Tài liệu Y tế: Khảo sát tình hình sử dụng thuốc hướng thần ở bệnh nhân

Nghiên cứu khảo sát thực trạng sử dụng thuốc hướng thần cho bệnh nhân nhi khoa điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần Bệnh viện Bạch Mai năm 2017.

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2019

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của thuốc hướng thần

Thuốc hướng thần là những loại thuốc tác động trực tiếp vào hệ thần kinh trung ương, được sử dụng để điều trị các rối loạn tâm thần và các bệnh lý liên quan đến sức khỏe tâm thần. Đặc biệt ở nhóm bệnh nhân dưới 18 tuổi, việc sử dụng thuốc an thần kinh, thuốc chống trầm cảmthuốc bình thần đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều trị nội trú. Những thuốc này giúp kiểm soát các triệu chứng bệnh, cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm nguy cơ biến chứng tâm thần. Tuy nhiên, sử dụng thuốc hướng thần ở trẻ em và thanh thiếu niên yêu cầu sự giám sát chặt chẽ từ các chuyên gia y tế để đảm bảo hiệu quả điều trị và an toàn.

1.1. Định nghĩa thuốc hướng thần

Thuốc hướng thần (psychotropic drugs) là các chất liệu dùng điều trị các rối loạn tâm thần bằng cách tác động vào các neurotransmitter trong não. Nhóm này bao gồm thuốc an thần kinh (antipsychotics), thuốc chống trầm cảm (antidepressants), thuốc an thần kinh (anxiolytics) và các chất khác. Các loại thuốc này được phân loại theo thế hệ và cơ chế tác động để phù hợp với từng bệnh nhân cụ thể.

1.2. Ý nghĩa trong điều trị bệnh nhân dưới 18 tuổi

Việc sử dụng thuốc hướng thần ở trẻ em và thanh thiếu niên có ý nghĩa sâu sắc trong việc ổn định tâm lý, kiểm soát các triệu chứng bệnh tâm thần, và hỗ trợ phục hồi chức năng xã hội. Sử dụng đúng loại thuốc, liều dùng phù hợp và theo dõi tác dụng không mong muốn (ADR) là chìa khóa thành công trong điều trị.

II. Tình hình sử dụng thuốc hướng thần tại Viện Sức khỏe Tâm thần

Theo khảo sát thực hiện tại Viện Sức khỏe Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai năm 2017, tình hình sử dụng thuốc hướng thần ở bệnh nhân dưới 18 tuổi điều trị nội trú cho thấy những đặc điểm quan trọng về thực hành lâm sàng. Nghiên cứu ghi nhận các loại rối loạn tâm thần phổ biến bao gồm tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc, rối loạn liên quan đến stressrối loạn hành vi. Việc lựa chọn phác đồ điều trị, đánh giá hiệu quả và theo dõi tác dụng không mong muốn của thuốc hướng thần thể hiện sự cam kết của các chuyên gia y tế trong cải thiện kết quả điều trị. Dữ liệu thu thập từ bệnh nhân nằm viện cung cấp những thông tin quý báu về thực hành sử dụng thuốc an thần kinh, thuốc chống trầm cảm và các nhóm hướng thần khác.

2.1. Các rối loạn tâm thần chính gặp ở bệnh nhân

Các rối loạn tâm thần phổ biến nhất bao gồm tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc (trầm cảm, rối loạn lưỡng cực), rối loạn liên quan đến stress (PTSD, rối loạn lo âu) và rối loạn hành vi. Ngoài ra, rối loạn do sử dụng chất tác động tâm thần cũng là một vấn đề đáng quan tâm ở nhóm tuổi này. Mỗi bệnh lý yêu cầu phác đồ điều trị đặc thù với loại thuốc hướng thần phù hợp.

2.2. Phác đồ điều trị và lựa chọn thuốc

Phác đồ điều trị ban đầu được lựa chọn dựa trên chẩn đoán bệnh, tuổi tác, cân nặng bệnh nhân và các bệnh lý mắc kèm. Các chuyên gia y tế sử dụng thuốc an thần kinh thế hệ thứ hai (SGA), thuốc chống trầm cảm nhóm SSRI, SNRI hoặc TCA tùy theo từng rối loạn tâm thần cụ thể để đạt hiệu quả cao nhất.

