MỞ ĐẦU Ngày nay, bệnh tim mạch đã và đang là một gánh nặng cho xã hội với tỷ lệ tử vong và tàn phế cao hàng đầu, bắt đầu từ những thói quen không lành mạnh trong cuộc sống nhƣ béo phì, thiếu vận động, căng thẳng kéo dài… Trên thế giời cứ 3 giây lại có 1 ngƣời chết vì bệnh tim mạch. Cứ 6 giây thì có 1 trƣờng hợp nhồi máu cơ tim và 7 giây lại có 1 trƣờng hợp đột quỵ. Các bệnh viện thì luôn quá tải những bệnh nhân nhập viện vì không phát hiện và điều trị sớm bệnh tim mạch dẫn đến suy tim. Suy tim đang ngày càng gia tăng kể cả về số ngƣời mắc bệnh và số ca tử vong, nhiều ngƣời đã không thể quay trở lại cuộc sông khỏe mạnh bình thƣờng luôn cảm thấy căng thẳng, lo âu, thấp thỏm không biết mình sống đƣợc bao lâu.
Những thay đổi trong chế độ ăn và lối sống trong những năm vừa qua đã góp phần làm gia tăng nhanh chóng các bệnh mạn tính không lây ở hầu hết các nƣớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Nguyên nhân của các bệnh mạn tính liên quan đến dinh dƣỡng thƣờng rất phức tạp, bao gồm yếu tố di truyền, lối sống và chế độ ăn. Cho đến nay, để thay đổi các yếu tố di truyền còn khó khăn, nhƣng đã có thể điều chỉnh đƣợc lối sống và chế độ ăn nhằm làm giảm bớt các yếu tố nguy cơ của một số bệnh mạn tính liên quan đến dinh dƣỡng. Trong những năm gần đây, mối liên quan giữa chế độ ăn uống với bệnh tim mạch đang đƣợc quan tâm chú ý.
Vì đây là một nhân tố quan trọng trong phòng ngừa một số bệnh tim mạch khác ví dụ nhƣ tăng huyết áp và bệnh mạch vành. Do đó, cần có chế độ dinh dƣỡng cho ngƣời mắc bệnh tim mạch hợp lý và khoa học. Trong số các nguyên nhân dinh dƣỡng liên quan đến bệnh tim mạch, hai nguyên nhân thƣờng đƣợc nhắc đến nhiều nhất là lƣợng muối và lƣợng cholesterol trong khẩu phần. Chế độ ăn nhiều muối đã đƣợc chứng minh là có thể làm tăng huyết áp trong khi chế độ ăn nhiều cholesterol đƣợc chứng minh là có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành.
Ngoài lƣợng muối và cholesterol trong khẩu phần, các yếu tố dinh dƣỡng sau đây cũng góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch: 1 - Ăn quá nhiều protein : ăn quá nhiều protein làm tăng nguy cơ tăng huyết áp và thúc đẩy tiến triển các bệnh về mạch máu, đặc biệt ở thận - Tiêu thụ quá nhiều rƣợu: nam giới uống trên 3-5 ly tiêu chuẩn/ngày và nữ giới uống trên 2-3 ly tiêu chuẩn/ngày sẽ có nguy cơ bị bệnh tim mạch cao hơn. - Thừa cân béo phì: những ngƣời bị thừa cân có tỷ lệ tăng huyết áp cao gấp hai lần so với những ngƣời có cân nặng bình thƣờng. - Hút thuốc lá - Lƣời vận động Qua tìm hiểu về nguyên nhân và mức độ nguy hiểm của bệnh tim mạch đối với sức khỏe con ngƣời thông qua việc ăn uống đã giúp em hiểu đƣợc việc xây dựng khẩu phần ăn uống hợp lý cho ngƣời mắc bệnh tim mạch là vô cùng quan trọng. Vì vậy em đã mạnh dạn chọn đề tài :“ Xây dựng khẩu phần ăn cho bệnh nhân nam mắc bệnh tim mạch từ 60 tuổi trở lên” 2 PHẦN B.
NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI: 1. TỔNG QUÁT VỀ BỆNH TIM MẠCH 1. Khái niệm: Bệnh tim mạch bao gồm các bệnh có liên quan đến các mạch máu (tĩnh mạch, động mạch và mao mạch) hoặc tim hoặc cả hai bệnh có ảnh hƣởng đến hệ thống tim mạch.
