ngành đột xuất và công khai rộng rãi danh tính đơn vị chây ỳ. Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố chủ trì phối hợp với Liên đoàn Lao động và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội tiến hành lập biên bản liên ngành định kỳ hằng tháng. Thực hiện đăng tải thông tin 100% doanh nghiệp nợ tiền bảo hiểm từ 3 tháng trở lên trên Cổng thông tin điện tử thành phố và hệ thống truyền thanh cơ sở. Mục tiêu cụ thể là kéo giảm tỷ lệ nợ đọng bảo hiểm xã hội bắt buộc xuống dưới 1,2% tổng dự toán thu trước ngày 31/12/2025.

Thứ hai, đẩy mạnh số hóa quy trình quản lý đối tượng và đồng bộ cơ sở dữ liệu định danh cá nhân. Tổ Thu - Sổ, thẻ phối hợp chặt chẽ với Công an thành phố rà soát dữ liệu căn cước công dân gắn chip cho 21.174 lao động đang tham gia. Phấn đấu nâng tỷ lệ cài đặt ứng dụng bảo hiểm xã hội số VssID đạt trên 95% lực lượng lao động trong năm 2024, tạo điều kiện để công nhân tự giám sát quá trình đóng nộp của chủ sử dụng lao động, ngăn ngừa hành vi gian lận hồ sơ.

Thứ ba, nâng cao năng lực quản lý nghiệp vụ và áp dụng chỉ số đánh giá hiệu suất công việc cho đội ngũ cán bộ. Ban Giám đốc cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố tổ chức định kỳ 2 đợt tập huấn chuyên sâu mỗi năm về kỹ năng đôn đốc nợ và phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp cho toàn bộ 20 cán bộ, nhân viên. Đưa chỉ tiêu tỷ lệ thu hồi nợ đọng tại địa bàn phụ trách vào tiêu chí bình xét thi đua hằng quý, gắn trách nhiệm cá nhân của chuyên quản thu với kết quả phát triển đối tượng.

Thứ tư, thiết lập cơ chế phối hợp tư pháp nhằm kiên quyết khởi kiện các đơn vị trốn đóng kéo dài. Đối với các khoản nợ đọng khó đòi trên 12 tháng hoặc có dấu hiệu chiếm dụng tiền đóng bảo hiểm xã hội vượt mức 2 tỷ đồng, cơ quan chuyên trách cần hoàn thiện hồ sơ chuyển cơ quan điều tra theo quy định của Bộ luật Hình sự. Thời gian giải quyết dứt điểm các hồ sơ tồn đọng phức tạp, đặc biệt là các khoản nợ kéo dài nhiều năm, phải được hoàn thành trước quý III năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, ban lãnh đạo và chuyên viên nghiệp vụ tại các cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh. Nhóm đối tượng này có thể tiếp cận hệ thống phương pháp quản lý nguồn thu, quy trình gửi thông báo đôn đốc 15 ngày một lần và kinh nghiệm phân tầng rủi ro nợ đọng áp dụng tại các đô thị công nghiệp đang phát triển.

Thứ hai, các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương bao gồm Ủy ban nhân dân, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cùng tổ chức Công đoàn. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành, giúp nâng cao hiệu quả giám sát quỹ lương và bảo vệ quyền an sinh cho hơn 21.000 người lao động trên địa bàn.

Thứ ba, chủ doanh nghiệp, giám đốc nhân sự và kế toán trưởng tại 250 doanh nghiệp FDI cùng các doanh nghiệp tư nhân. Công trình chỉ rõ nghĩa vụ trích nộp 32% quỹ lương, các chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi nợ quá 30 ngày và lợi ích của việc minh bạch hóa thông tin tham gia bảo hiểm xã hội nhằm giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công và Chính sách an sinh xã hội. Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về việc áp dụng công thức Slovin xác định cỡ mẫu 400 phiếu khảo sát, xây dựng thang đo Likert 5 mức độ và kỹ thuật phân tích dữ liệu kết hợp sơ cấp - thứ cấp trong nghiên cứu định hướng ứng dụng.