III. Đánh giá tính hợp lý và tác dụng không mong muốn của thuốc hướng thần

Việc đánh giá tính hợp lý trong sử dụng thuốc hướng thần là bước quan trọng để đảm bảo an toàn bệnh nhân và hiệu quả điều trị. Nghiên cứu tại Viện Sức khỏe Tâm thần đã phân tích liều dùng, tương tác thuốcADR (tác dụng không mong muốn) của các loại thuốc hướng thần được sử dụng. Các tác dụng không mong muốn phổ biến bao gồm: tăng cân, rối loạn nội tiết, rối loạn vận động, rối loạn tiêu hóa và các triệu chứng thần kinh. Kiểm soát tương tác thuốc giữa các nhóm hướng thần với các loại thuốc khác là điều cần thiết. Các bác sĩ y tế tại viện thường xuyên theo dõi bệnh nhân để phát hiện sớm những tác dụng không mong muốn và điều chỉnh phác đồ điều trị kịp thời nhằm đạt được cân bằng tốt nhất giữa hiệu quả và an toàn.

3.1. Liều dùng và tuân thủ điều trị

Liều dùng của thuốc hướng thần cần được xác định chính xác theo độ tuổi, cân nặng và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Tuân thủ liều dùng đúng quy định là yếu tố then chốt để đạt hiệu quả điều trị tối đa và giảm nguy cơ tác dụng không mong muốn. Việc hướng dẫn bệnh nhân và gia đình về tầm quan trọng của tuân thủ điều trị giúp cải thiện kết quả lâm sàng.

3.2. Tác dụng không mong muốn và cách phòng ngừa

ADR của thuốc hướng thần bao gồm rối loạn chuyển hóa, triệu chứng ngoài tháp, rối loạn tình dục và rối loạn túi xoang. Phòng ngừa tác dụng không mong muốn thông qua giám sát định kỳ, điều chỉnh liều dùng và thêm thuốc hỗ trợ nếu cần thiết. Giáo dục bệnh nhân về những triệu chứng cần báo cáo ngay là rất quan trọng.

IV. Hiệu quả điều trị và khuyến nghị trong thực hành lâm sàng

Kết quả từ nghiên cứu tại Viện Sức khỏe Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai cho thấy hiệu quả của thuốc hướng thần trong điều trị các rối loạn tâm thần ở bệnh nhân dưới 18 tuổi là khá cao khi được sử dụng đúng cách. Thời gian nằm viện trung bình, khả năng hồi phục chức năng xã hội và giảm tái phát bệnh là những chỉ số quan trọng đánh giá hiệu quả của phác đồ điều trị. Các bác sĩ y tế cần tuân thủ các hướng dẫn lâm sàng mới nhất, thực hiện giám sát chặt chẽ tác dụng không mong muốn, và điều chỉnh phác đồ điều trị linh hoạt dựa trên đáp ứng bệnh nhân. Việc hợp tác giữa các chuyên gia tâm thần, dược sĩ và các thành viên gia đình là điều kiện tiên quyết để đạt được kết quả điều trị tốt nhất cho nhóm bệnh nhân dễ bị tổn thương này.

4.1. Đánh giá hiệu quả điều trị

Hiệu quả được đo lường thông qua các thang điểm lâm sàng, giảm độ nghiêm trọng triệu chứng bệnh, cải thiện hoạt động hàng ngày và khả năng tương tác xã hội. Theo dõi định kỳ bệnh nhân sau xuất viện giúp đánh giá tính bền vững của hiệu quả thuốc hướng thần và điều chỉnh kế hoạch điều trị dài hạn nếu cần thiết.

4.2. Khuyến nghị cho thực hành lâm sàng

Nên lập các phác đồ điều trị tiêu chuẩn cho từng loại rối loạn tâm thần, tăng cường đào tạo về thuốc hướng thần cho nhân viên y tế, và xây dựng hệ thống giám sát tác dụng không mong muốn toàn diện. Hợp tác đa ngành giữa tâm thần, dược lâm sàng và nhi khoa sẽ nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân trẻ em.

