Luận văn thạc sĩ khảo sát một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ ở các bà mẹ mổ lấy thai chủ động tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2019

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khảo sát một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ ở các bà mẹ mổ lấy thai chủ động tại bệnh, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y Đa Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2019

62
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM

1.2. TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỮA MẸ VÀ VIỆC NCBSM

1.3. KHUYẾN CÁO VÀ CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NCBSM TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1.4. VẤN ĐỀ MỔ LẤY THAI

1.5. THỰC TRẠNG NCBSM Ở NHỮNG BÀ MẸ MỔ LẤY THAI

1.6. NHỮNG YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NCBSM

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.3. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1. Thiết kế nghiên cứu

2.4.2. Cách chọn cỡ mẫu

2.4.3. Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin

2.4.4. Công cụ thu thập thông tin

2.4.5. Kỹ thuật thu thập thông tin

2.4.6. Xử lý và phân tích số liệu

2.4.7. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. MÔ TẢ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH NCBSM Ở CÁC BÀ MẸ MLTCĐ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƢƠNG NĂM 2019

3.2. Đặc điểm thông tin chung đối tượng tham gia nghiên cứu

3.3. Đặc điểm về MLTCĐ

3.4. Kiến thức, thực hành NCBSM của các bà mẹ MLTCĐ

3.5. MỐI LIÊN QUAN GIỮA VIỆC BẮT ĐẦU THỰC HÀNH NCBSM Ở BÀ MẸ MLTCĐ

3.6. Mối liên quan giữa đặc điểm chung của mẹ và thực hành BSSS

3.7. Mối liên quan giữa đặc điểm chung của trẻ và thực hành BSSS

3.8. Mối liên quan giữa những người xung quanh và thực hành BSSS

3.9. Mối liên quan giữa đặc điểm MLTCĐ và thực hành BSSS

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. MÔ TẢ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH NCBSM Ở CÁC BÀ MẸ MLTCĐ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƢƠNG NĂM 2019

4.2. Kiến thực, thực hành về thời gian bắt đầu cho bú mẹ

4.3. Kiến thực, thực hành về hình thức lần đầu cho bú mẹ

4.4. Kiến thực, thực hành về thức uống lần đầu sau sinh

4.5. Kiến thực, thực hành về sữa non

4.6. MỐI LIÊN QUAN GIỮA VIỆC BẮT ĐẦU THỰC HÀNH NCBSM Ở CÁC BÀ MẸ MLTCĐ

4.7. Mối liên quan giữa đặc điểm chung của mẹ và thực hành BSSS

4.8. Mối liên quan giữa đặc điểm chung của trẻ và thực hành BSSS

4.9. Mối liên quan giữa những người xung quanh và thực hành BSSS

4.9.1. Nhân viên Y tế

4.9.2. Vai trò người chồng

4.10. Mối liên quan giữa đặc điểm MLTCĐ và thực hành BSSS

4.11. Liên quan giữa việc sử dụng thuốc và thực hành BSSS

4.12. Liên quan giữa thời gian bắt đầu có sữa sau sinh và thực hành BSSS

4.13. Liên quan giữa thời gian bắt đầu tiếp xúc mẹ con và thực hành BSSS

KẾT LUẬN

KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nuôi con bằng sữa mẹ ở bà mẹ mổ lấy thai

Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định sức khỏe và sự phát triển của trẻ sơ sinh. Đặc biệt, đối với các bà mẹ mổ lấy thai, việc thực hiện NCBSM có thể gặp nhiều thách thức. Nghiên cứu này nhằm khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến việc nuôi con bằng sữa mẹ ở các bà mẹ mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.

1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của sữa mẹ

Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo cho trẻ sơ sinh, cung cấp đầy đủ năng lượng và chất dinh dưỡng cần thiết. Nghiên cứu cho thấy rằng trẻ bú sữa mẹ có sức đề kháng tốt hơn và phát triển trí não tốt hơn so với trẻ bú sữa công thức.

1.2. Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ ở bà mẹ mổ

Tại Việt Nam, tỷ lệ bà mẹ mổ lấy thai cho con bú sớm còn thấp. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ có một tỷ lệ nhỏ bà mẹ mổ thực hiện bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến nuôi con bằng sữa mẹ ở bà mẹ mổ

Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc nuôi con bằng sữa mẹ ở các bà mẹ mổ lấy thai. Những yếu tố này bao gồm kiến thức, thái độ của bà mẹ, sự hỗ trợ từ gia đình và nhân viên y tế.