Câu hỏi thường gặp

Cỡ mẫu khảo sát 400 phiếu trong luận văn được xác định dựa trên cơ sở khoa học nào? Cỡ mẫu được tính toán bằng công thức Slovin với tổng thể 21.174 người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc năm 2023 tại thành phố Sông Công. Với sai số cho phép 0,05 và độ tin cậy 95%, cỡ mẫu lý thuyết là 392 đối tượng. Tác giả phát 402 phiếu và thu về 400 phiếu hợp lệ, bảo đảm tính đại diện cao.

Tình trạng nợ bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Sông Công diễn ra nghiêm trọng nhất ở khu vực nào? Tình trạng nợ đọng tập trung nặng nề nhất tại khối kinh tế ngoài quốc doanh và hợp tác xã vận tải. Điển hình là Hợp tác xã Công nghiệp và Vận tải Chiến Công nợ lũy kế từ năm 2018 đến năm 2023 với số tiền vượt 2,7 tỷ đồng, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền thụ hưởng của người lao động.

Cơ quan chức năng áp dụng quy trình đôn đốc nào đối với các doanh nghiệp chậm nộp bảo hiểm? Khi đơn vị nợ từ 30 ngày trở lên, cán bộ chuyên quản liên hệ lập biên bản đối chiếu thu nộp và định kỳ 15 ngày gửi văn bản đôn đốc một lần. Nếu gửi văn bản quá 3 lần mà doanh nghiệp không chấp hành, cơ quan chức năng sẽ tiến hành kiểm tra liên ngành và chuyển hồ sơ khởi kiện ra Tòa án.

Luận văn rút ra bài học kinh nghiệm gì từ các địa phương phát triển công nghiệp lân cận? Nghiên cứu chỉ ra kinh nghiệm từ thị xã Thuận Thành trong việc duy trì nợ đọng ở mức 0,93% nhờ đồng bộ 97% dữ liệu dân cư, và huyện Bình Xuyên đạt số thu 889,8 tỷ đồng qua các đoàn công tác trực tiếp của lãnh đạo huyện, khẳng định tầm quan trọng của sự phối hợp liên ngành.

Việc ứng dụng phần mềm VssID mang lại giá trị gì trong công tác quản lý thu? Ứng dụng VssID giúp công khai hóa toàn bộ lịch sử trích nộp của 21.174 lao động trên thiết bị di động cá nhân. Điều này tạo cơ chế giám sát hai chiều độc lập, giúp người lao động phát hiện ngay khi doanh nghiệp có dấu hiệu trích trừ lương nhưng chậm nộp tiền vào quỹ bảo hiểm xã hội.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa toàn diện cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc ở cấp chính quyền địa phương dựa trên Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13.
  • Phân tích chi tiết thực trạng quản lý thu của thành phố Sông Công giai đoạn 2021-2023 với quy mô 21.174 người tham gia, phản ánh chính xác vai trò áp đảo của 250 doanh nghiệp FDI trong cơ cấu nguồn thu.
  • Nhận diện trực diện những rào cản nợ đọng khó đòi kéo dài từ năm 2018 với số tiền hơn 2,7 tỷ đồng và áp lực quản lý trên vai đội ngũ 20 cán bộ chuyên trách.
  • Xác lập 4 nhóm giải pháp đột phá gắn với mốc thời gian hoàn thành cụ thể đến cuối năm 2025, phấn đấu giảm tỷ lệ nợ đọng xuống dưới 1,2% và đưa tỷ lệ cài đặt VssID đạt trên 95%.
  • Kêu gọi sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan bảo hiểm, chính quyền thành phố và cộng đồng doanh nghiệp nhằm hoàn thiện thể chế an sinh, bảo vệ quyền lợi hợp pháp bền vững cho người lao động.