Chương 1 đã trình bày phần tổng quan của khóa luận. Tiếp theo chương 2 sẽ trình bày các khái niệm được sử dụng trong đề tài, nghiên cứu trước có liên quan và đưa ra khung phân tích phù hợp. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 2. VIỆC LÀM Định nghĩa Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm làm sáng tỏ việc làm là gì.
Và ở các quốc gia khác nhau do ảnh hưởng của nhiều yếu tố (như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp.) người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm. Theo điều 13 Bộ luật lao động của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì việc làm được định nghĩa như sau: “Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều thừa nhận là việc làm.vn) Trên thực tế việc làm nêu trên được thể hiện dưới ba hình thức: + Một là, làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó. +Hai là, làm công việc để thu lợi nhuận cho bản thân mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu (một phần hay toàn bộ) tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó.
+Ba là, làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. Bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý. Khái niệm trên nói chung là khá bao quát nhưng chúng ta cũng thấy rõ hai hạn chế cơ bản. Hạn chế thứ nhất: hoạt động nội trợ không được coi là việc làm trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất 7 không hề nhỏ.
Hạn chế thứ hai: khó có thể so sánh tỉ lệ người có việc làm giữa các quốc gia khác nhau phụ thuộc vào luật pháp, tập quán,… Theo quan điểm của Mác: Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ.) để sử dụng sức lao động đó. Sức lao động do người lao động sở hữu. Những điều kiện cần thiết như vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,. có thể do người lao động có quyền sở hữu, sử dụng hay quản lý hoặc không.
Theo quan điểm của Mác thì bất cứ tình huống nào xảy ra gây nên trạng thái mất cân bằng giữa sức lao động và điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó đều có thể dẫn tới sự thiếu việc làm hay mất việc làm. Kết hợp các định nghĩa về việc làm và sự phù hợp với mục tiêu đề tài, khoá luận này định nghĩa việc làm là mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm và dưới sự quản lý của một tổ chức, cơ quan cá nhân hay nhà nước. Các chỉ tiêu đo lường việc làm Tỷ lệ người có việc làm: là tỷ lệ % của số người có việc làm so với dân số hoạt động kinh tế. Tỷ lệ người có việc làm đầy đủ: là tỷ lệ % của số người có việc làm đầy đủ so với dân số hoạt động kinh tế.
Dân số hoạt động kinh tế (DSHĐKT) là một bộ phận dân số cung cấp hoặc sẵn sàng cung cấp sức lao động cho sản xuất của cải vật chất và dịch vụ. DSHĐKT = Những người đang làm việc + những người thất nghiệp Những người đang làm việc = Những người trong độ tuổi lao động + ngoài tuổi lao động đang tham gia làm việc trong các ngành của nền kinh tế quốc dân. Những người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu tìm việc nhưng hiện tại chưa tìm được việc làm (http://tailieu. TÌNH TRẠNG VIỆC LÀM Tình trạng việc làm trong khóa luận này được định nghĩa là một bức tranh tổng quát mô tả các thông số liên quan đến việc làm của nhân viên như: tỷ lệ có việc làm, tỷ lệ 8 làm đúng ngành, mức thu nhập, địa phương công tác, mức độ thỏa mãn công việc, khả năng thăng tiến… 2.
THU NHẬP Thu nhập của người lao động: là tổng các khoản mà người lao động nhận được do sự tham gia của họ vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thu nhập của người lao động bao gồm: Tiền lương, tiền thưởng và các khoản phụ cấp, thu nhập khác: Gồm tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp và tiền thưởng trong lương; các khoản phụ cấp và thu nhập khác của người lao động được hạch toán vào chi phí sản xuất, vào giá thành sản phẩm như phụ cấp ca 3, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp đi lại, ăn giữa ca, trợ cấp thuê nhà và các khoản phụ cấp thường xuyên, không thường xuyên khác cho người lao động. Bao gồm các hình thức trả bằng tiền, bằng hiện vật như: Thực phẩm, đồ uống, nhiên liệu, quần áo (trừ quần áo bảo hộ lao động). Bảo hiểm xã hội trả thay lương: Là khoản cơ quan BHXH chi trả cho người lao động của doanh nghiệp trong thời gian nghỉ ốm, thai sản, tai nạn lao động.
theo chế độ quy định hiện hành. Các khoản thu nhập khác không tính vào chi phí sản xuất kinh doanh: Là các khoản chi trực tiếp cho người lao động nhưng không hạch toán vào chi phí sản xuất mà nguồn chi lấy từ quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, lợi nhuận của chủ doanh nghiệp hoặc từ các nguồn khác (quà tặng, thưởng của cấp trên. CÔNG VIỆC TRÁI NGÀNH Trái ngành hay đúng ngành là do cách nhìn của từng người ở quy mô phạm vi nhỏ hay rộng, khó có ranh giới chính xác. Có định nghĩa cho rằng công việc mà bản thân không yêu thích và chán nản gọi là công việc trái ngành.