18/12/2025
Khảo sát tình hình sử dụng thuốc hướng thần ở bệnh nhân dưới 18 tuổi điều trị nội trú tại viện sức khỏe tâm thần bệnh viện bạch mai năm 2017

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 – TỔNG QUAN 1. Một số rối loạn tâm thần thường gặp ở đối tượng dưới 18 tuổi 1. Rối loạn lo âu Khái niệm: Lo lắng là một phản ứng bình thường của tâm lý con người đối với một mối đe dọa. Tuy nhiên, nếu sự lo lắng là vô cớ hoặc kéo dài mà không có sự hiện diện của mối đe dọa, gây suy giảm chức năng sống thông thường (học tập và công việc, giao tiếp xã hội, chăm sóc cá nhân), khi đó được xác định là rối loạn lo âu [30].

Dịch tễ: Rối loạn lo âu là rối loạn tâm thần phổ biến nhất ở trẻ em và vị thành niên. Ước tính trên toàn thế giới có khoảng 8,3 - 27% trẻ em từ 6 đến 18 tuổi bị ít nhất một rối loạn lo âu [11], trong đó biểu hiện mắc rối loạn lo âu lan tỏa chiếm tỉ lệ lớn nhất (6,5%) [9], làm tăng nguy cơ tự tử và có mối liên quan đáng kể tới tỉ lệ bệnh và tỉ lệ tử vong ở trẻ, các rối loạn lo âu ở trẻ có thể dẫn tới một loạt các rối loạn tâm thần khác về sau này [59]. Phân loại: Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10), rối loạn lo âu được xếp loại như sau [3]: F40 : Các rối loạn lo âu ám ảnh sợ F41 : Các rối loạn lo âu khác F41.0 : Rối loạn hoảng sợ F41.1 : Rối loạn lo âu lan tỏa F41.2 : Rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm F41.3 : Các rối loạn hỗn hợp lo âu khác F41.8 : Các rối loạn lo âu biệt định khác F41.9 : Rối loạn lo âu, không biệt định Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn lo âu lan toả (theo ICD-10) [3]: Biểu hiện lo âu: Sợ hãi, căng thẳng vận động, hoạt động quá mức thần kinh tự trị. Sự lo âu, sợ hãi là biểu hiện chính, chủ yếu, nguyên phát dẫn đến phản 2 Khao.2017 ứng sợ hãi quá mức.

Bệnh thường kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng. Điều trị rối loạn lo âu: Nhóm benzodiazepin và nhóm chống trầm cảm thường được sử dụng trong điều trị lo âu lan tỏa. Trong nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các thuốc an thần kinh mới liều thấp có tác dụng trong điều trị lo âu và trầm cảm. Một số thuốc hỗ trợ triệu chứng như propranolol, Magnesi B6 [3].

Rối loạn cảm xúc Khái niệm: Rối loạn cảm xúc là những rối loạn đặc trưng bởi sự xáo trộn cảm xúc, bao gồm trầm cảm và hưng cảm, một mình hoặc kết hợp [9]. Dịch tễ: Các rối loạn cảm xúc ở trẻ trước tuổi đi học thường ít gặp, tỉ lệ trầm cảm điển hình ở trẻ trước tuổi đi học được ước tính là 0,3% ở cộng đồng và 0,9% ở các cơ sở lâm sàng. Trong quần thể dân số chung, tỉ lệ trầm cảm gặp từ 1% đến 6% ở trẻ vị thành niên, trẻ gái cao gấp hai lần trẻ trai. Tỉ lệ mắc chung rối loạn lưỡng cực khởi phát sớm hiếm gặp, tỉ lệ mắc cả đời rối loạn lưỡng cực I và II khoảng 1% [9].

Phân loại: Theo ICD-10, rối loạn cảm xúc bao gồm giai đoạn hưng cảm, giai đoạn trầm cảm, rối loạn cảm xúc lưỡng cực, rối loạn trầm cảm tái diễn, rối loạn cảm xúc dai dẳng, rối loạn cảm xúc biệt định và rối loạn cảm xúc khác. Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn trầm cảm điển hình: Theo Chẩn đoán và Thống kê các Rối loạn Tâm thần lần thứ IV (DSM-IV-TR), rối loạn trầm cảm điển hình phải có ít nhất năm triệu chứng kéo dài trong hai tuần và có sự thay đổi chức năng tâm thần so với trước đó. Các triệu chứng chủ yếu là khí sắc giảm, cảm xúc không ổn định hoặc mất mối quan tâm thích thú trong các hoạt động. Các triệu chứng khác bao gồm trẻ không đạt được cân nặng theo tiêu chuẩn, mất ngủ hoặc ngủ nhiều, bất an hoặc chậm chạp tâm lý vận động, mệt mỏi hàng ngày hoặc mất năng lượng, cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi không phù hợp, giảm khả năng tuy duy và tập trung, ý nghĩ về cái chết tái diễn.