Hệ thống tim mạch, còn đƣợc gọi là hệ thống tuần hoàn, là hệ thống di chuyển máu đi khắp cơ thể con ngƣời. Nó bao gồm tim, động mạch, tĩnh mạch, và mao mạch. Nó vận chuyển máu oxy từ phổi và trái tim trong suốt toàn bộ cơ thể thông qua các động mạch. Máu đi qua các mao mạch tàu nằm giữa tĩnh mạch và động mạch.
Khi máu đã bị cạn kiệt oxy, nó làm theo cách của mình trở lại tim và phổi thông qua các tĩnh mạch. Hệ thống tuần hoàn cũng có thể bao gồm việc lƣu thông bạch huyết, chủ yếu là tái chế huyết tƣơng sau khi nó đã đƣợc lọc từ các tế bào máu và quay trở lại hệ thống bạch huyết. Hệ thống tim mạch không bao gồm hệ bạch huyết. Trong bài viết này, hệ thống tuần hoàn không bao gồm việc lƣu thông của bạch huyết.
Theo Medilexicon từ điển y khoa , tim mạch có nghĩa là: “ Liên quan đến tim và các mạch máu lƣu thông” Các bệnh có ảnh hƣởng đến hệ thống tim mạch: Bệnh tim mạch (bệnh tim) - Đau thắt ngực (đƣợc coi nhƣ là một bệnh tim và mạch máu) - Chứng loạn nhịp tim (vấn đề với nhịp tim, nhịp tim bất thƣờng) - bệnh tim bẩm sinh - bệnh động mạch vành (CAD) - Dilated bệnh cơ tim - Nhồi máu cơ tim (nhồi máu cơ tim) - Suy tim - phì đại cơ tim 3 - Hai lá trào ngƣợc - Sa van hai lá - Phổi hẹp Bệnh mạch máu (bệnh ảnh hƣởng đến các mạch máu động mạch, tĩnh mạch hoặc mao mạch), ví dụ bao gồm: - Xơ vữa động mạch - Bệnh động mạch thận - Bệnh Raynaud (Raynaud hiện tƣợng) - Bệnh Buerger - Bệnh tĩnh mạch ngoại vi - Rung tâm nhĩ- đƣợc biết đến nhƣ là một loại của bệnh mạch máu não - Cục máu đông tĩnh mạch - Bloodclotting rối loạn 1.2 Nguyên nhân gây nên bệnh tim mạch 1. Cholesterol: Cholesterol là chất giống nhƣ sáp do gan sản xuất hoặc có trong một vài loại thực phẩm mà chúng ta tiêu thụ. Khi lƣợng Cholesterol trong máu tăng lên quá cao, chúng sẽ bám vào thành động mạch, kể cả động mạch vành. Lòng động mạch bị hẹp lại, làm cản trở lƣu thông máu và làm giảm lƣu lƣợng máu đến nuôi các cơ quan và tổ chức trong cơ thể, dẫn tới thiếu máu cơ tim cũng nhƣ thiếu máu nuôi dƣỡng các cơ quan tổ chức khác trong cơ thể.
Mức độ Cholesterol trung bình là dƣới 200mg/dl. Để duy trì mức độ Cholesterol ở mức trung bình, cần phải đặt ra một chế độ dinh dƣỡng hợp lý, có ít chất béo bão hòa và Cholesterol, có nhiều chất xơ, duy trì cân nặng cơ thể bình thƣờng, vận động cơ thể đều đặn. Thƣờng xuyên đi xét nghiệm mức độ Cholesterol trong máu. Nếu Cholesterol cao, bác sĩ có thể cho dùng thuốc để hạ Cholesterol và đƣa ra chế độ dinh dƣỡng hợp lý cho ngƣời bệnh.2 Bệnh cao huyết áp Huyết áp trung bình là 120/80mmHg Khi huyết áp quá cao, trái tim phải làm gắng sức nhiều hơn để đƣa máu nuôi cơ thể.
