ĐẶT VẤN ĐỀ Dinh dƣỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đặc biệt là vấn đề nuôi con bằng sữa mẹ, một yếu tố quan trọng quyết định sức khỏe và sự sống của trẻ. Trong những năm gần đây, tỷ lệ tử vong trẻ em nói chung trên thế giới đã giảm mạnh nhƣng tỷ lệ tử vong sơ sinh không giảm hoặc giảm không đáng kể [6]. Ƣớc tính, hàng năm trên thế giới có khoảng 4 triệu trẻ sơ sinh tử vong. Ở Việt Nam, theo Điều tra Dân số và Sức khỏe 2002, tỉ lệ tử vong ở trẻ dƣới 5 tuổi giảm từ 55/1000 trẻ đẻ sống xuống 30/1000 trẻ đẻ sống trong những năm đầu của thế kỷ này, nhƣng tỉ lệ tử vong hầu nhƣ không thay đổi và ở mức 0,15% [12].
Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) là cách tốt nhất và an toàn nhất để nuôi dƣỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Sữa mẹ là thực phẩm tốt nhất cho trẻ nhỏ đặc biệt trong 6 tháng đầu, sữa mẹ cung cấp một hệ miễn dịch tự nhiên, cung cấp chất dinh dƣỡng và năng lƣợng cho trẻ một khởi đầu quan trọng trong cuộc sống [53]. Không chỉ có lợi ích cho con mà việc NCBSM còn có vai trò đặc biệt quan trọng với sức khỏe bà mẹ. Bà mẹ cũng có lợi khi cho trẻ bú sớm vì giúp sữa về sớm hơn, giảm đƣợc băng huyết sau sinh, giúp bà mẹ tránh thai trong thời kỳ đầu hậu sản.
Về lâu dài, cho trẻ bú sữa mẹ giảm tỷ lệ ung thƣ vú và ung thƣ buồng trứng [59]. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã khuyến cáo nên cho trẻ bú mẹ sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh, cho trẻ bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu, việc cho bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh và bú hoàn toàn liên quan đến tỷ lệ tử vong sơ sinh [20]. Trẻ sơ sinh đƣợc bắt đầu bú mẹ trong vòng từ 2 - 23 giờ sau khi sinh có nguy cơ tử vong cao hơn 33% so với những trẻ bắt đầu bú mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh, những trẻ sơ sinh bắt đầu bú sữa mẹ 24 giờ sau khi sinh hoặc lâu hơn nữa thì nguy cơ cao gấp 2 lần [52]. Mặc dù đã có những khuyến nghị nhƣng chỉ có 44% trẻ sơ sinh trên thế giới đƣợc đặt vào vú mẹ trong vòng sau sinh một giờ [54].
Tại Việt Nam, tỉ lệ cho trẻ bú sớm sau sinh (BSSS) giảm đáng kể từ 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cách thức sinh con cũng là một yếu tố ảnh hƣởng đến tỉ lệ cho con bú sớm ở nhiều nƣớc nhƣ Brazil (khoảng 26% ca sinh thƣờng cho con bú sớm nhƣng chỉ có 5% các bà mẹ sinh mổ thực hiện BSSS) hoặc tại Thổ Nhĩ Kì có khoảng 50% số ca sinh thƣờng cho con bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh trong khi tỉ lệ này là 20% ở bệnh nhân sinh mổ lấy thai [29]. Theo nghiên cứu của Shamini Ramoo tại bệnh viện Hùng Vƣơng thành phố Hồ Chí Minh năm 2014, chỉ có 14% bà mẹ cho con bú trong 1 giờ đầu, trong khi đó hầu hết các bà mẹ sinh mổ đều cho con bú sữa mẹ sau 24 giờ [52]. Từ những nghiên cứu trên cho thấy tỷ lệ trẻ đƣợc bú sữa mẹ sớm còn chƣa cao, đăc biệt là tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ sớm ở bệnh nhân sinh mổ, điều này có lẽ do nhiều nguyên nhân tác động.
Nhằm đánh giá lại thực trạng và tìm hiều các yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian gần đây, góp phần cung cấp thông tin nhằm cải thiện sức khỏe bà mẹ trẻ em, chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ ở các bà mẹ mổ lấy thai chủ động tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương năm 2019” nhằm mục tiêu: 1. Mô tả kiến thức, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ sau ở các bà mẹ mổ lấy thai chủ động tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương năm 2019. Mô tả một số yếu tố liên quan đến việc bắt đầu thực hành nuôi con bằng sữa mẹ ở các đối tượng trên. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.