Các triệu chứng này không gắn với việc sử dụng chất tác động tâm thần hoặc bệnh lý nội khoa chung [9]. Điều trị rối loạn trầm cảm: Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin – norepinephrin 3 Khao. Các thuốc ức chế monoamin oxidase (Inhibitors of Monoamine Oxidase– IMAO) hiện nay ít dùng vì có nhiều tương tác thuốc. Trong trường hợp trầbảngm cảm có loạn thần, thường phối hợp với các thuốc an thần kinh.

Có thể sử dụng các thuốc chỉnh khí sắc để đề phòng tái phát, tái diễn trầm cảm [3]. Rối loạn hành vi tuổi thanh thiếu niên Khái niệm: Rối loạn hành vi (RLHV) là kiểu hành vi lặp đi lặp lại và kéo dài, trong đó các quyền cơ bản của người khác hay chuẩn mực xã hội bị vi phạm. Dịch tễ: Theo DSM-IV-TR đối với nam dưới 18 tuổi, tỷ lệ từ 6% đến 16%, với nữ tỉ lệ từ 2 đến 9%. Nam giới RLHV thường có hành vi hung hãn, nữ giới thường có hành vi không đối mặt [3].

Phân loại: Dựa trên tuổi khởi phát, RLHV được chia thành thể khởi phát tuổi trẻ em (trước 10 tuổi) và thể khởi phát tuổi thanh thiếu niên. Dựa theo mức độ, RLHV được chia ra làm ba nhóm: nhẹ, trung bình, nặng [3]. Tiêu chuẩn chẩn đoán (theo ICD-10): Có mô hình lặp đi lặp lại và dai dẳng, trong đó hoặc là các quyền cơ bản của những người khác hoặc những chuẩn mực hay luật lệ chính của xã hội phù hợp với lứa tuổi bị vi phạm, kéo dài ít nhất 6 tháng, trong thời gian đó một trong số các triệu chứng sau xuất hiện: Cơn cáu giận trầm trọng, cãi lời người lớn, đổ lỗi cho người khác, dễ bị làm khó chịu, có thái độ ác ý hoặc hận thù, gây sự đánh nhau, dùng vũ khí gây tổn thương, biểu hiện sự tàn bạo, phá hủy tài sản của người khác thường bằng cách đốt cháy, bỏ nhà đi hoặc trốn học, phạm tội có sự đối mặt với người bị hại, cưỡng ép người khác hoạt động tình dục. Rối loạn không đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán của rối loạn nhân cách chống đối xã hội, tâm thần phân liệt, giai đoạn hưng cảm, các rối loạn lan tỏa sự phát triển hoặc rối loạn tăng động [3].2017 Điều trị rối loạn hành vi tuổi thanh thiếu niên: Chủ yếu là liệu pháp gia đình và liệu pháp hành vi, liệu pháp hóa dược ít có ý nghĩa trong điều trị RLHV [3].

Tâm thần phân liệt Khái niệm: Tâm thần phân liệt là một rối loạn tâm thần mạn tính, tiến triển từ từ, ngày càng nặng dần, dẫn đến suy giảm về mặt cảm xúc, tư duy và hành vi, ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống của bệnh nhân [30]. Dịch tễ: Liên quan đến tuổi khởi phát, rối loạn tâm thần phân liệt ở trẻ em và thanh thiếu niên được chia thành: Tâm thần phân liệt khởi phát sớm (khởi phát trước 16 tuổi hoặc 17 tuổi): Một số bằng chứng cho thấy tỷ lệ tâm thần phân liệt xảy ra nhiều gấp 50 lần ở độ tuổi trên 15 [30]. Tỷ lệ nam/nữ chiếm ưu thế ở phần nam giới, 4% biểu hiện bệnh trước 15 tuổi [9]. Tâm thần phân liệt khởi phát rất sớm (khởi phát trước 13 tuổi): rất hiếm, tỉ lệ mắc là 2/1000000, tỉ lệ nam/nữ là 2/1 [30], tỉ lệ biểu hiện bệnh trước 10 tuổi là 0,1 – 1%, rất hiếm khi phát hiện ở trẻ dưới 5 tuổi [9].