2.1. Kiến thức và thái độ của bà mẹ về NCBSM

Kiến thức về lợi ích của sữa mẹ và thái độ tích cực đối với việc cho con bú có thể thúc đẩy bà mẹ thực hiện NCBSM. Nghiên cứu cho thấy rằng bà mẹ có kiến thức tốt thường cho con bú sớm hơn.

2.2. Vai trò của nhân viên y tế trong hỗ trợ NCBSM

Nhân viên y tế đóng vai trò quan trọng trong việc tư vấn và hỗ trợ bà mẹ mổ lấy thai thực hiện NCBSM. Họ có thể cung cấp thông tin và khuyến khích bà mẹ bắt đầu cho con bú sớm.

III. Thách thức trong việc nuôi con bằng sữa mẹ ở bà mẹ mổ

Việc mổ lấy thai có thể gây ra nhiều thách thức cho bà mẹ trong việc thực hiện NCBSM. Những thách thức này bao gồm đau đớn sau phẫu thuật, thời gian hồi phục lâu và thiếu sự hỗ trợ từ gia đình.

3.1. Đau đớn và thời gian hồi phục sau mổ

Đau đớn sau phẫu thuật có thể làm giảm khả năng cho con bú sớm của bà mẹ. Nhiều bà mẹ cảm thấy khó khăn trong việc di chuyển và thực hiện các hoạt động cần thiết để cho con bú.

3.2. Thiếu sự hỗ trợ từ gia đình

Sự hỗ trợ từ gia đình là rất quan trọng trong việc thực hiện NCBSM. Nhiều bà mẹ mổ lấy thai không nhận được sự hỗ trợ cần thiết từ người thân, dẫn đến việc không thể cho con bú sớm.

IV. Phương pháp cải thiện nuôi con bằng sữa mẹ ở bà mẹ mổ

Để cải thiện tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ ở các bà mẹ mổ, cần có các phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Những phương pháp này bao gồm giáo dục bà mẹ, cung cấp thông tin và tạo điều kiện thuận lợi cho việc cho con bú.

4.1. Giáo dục và nâng cao nhận thức về NCBSM

Giáo dục bà mẹ về lợi ích của sữa mẹ và cách thực hiện NCBSM có thể giúp tăng cường tỷ lệ cho con bú sớm. Các chương trình giáo dục cần được triển khai tại các bệnh viện.

4.2. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc cho con bú

Bệnh viện cần tạo ra môi trường thuận lợi cho bà mẹ mổ lấy thai thực hiện NCBSM, bao gồm việc cung cấp không gian riêng tư và hỗ trợ từ nhân viên y tế.

V. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc cải thiện kiến thức và thái độ của bà mẹ về NCBSM có thể dẫn đến tỷ lệ cho con bú sớm cao hơn. Các kết quả này có thể được áp dụng để xây dựng các chương trình hỗ trợ cho bà mẹ mổ.

5.1. Kết quả khảo sát về thực hành NCBSM

Kết quả khảo sát cho thấy rằng tỷ lệ bà mẹ mổ thực hiện NCBSM còn thấp, nhưng có thể cải thiện thông qua các chương trình giáo dục và hỗ trợ.

5.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để phát triển các chính sách hỗ trợ NCBSM cho bà mẹ mổ tại các bệnh viện, nhằm nâng cao sức khỏe cho trẻ sơ sinh.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai về NCBSM

Việc nuôi con bằng sữa mẹ ở các bà mẹ mổ lấy thai cần được chú trọng hơn nữa. Các chính sách và chương trình hỗ trợ cần được triển khai để nâng cao tỷ lệ cho con bú sớm và cải thiện sức khỏe cho trẻ sơ sinh.

6.1. Tầm quan trọng của NCBSM trong tương lai

NCBSM không chỉ mang lại lợi ích cho trẻ mà còn cho cả bà mẹ. Việc thực hiện NCBSM cần được khuyến khích và hỗ trợ để đảm bảo sức khỏe cho thế hệ tương lai.