Một số khái niệm *Nuôi con bằng sữa mẹ: là đứa trẻ đƣợc nuôi dƣỡng trực tiếp bằng bú mẹ hoặc gián tiếp do sữa mẹ vắt ra hoặc sữa từ các bà mẹ khác [46], [43], [45]. *Bú mẹ: trẻ đƣợc bú mẹ, bú trực tiếp hoặc bú sữa mẹ đƣợc vắt ra bao gồm một phần, bú chủ yếu và bú hoàn toàn [46]. *Bú sớm sau sinh: trẻ đƣợc sinh ra và đƣa vào bú vú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh [46]. * Bú mẹ hoàn toàn: là trẻ chỉ bú sữa từ vú mẹ hoặc vú nuôi hoặc từ vú mẹ vắt ra.
Ngoài ra không ăn bất kỳ một loại thức ăn dạng lỏng hay rắn khác trừ các dạng giọt, siro có chứa các vitamin, chất khoáng bổ sung, hoặc thuốc [45]. * Sữa non: có từ tháng thứ tƣ của bào thai, tiếp tục đến 6 ngày sau đẻ. Sữa non có màu vàng và sánh hơn sữa về sau. Trong sữa non có rất nhiều chất đạm, Vitamin A và nhiều kháng thể.
Giúp cho trẻ chống lại hầu hết các vi khuẩn và siêu vi khuẩn. Sữa non chỉ tiết ra một lƣợng nhỏ [45]. *Thức ăn đầu tiên trước khi trẻ được bú mẹ lần đầu sau sinh: là bất cứ thức ăn nào trẻ nhận đƣợc trƣớc lần bú mẹ đầu tiên [45]. * Mổ lấy thai chủ động: là những chỉ định mổ lấy thai dự phòng (mổ chủ động) khi chƣa có chuyển dạ [13].
* Gây tê tủy sống: một phƣơng pháp gây tê vùng, thực hiện bằng cách tiêm thuốc tê vào khoang dƣới nhện, thuốc tê sẽ hòa với dịch não tủy và có tác dụng trực tiếp lên tủy sống gây phong bế cảm giác, vận động và thần kinh giao cảm [6]. * Gây mê: là phƣơng pháp giảm đau bằng cách làm cho bệnh nhân mất ý thức (có phục hồi) và giảm đau [6]. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Gây tê ngoài màng cứng: một phƣơng pháp gây tê vùng, thực hiện bằng cách đƣa một lƣợng thuốc tê thích hợp vào khoang ngoài màng cứng, thuốc tê sẽ ngấm vào khoang này và gây tác dụng phong bế cảm giác, vận động và giao cảm [6]. Tầm quan trọng của sữa mẹ và việc NCBSM 1.
Sữa mẹ là thức ăn hoàn hảo nhất, cung cấp đủ năng lượng, chất dinh dưỡng cần thiết, dễ tiêu hóa, dễ hấp thu [2] Trong một lít sữa mẹ cung cấp khoảng 700Kcalo với nồng độ và thành phần dinh dƣỡng (đạm, mỡ, đƣờng, vitamin,.) trong sữa mẹ cân đối nên trẻ dễ dàng tiêu hóa và hấp thu. - Protein: hàm lƣợng protein trong sữa mẹ tuy ít hơn sữa công thức nhƣng có đủ các acid amin cần thiết và dễ tiêu hóa đối với trẻ nhỏ. Protein của sữa mẹ gồm casein, albumin, lactabumin, β-Lactoglobulin, globulin miễn dịch (kháng thể) và các glycoprotein khác. Đặc biệt, casein là một chất đạm quan trọng có tác dụng ngăn chặn bệnh tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp, viêm tai và dị ứng.