Phân loại: Theo ICD-10, tâm thần phân liệt được xếp loại như sau [3]: F20.0 : Tâm thần phân liệt thể paranoid F20.1 : Tâm thần phân liệt thể thanh xuân F20.2 : Tâm thần phân liệt thể thể căng trương lực F20.3 : Tâm thần phân liệt thể không biệt định F20.4 : Tâm thần phân liệt thể trầm cảm sau phân liệt F20.5 : Tâm thần phân liệt thể di chứng F20.6 : Tâm thần phân liệt thể đơn thuần F20.8 : Các thể tâm thần phân liệt khác F20.9 : Tâm thần phân liệt thể không đặc hiệu Tiêu chuẩn chẩn đoán (theo ICD-10): Ít nhất phải có một triệu chứng rất rõ thuộc vào một trong các triệu 5 Khao.2017 chứng: tư duy vang thành tiếng, hoang tưởng, ảo thanh bình luận, hoặc ít nhất phải có hai triệu chứng là ảo giác gián đoạn kèm hoang tưởng, tư duy gián đoạn. Các triệu chứng trên phải tồn tại rõ ràng trong phần lớn khoảng thời gian một tháng hay lâu hơn. Không được chẩn đoán là tâm thần phân liệt nếu có các triệu chứng trầm cảm hay hưng cảm mở rộng. Không được chẩn đoán là tâm thần phân liệt khi có bệnh não rõ rệt hoặc bệnh nhân đang ở trạng thái nhiễm độc ma túy [3].

Điều trị tâm thần phân liệt: Thuốc chống loạn thần không điển hình là lựa chọn hàng đầu trong điều trị tâm thần phân liệt ở người lớn và trẻ em do có hiệu quả hơn trong việc làm giảm các triệu chứng âm tính và dương tính, ít nguy cơ gây ra các tác dụng ngoại tháp [3, 9, 27]. Đại cương về thuốc hướng thần 1. Khái niệm Thuốc hướng thần là các thuốc có tác dụng làm dịu hoặc kích thích tâm thần, dẫn đến sự điều chỉnh lại một số tổn thương về hành vi, về tâm trạng, khí sắc, hoặc tư duy, suy nghĩ trong các trạng thái trầm cảm, hưng phấn, lo âu mất thăng bằng cảm xúc [2]. Phân loại Theo Delay và Deniker (1957), thuốc hướng thần được chia làm 4 nhóm: Thuốc an thần kinh, thuốc bình thần, thuốc chống trầm cảm và thuốc chỉnh khí sắc [2].

Các thuốc hướng thần 1. Thuốc an thần kinh Khái niệm Thuốc an thần kinh là thuốc an thần mạnh, chống rối loạn tâm thần thể hưng cảm, làm giảm các kích thích về tâm thần, giảm ý thức, hoang tưởng, ảo giác, lo sợ,… tạo cảm giác thờ ờ, lãnh đạm [2].2017 Phân loại Thuốc an thần kinh được chia thành hai loại là thuốc an thần kinh thế hệ thứ nhất (FGA) và thuốc an thần kinh thế hệ thứ hai (SGA) [46]. Cơ chế và tác dụng dược lý Mặc dù cơ chế hoạt động cụ thể của thuốc an thần kinh chưa được làm sáng tỏ, thuốc an thần kinh đã được chứng minh là gây phong tỏa sau synap tại thụ thể dopamin D2 và serotonin 5-HT2A [52]. Các thuốc phong toả thụ thể dopamin D2 làm giảm các biểu hiện của bệnh tâm thần.

Các nơron của hệ tiết dopamin đều xuất phát từ não giữa [30], tạo thành các đường dẫn truyền: não giữa – thể vân, não giữa – hệ viền, não giữa – vỏ não, ụ phễu - tuyến yên [2]. Các thuốc phong tỏa thụ thể serotonin 5-HT2A làm tăng hoạt hệ tiết dopamin não giữa - vỏ não, làm giảm các triệu chứng âm tính [2].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