Công việc thực sự thích, thực sự đam mê được gọi là công việc đúng ngành. 9 Công việc trái ngành trong khóa luận này được hiểu là làm công việc không liên quan đến chuyên môn được học ở trường, chính xác hơn là làm công việc không liên quan đến các từ ghi trong cái bằng đã được trường cấp. SỰ THỎA MÃN TRONG CÔNG VIỆC Hiện có khá nhiều khái niệm về sự thỏa mãn công việc. Ellickson & Logsdon (2002) cho rằng sự thỏa mãn công việc là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hay môi trường làm việc của họ.
Theo Quinn & Staines (1979), thỏa mãn công việc là phản ứng tích cực đối với công việc. Luddy (2005) cho rằng sự thỏa mãn công việc là phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc. Luddy nhấn mạnh rằng các yếu tố của sự thỏa mãn công việc bao gồm: vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ và các phần thưởng gồm: thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc, cơ cấu của tổ chức (Hà Nam Khánh Giao và Võ Thị Mai Phương, 2010). Herzberg & ctg (1959) cho rằng có 2 nhóm nhân tố liên quan đến sự thỏa mãn công việc: nhóm các nhân tố động viên và nhóm nhân tố duy trì.
Các nhân tố động viên gồm: thành tích, sự công nhận, công việc có tính thử thách, sự tiến bộ, sự trưởng thành trong công việc; các nhân tố duy trì gồm: chính sách công ty và cách quản trị của công ty, sự giám sát của cấp trên, lương bổng, mối quan hệ giữa các cá nhân, điều kiện làm việc, đời sống cá nhân, sự đảm bảo của công việc. Chỉ có những nhân tố động viên mới có thể mang lại sự thỏa mãn cho nhân viên, và nếu không làm tốt các nhân tố duy trì sẽ dẫn đến sự bất mãn của nhân viên. Mô hình đặc điểm công việc của Hackman và Oldham (1974) có 5 đặc điểm cốt lõi: sự đa dạng kỹ năng, hiểu công việc, công việc có ý nghĩa, tính tự chủ trong công việc và thông tin phản hồi, những đặc điểm cốt lõi này tác động lên 3 trạng thái tâm lý: hiểu được ý nghĩa công việc, trách nhiệm đối với kết quả công việc và nhận thức về kết quả công việc, từ trạng thái tâm lý này sẽ sinh ra các kết quả về công việc. 10 Theo Beckmann (1991) thông qua các bằng chứng về số liệu khảo sát của Chương trình khảo sát xã hội học quốc tế lấy ý kiến của những người đang làm việc tại 9 quốc gia (Úc, Hungary, Ireland, Italy, Netherlands, Norwway, Mỹ, Anh và Tây Đức) với độ tuổi từ 16 đến 65 tuổi và có thể tóm tắt ở nội dung chính sau: Một công việc tốt là một công việc phải đảm bảo các yếu tố sau: + Nội dung công việc phải phù hợp sở thích + Thu nhập cao + Thời gian làm việc vừa phải + Nội dung công việc phù hợp với năng lực + Có điều kiện phát triển năng lực cá nhân + Có cơ hội nghề nghiệp và khả năng thăng tiến + Ổn định công việc + Độc lập trong công việc + Không khí làm việc hòa nhã, năng động, đoàn kết.
Định nghĩa sự thỏa mãn công việc trong khóa luận này bao gồm sự thỏa mãn các yếu tố như vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ và các phần thưởng gồm: thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc và cơ cấu của tổ chức. LỢI ÍCH TỪ HOẠT ĐỘNG LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN Nhu cầu đi làm thêm của các sinh viên là vô cùng lớn, theo thống kê của hộị sinh viên thì có hơn 80% sinh viên Việt Nam trong thời gian học đại học ít nhất một lần đi làm thêm. Có rất nhiều công việc phù hợp với sinh viên: tiếp thị, bán hàng và gia sư. Việc làm thêm giúp ích sinh viên rất nhiều như kiếm thêm thu nhập, học được những kĩ năng ứng xử trong cuộc sống từ việc trao đổi với mọi người hàng ngày, được va chạm với thực tế để không bỡ ngỡ khi ra trường, mở rộng các mối quan hệ xã hội.