Chất Lactambumin là protein chủ yếu trong sữa mẹ khi vào trong dạ dày sẽ tủa các thành các phân tử nhỏ nên thấm dịch tiêu hóa tốt và dễ hấp thu. - Lipid: Thành phần lipid trong sữa mẹ cao, các acid béo không no nhƣ acid linoleic, là một acid cần thiết cho sự phát triển hệ thần kinh của trẻ nhỏ, mắt và sự bền vững của mạch máu của trẻ. Trong sữa mẹ có men lipase vì vậy lipid trong sữa mẹ có thể hấp thu tại dạ dày. - Glucid: Trong sữa mẹ có nhiều hơn trong sữa công thức, cung cấp thêm nguồn năng lƣợng.
Đặc biệt, đƣờng beta lactose chủ yếu trong sữa mẹ là môi trƣờng tốt cho vi khuẩn Gram dƣơng phát triển nhƣ trực khuẩn Bifidus, ngăn cản các vi khuẩn Gram âm phát triển do vậy trẻ bú mẹ ít bị tiêu chảy, đồng thời một số đƣờng beta lactose ở trong ruột đƣợc chuyển thành acid lactic giúp tăng khả năng hấp thu canxi, sắt và muối khoáng. - Vitamin: Sữa mẹ có nhiều Vitamin A hơn sữa công thức, vì vậy trẻ bú sữa mẹ sẽ đề phòng đƣợc bệnh khô mắt do thiếu Vitamin A. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài ra, lƣợng vitamin D nhiều hơn sữa bò do đó trẻ uống sữa mẹ ít mắc bệnh còi xƣơng. Bên cạnh đó, các Vitamin khác trong sữa mẹ cũng đủ cung cấp cho trẻ trong 6 tháng đầu nếu bà mẹ đƣợc ăn uống và nghỉ ngơi đầy đủ.
- Muối khoáng: nguồn calci và sắt trong sữa mẹ tuy ít hơn sữa công thức nhƣng tỷ lệ hấp thu cao, tỷ lệ này khoảng 1,5:2, do đó thỏa mãn nhu cầu hấp thu của trẻ nên trẻ đƣợc bú mẹ ít bị còi xƣơng và thiếu máu do thiếu sắt.1:Thành phần dinh dƣỡng cơ bản trong 100ml sữa mẹ [2] Thành phần dinh dƣỡng Đơn vị Hàm lƣợng Năng lƣợng Kcalo 70 Protein g 1,07 Tỷ lệ casein/protein nƣớc sữa g:g 1:1,15 Lipid g 4,2 Lactose g 7,4 Vitamin: Retinol mcg 60 Beta caroten mcg 0 Vitamin D mcg 0,81 Vitamin C mg 3,80 Thiamin mg 0,02 Riboflavin mg 0,03 Niacin mg 0,62 Vitamin B12 mg 0,01 Acid folic mcg 5,2 Muối khoáng: Calci mg 35 Sắt mg 0,08 Đồng mcg 39 Kẽm mcg 295 Bú sữa mẹ, trẻ sẽ lớn nhanh, phòng đƣợc suy dinh dƣỡng, giúp trẻ thông minh, không bị thiếu Vitamin, thiếu máu do thiếu sắt, không bị thiếu calci, phosphor. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sữa mẹ là dịch thể sinh học tự nhiên có chứa nhiều chất kháng khuẩn bảo vệ cơ thể [61] -Các Globulin miễn dịch, chủ yếu là IgA (chiếm 95%) còn lại là IgM và IgG có tác dụng bảo vệ cơ thể chống lại các bệnh đƣờng ruột và một số bệnh do virus. Trong sữa mẹ còn có các yếu tố Interferon cũng có tác dụng bảo vệ cơ thể chống nhiễm vi khuẩn và virus [14], [63].
- Lactoferin là một protein kết hợp với sắt có tác dụng ức chế một số loại vi khuẩn gây bệnh cần sắt để phát triển [60]. - Các bạch cầu: Trong 2 tuần lễ đầu, trong sữa mẹ có tới 4 ngàn bạch cầu /1ml sữa. Các bạch cầu có khả năng tiết ra IgA, Lizozym, Lactoferin, Interferon [14]. - Lizozym là một loại men có nhiều hơn hẳn trong sữa mẹ so với sữa công thức.
Lyzozym phá hủy một số vi khuẩn gây bệnh và phòng ngừa một số bệnh do virus. - Yếu tố kích thích sự phát triển của Lactobacilus Bifidus – có ích cho hệ tiêu hóa, đồng thời kìm hãm các vi khuẩn gây bệnh và ký sinh trùng [14], [60].