Tim sẽ mau suy yếu, nhất là khi động mạch vành bị tắc nghẽn, không cung cấp đủ oxy và các chất dinh dƣỡng Có thể duy trì huyết áp ở mức trung bình với nếp sống lành mạnh, dinh dƣỡng hợp lý, bớt muối, không hút thuốc lá, vận động cơ thể, tránh béo phì Nên đo huyết áp theo định kỳ, vì bệnh cao huyết áp xảy ra từ từ, đôi khi không có dấu hiệu báo trƣớc.3 Bệnh tiểu đường Đƣờng huyết quá cao (trung bình từ 70mg/dl -125mg/dl) làm các mạch máu cứng, thoái hóa, kể cá động mạch tim. Có tới 3/4 số ngƣời bị tiểu đƣờng thiệt mạng vì bệnh tim mạch. Phòng tránh bệnh tiểu đƣờng bằng cách duy trì cân nặng cơ thể trung bình với một chế độ dinh dƣỡng hợp lý và thƣờng xuyên luyện tập vận động cơ thể. Lƣu ý: là 80% bệnh tiểu đƣờng loại 2, ở ngƣời trƣởng thành là do béo phì mà ra.4 Hút thuốc lá: Thuốc lá tăng rủi ro bị bệnh tim và cơn suy tim.
Chất nicotine trong thuốc lá làm mạch máu co hẹp, cản trở sự lƣu thông của máu, làm huyết áp tăng. Nicotine cũng tăng lƣợng thán khí và giảm oxy trong máu. Khói thuốc lá làm tăng rủi ro xơ vữa động mạch và tăng các yếu tố làm đông máu. Hậu quả là các bệnh tim mạch, tai biến động mạch não dễ dàng xảy ra.5 Bia rượu Tiêu thụ bia rƣợu vừa phải có thể chấp nhận đƣợc.
Vừa phải là khoảng 60cc rƣợu mạnh, 160cc rƣợu vang, 360cc bia, hai lần một ngày cho nam giới, một lần cho nữ giới. 5 Uống quá nhiều rƣợu sẽ đƣa tới tăng huyết áp, tăng lƣợng chất béo triglyceride, giảm chất béo tốt HDL, tăng rủi ro xơ vữa động mạch. Hậu quả là bệnh tim mạch, tai biến não, cơn suy tim. Béo phì Béo phì khiến cho tim phải làm việc nhiều hơn để nuôi khối tế bào to lớn của cơ thể lâu ngày, tim sẽ suy yếu Sức nặng đƣợc tính theo chỉ số Sức Nặng Cơ Thể (Body Mass Index) chỉ số từ 18- 24.
Chỉ số càng cao thì số lƣợng chất béo trong cơ thể càng nhiều. Dinh dƣỡng đúng nhu cầu, vận động cơ thể giúp duy trì BMI ở mức bình thƣờng.7 Không vận động Không vận động là rủi ro đƣa tới cao huyết áp, mập phì, tiểu đƣờng. Vận động cơ thể giúp giảm các rủi ro này. Mỗi ngày chỉ cần 30 phút tập luyện là đạt đƣợc ích lợi.8 Dinh dưỡng không hợp lý: Dinh dƣỡng không hợp lý là ăn quá nhu cầu cơ thể, ăn những chất mà khi quá nhiều có tác dụng xấu.
Hậu quả là cơ thể sẽ quá kí, cholesterol, đƣờng huyết và huyết áp lên cao. Tất cả đều tác động xấu tới hệ tuần hoàn. Để tránh các rủi ro, nên ăn uống vừa đúng nhu cầu cơ thể với chế độ thực phẩm cân bằng, nhiều loại khác nhau.9 Stress Đời sống luôn luôn có những căng thẳng, nhƣng không phải là căng thẳng nào cũng có tác dụng xấu tới sức khỏe. Riêng đối với bệnh tim mạch, đã có cả ngàn chứng minh khoa học cho thấy stress là một rủi ro lớn của bệnh tim mạch, đặc biệt là khi stress mạnh mẽ, kéo dài.
Một số rủi ro đƣa tới bệnh tim mạch mà ta có thể tránh đƣợc. Ngoài ra còn có một số rủi ro khác nhƣ: 6 - Yếu tố di truyền: Con cái có cha mẹ, ngƣời thân có bệnh tim dễ mắc bệnh này hơn. - Tuổi tác: Trên 83% ngƣời thiệt mạng vì bệnh tim mạch đều ở tuổi từ 65 trở lên. - Phái tính: Nam giới thƣờng có nhiều rủi ro bị cơn đau tim hơn nữ giới và các cơn đau tim này xảy ra sớm hơn trong đời sống.
Với những nguy cơ này, ta đành bó tay chấp nhận, không thay đổi đƣợc.Cũng may là tỷ lệ gây bệnh của chúng rất thấp. Tuy nhiên, nhƣ cổ nhân đã nói :“Phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Phòng tránh đƣợc rủi ro nào thì ta cứ kiên nhẫn áp dụng.