6.2. Đề xuất các giải pháp hỗ trợ NCBSM

Cần có các giải pháp cụ thể để hỗ trợ bà mẹ mổ lấy thai thực hiện NCBSM, bao gồm giáo dục, tư vấn và tạo điều kiện thuận lợi trong bệnh viện.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ khảo sát một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ ở các bà mẹ mổ lấy thai chủ động tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2019

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Dinh dƣỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đặc biệt là vấn đề nuôi con bằng sữa mẹ, một yếu tố quan trọng quyết định sức khỏe và sự sống của trẻ. Trong những năm gần đây, tỷ lệ tử vong trẻ em nói chung trên thế giới đã giảm mạnh nhƣng tỷ lệ tử vong sơ sinh không giảm hoặc giảm không đáng kể [6]. Ƣớc tính, hàng năm trên thế giới có khoảng 4 triệu trẻ sơ sinh tử vong. Ở Việt Nam, theo Điều tra Dân số và Sức khỏe 2002, tỉ lệ tử vong ở trẻ dƣới 5 tuổi giảm từ 55/1000 trẻ đẻ sống xuống 30/1000 trẻ đẻ sống trong những năm đầu của thế kỷ này, nhƣng tỉ lệ tử vong hầu nhƣ không thay đổi và ở mức 0,15% [12].

Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) là cách tốt nhất và an toàn nhất để nuôi dƣỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Sữa mẹ là thực phẩm tốt nhất cho trẻ nhỏ đặc biệt trong 6 tháng đầu, sữa mẹ cung cấp một hệ miễn dịch tự nhiên, cung cấp chất dinh dƣỡng và năng lƣợng cho trẻ một khởi đầu quan trọng trong cuộc sống [53]. Không chỉ có lợi ích cho con mà việc NCBSM còn có vai trò đặc biệt quan trọng với sức khỏe bà mẹ. Bà mẹ cũng có lợi khi cho trẻ bú sớm vì giúp sữa về sớm hơn, giảm đƣợc băng huyết sau sinh, giúp bà mẹ tránh thai trong thời kỳ đầu hậu sản.

Về lâu dài, cho trẻ bú sữa mẹ giảm tỷ lệ ung thƣ vú và ung thƣ buồng trứng [59]. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã khuyến cáo nên cho trẻ bú mẹ sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh, cho trẻ bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu, việc cho bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh và bú hoàn toàn liên quan đến tỷ lệ tử vong sơ sinh [20]. Trẻ sơ sinh đƣợc bắt đầu bú mẹ trong vòng từ 2 - 23 giờ sau khi sinh có nguy cơ tử vong cao hơn 33% so với những trẻ bắt đầu bú mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh, những trẻ sơ sinh bắt đầu bú sữa mẹ 24 giờ sau khi sinh hoặc lâu hơn nữa thì nguy cơ cao gấp 2 lần [52]. Mặc dù đã có những khuyến nghị nhƣng chỉ có 44% trẻ sơ sinh trên thế giới đƣợc đặt vào vú mẹ trong vòng sau sinh một giờ [54].

Tại Việt Nam, tỉ lệ cho trẻ bú sớm sau sinh (BSSS) giảm đáng kể từ 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cách thức sinh con cũng là một yếu tố ảnh hƣởng đến tỉ lệ cho con bú sớm ở nhiều nƣớc nhƣ Brazil (khoảng 26% ca sinh thƣờng cho con bú sớm nhƣng chỉ có 5% các bà mẹ sinh mổ thực hiện BSSS) hoặc tại Thổ Nhĩ Kì có khoảng 50% số ca sinh thƣờng cho con bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh trong khi tỉ lệ này là 20% ở bệnh nhân sinh mổ lấy thai [29]. Theo nghiên cứu của Shamini Ramoo tại bệnh viện Hùng Vƣơng thành phố Hồ Chí Minh năm 2014, chỉ có 14% bà mẹ cho con bú trong 1 giờ đầu, trong khi đó hầu hết các bà mẹ sinh mổ đều cho con bú sữa mẹ sau 24 giờ [52]. Từ những nghiên cứu trên cho thấy tỷ lệ trẻ đƣợc bú sữa mẹ sớm còn chƣa cao, đăc biệt là tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ sớm ở bệnh nhân sinh mổ, điều này có lẽ do nhiều nguyên nhân tác động.

Nhằm đánh giá lại thực trạng và tìm hiều các yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian gần đây, góp phần cung cấp thông tin nhằm cải thiện sức khỏe bà mẹ trẻ em, chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ ở các bà mẹ mổ lấy thai chủ động tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương năm 2019” nhằm mục tiêu: 1. Mô tả kiến thức, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ sau ở các bà mẹ mổ lấy thai chủ động tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương năm 2019. Mô tả một số yếu tố liên quan đến việc bắt đầu thực hành nuôi con bằng sữa mẹ ở các đối tượng trên. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.

Một số khái niệm *Nuôi con bằng sữa mẹ: là đứa trẻ đƣợc nuôi dƣỡng trực tiếp bằng bú mẹ hoặc gián tiếp do sữa mẹ vắt ra hoặc sữa từ các bà mẹ khác [46], [43], [45]. *Bú mẹ: trẻ đƣợc bú mẹ, bú trực tiếp hoặc bú sữa mẹ đƣợc vắt ra bao gồm một phần, bú chủ yếu và bú hoàn toàn [46]. *Bú sớm sau sinh: trẻ đƣợc sinh ra và đƣa vào bú vú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh [46]. * Bú mẹ hoàn toàn: là trẻ chỉ bú sữa từ vú mẹ hoặc vú nuôi hoặc từ vú mẹ vắt ra.

Ngoài ra không ăn bất kỳ một loại thức ăn dạng lỏng hay rắn khác trừ các dạng giọt, siro có chứa các vitamin, chất khoáng bổ sung, hoặc thuốc [45]. * Sữa non: có từ tháng thứ tƣ của bào thai, tiếp tục đến 6 ngày sau đẻ. Sữa non có màu vàng và sánh hơn sữa về sau. Trong sữa non có rất nhiều chất đạm, Vitamin A và nhiều kháng thể.

Giúp cho trẻ chống lại hầu hết các vi khuẩn và siêu vi khuẩn. Sữa non chỉ tiết ra một lƣợng nhỏ [45]. *Thức ăn đầu tiên trước khi trẻ được bú mẹ lần đầu sau sinh: là bất cứ thức ăn nào trẻ nhận đƣợc trƣớc lần bú mẹ đầu tiên [45]. * Mổ lấy thai chủ động: là những chỉ định mổ lấy thai dự phòng (mổ chủ động) khi chƣa có chuyển dạ [13].

* Gây tê tủy sống: một phƣơng pháp gây tê vùng, thực hiện bằng cách tiêm thuốc tê vào khoang dƣới nhện, thuốc tê sẽ hòa với dịch não tủy và có tác dụng trực tiếp lên tủy sống gây phong bế cảm giác, vận động và thần kinh giao cảm [6]. * Gây mê: là phƣơng pháp giảm đau bằng cách làm cho bệnh nhân mất ý thức (có phục hồi) và giảm đau [6]. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Gây tê ngoài màng cứng: một phƣơng pháp gây tê vùng, thực hiện bằng cách đƣa một lƣợng thuốc tê thích hợp vào khoang ngoài màng cứng, thuốc tê sẽ ngấm vào khoang này và gây tác dụng phong bế cảm giác, vận động và giao cảm [6]. Tầm quan trọng của sữa mẹ và việc NCBSM 1.

Sữa mẹ là thức ăn hoàn hảo nhất, cung cấp đủ năng lượng, chất dinh dưỡng cần thiết, dễ tiêu hóa, dễ hấp thu [2] Trong một lít sữa mẹ cung cấp khoảng 700Kcalo với nồng độ và thành phần dinh dƣỡng (đạm, mỡ, đƣờng, vitamin,.) trong sữa mẹ cân đối nên trẻ dễ dàng tiêu hóa và hấp thu. - Protein: hàm lƣợng protein trong sữa mẹ tuy ít hơn sữa công thức nhƣng có đủ các acid amin cần thiết và dễ tiêu hóa đối với trẻ nhỏ. Protein của sữa mẹ gồm casein, albumin, lactabumin, β-Lactoglobulin, globulin miễn dịch (kháng thể) và các glycoprotein khác. Đặc biệt, casein là một chất đạm quan trọng có tác dụng ngăn chặn bệnh tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp, viêm tai và dị ứng.

Chất Lactambumin là protein chủ yếu trong sữa mẹ khi vào trong dạ dày sẽ tủa các thành các phân tử nhỏ nên thấm dịch tiêu hóa tốt và dễ hấp thu. - Lipid: Thành phần lipid trong sữa mẹ cao, các acid béo không no nhƣ acid linoleic, là một acid cần thiết cho sự phát triển hệ thần kinh của trẻ nhỏ, mắt và sự bền vững của mạch máu của trẻ. Trong sữa mẹ có men lipase vì vậy lipid trong sữa mẹ có thể hấp thu tại dạ dày. - Glucid: Trong sữa mẹ có nhiều hơn trong sữa công thức, cung cấp thêm nguồn năng lƣợng.

Đặc biệt, đƣờng beta lactose chủ yếu trong sữa mẹ là môi trƣờng tốt cho vi khuẩn Gram dƣơng phát triển nhƣ trực khuẩn Bifidus, ngăn cản các vi khuẩn Gram âm phát triển do vậy trẻ bú mẹ ít bị tiêu chảy, đồng thời một số đƣờng beta lactose ở trong ruột đƣợc chuyển thành acid lactic giúp tăng khả năng hấp thu canxi, sắt và muối khoáng. - Vitamin: Sữa mẹ có nhiều Vitamin A hơn sữa công thức, vì vậy trẻ bú sữa mẹ sẽ đề phòng đƣợc bệnh khô mắt do thiếu Vitamin A. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài ra, lƣợng vitamin D nhiều hơn sữa bò do đó trẻ uống sữa mẹ ít mắc bệnh còi xƣơng. Bên cạnh đó, các Vitamin khác trong sữa mẹ cũng đủ cung cấp cho trẻ trong 6 tháng đầu nếu bà mẹ đƣợc ăn uống và nghỉ ngơi đầy đủ.

- Muối khoáng: nguồn calci và sắt trong sữa mẹ tuy ít hơn sữa công thức nhƣng tỷ lệ hấp thu cao, tỷ lệ này khoảng 1,5:2, do đó thỏa mãn nhu cầu hấp thu của trẻ nên trẻ đƣợc bú mẹ ít bị còi xƣơng và thiếu máu do thiếu sắt.1:Thành phần dinh dƣỡng cơ bản trong 100ml sữa mẹ [2] Thành phần dinh dƣỡng Đơn vị Hàm lƣợng Năng lƣợng Kcalo 70 Protein g 1,07 Tỷ lệ casein/protein nƣớc sữa g:g 1:1,15 Lipid g 4,2 Lactose g 7,4 Vitamin: Retinol mcg 60 Beta caroten mcg 0 Vitamin D mcg 0,81 Vitamin C mg 3,80 Thiamin mg 0,02 Riboflavin mg 0,03 Niacin mg 0,62 Vitamin B12 mg 0,01 Acid folic mcg 5,2 Muối khoáng: Calci mg 35 Sắt mg 0,08 Đồng mcg 39 Kẽm mcg 295 Bú sữa mẹ, trẻ sẽ lớn nhanh, phòng đƣợc suy dinh dƣỡng, giúp trẻ thông minh, không bị thiếu Vitamin, thiếu máu do thiếu sắt, không bị thiếu calci, phosphor. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sữa mẹ là dịch thể sinh học tự nhiên có chứa nhiều chất kháng khuẩn bảo vệ cơ thể [61] -Các Globulin miễn dịch, chủ yếu là IgA (chiếm 95%) còn lại là IgM và IgG có tác dụng bảo vệ cơ thể chống lại các bệnh đƣờng ruột và một số bệnh do virus. Trong sữa mẹ còn có các yếu tố Interferon cũng có tác dụng bảo vệ cơ thể chống nhiễm vi khuẩn và virus [14], [63].

- Lactoferin là một protein kết hợp với sắt có tác dụng ức chế một số loại vi khuẩn gây bệnh cần sắt để phát triển [60]. - Các bạch cầu: Trong 2 tuần lễ đầu, trong sữa mẹ có tới 4 ngàn bạch cầu /1ml sữa. Các bạch cầu có khả năng tiết ra IgA, Lizozym, Lactoferin, Interferon [14]. - Lizozym là một loại men có nhiều hơn hẳn trong sữa mẹ so với sữa công thức.

Lyzozym phá hủy một số vi khuẩn gây bệnh và phòng ngừa một số bệnh do virus. - Yếu tố kích thích sự phát triển của Lactobacilus Bifidus – có ích cho hệ tiêu hóa, đồng thời kìm hãm các vi khuẩn gây bệnh và ký sinh trùng [14], [60].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