CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TRÊN CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH 1. Thông tin đối ngoại và thông tin đối ngoại trên truyền hình 1. Thông tin đối ngoại: Thông tin được quan niệm là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người. Theo quan điểm Triết học, thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội bằng ngôn từ, kí hiệu, hình ảnh.
hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người. Xã hội càng phát triển yêu cầu thông tin càng đa dạng phong phú và ngược lại, sự phát triển của thông tin thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Phạm Minh Sơn đã rút ra khái niệm thông tin đối ngoại trong cuốn “Thông tin đối ngoại Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” như sau: “Thông tin đối ngoại là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng và đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nhằm làm cho thế giới hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, những thành tựu trong công cuộc đổi mới của Việt Nam, đất nước, con người, lịch sử, văn hóa, những giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc Việt Nam; đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc, chống phá Việt Nam; làm cho nhân dân ta hiểu rõ về thế giới; đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, sự đồng thuận và đóng góp của đồng bào ta ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.16] Như vậy, có thể hiểu thông tin đối ngoại là hoạt động có chủ đích của một quốc gia hướng tới chính phủ và nhân dân các quốc gia khác để thông tin mọi mặt về quốc gia mình, nhằm xây dựng hình ảnh quốc gia ở bên ngoài theo cách mà quốc gia đó mong muốn. Theo định nghĩa trên, thông tin đối 10 ngoại là một trong những công cụ phổ biến được sử dụng trong quan hệ quốc tế và có ảnh hưởng lớn đến hoạt động đối ngoại của mọi quốc gia trên thế giới.
Các quốc gia khi hoạch định chính sách đối ngoại đều đề ra chủ trương về tuyên truyền đối ngoại và thực tế cho thấy, thành công hay thất bại trong việc thực hiện chính sách đối ngoại một phần tùy thuộc vào khả năng chiếm được lợi thế thông tin. Theo Quy chế quản lý nhà nước về thông tin đối ngoại được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 79/2010/QĐ-TTg ngày 30/11/2010 thì: "Thông tin đối ngoại là thông tin quảng bá hình ảnh quốc gia, đất nước, con người, lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam; thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước Việt Nam ra thế giới và thông tin về thế giới vào Việt Nam". [34, 67] Kết luận số 16-KL/TW ngày 14/02/2012 của Bộ Chính trị về Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011-2020 đã chỉ rõ: "Công tác thông tin đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng trong công tác tuyên truyền, công tác tư tưởng của Đảng và là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; thực hiện công tác thông tin đối ngoại là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị; cần phát huy tính thần chủ động, sáng tạo, huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong hoạt động thông tin đối ngoại". [35, 45] Về nội dung của thông tin đối ngoại, theo Điều 6, Nghị định 72/2015/NĐ-CP được ban hành ngày 7/9/2015, có hiệu lực ngày 22/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về Quản lý hoạt động thông tin đối ngoại quy định: "Thông tin đối ngoại bao gồm thông tin chính thức về Việt Nam, thông tin quảng bá hình ảnh Việt Nam và thông tin tình hình thế giới vào Việt Nam".
Trong đó, thông tin chính thức về Việt Nam là thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thông tin về tình hình Việt Nam trên các lĩnh vực; thông tin về lịch sử Việt Nam và các thông tin khác (Điều 7). Thông tin quảng bá hình ảnh Việt Nam là thông tin về đất nước, con 11 người, lịch sử văn hóa của dân tộc Việt Nam (Điều 8). Thông tin tình hình thế giới vào Việt Nam là thông tin về tình hình quốc tế trên các lĩnh vực, về quan hệ giữa Việt Nam với các nước và các thông tin khác nhằm thúc đẩy quan hệ chính trị, xã hội, văn hóa, quốc phòng - an ninh giữa Việt Nam với các nước, phục vụ phát triển kinh tế đất nước, thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam (Điều 9). Ngoài ra, thông tin đối ngoại còn bao gồm cả việc cung cấp thông tin giải thích, làm rõ, tức là những tư liệu, tài liệu, hồ sơ, lập luận nhằm giải thích, làm rõ các thông tin sai lệch về Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực (Điều 10).
Từ những phân tích và tham chiếu ở trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm chung nhất về thông tin đối ngoại trên báo chí là việc sử dụng các loại hình báo chí (báo in, báo hình, báo phát thanh, báo điện tử) để thông tin giới thiệu về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước; giới thiệu hình ảnh đất nước, con người, lịch sử, văn hóa, tiềm năng hợp tác và phát triển của Việt Nam; phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc, chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc…, đưa thông tin trong nước đến với bạn bè quốc tế và ngược lại, một cách thông suốt, chính xác, góp phần quảng bá và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Thông tin đối ngoại trên truyền hình * Khái niệm truyền hình Trong cuốn “Truyền thông đại chúng”, NXB Chính trị Quốc gia (Hà Nội, 2001) tác giả Tạ Ngọc Tấn cho rằng: “Truyền hình là một loại hình phương tiện thông tin đại chúng chuyển trải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh. Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình bắt đầu từ hai từ Tele có nghĩa là “ở xa” và Vision nghĩa là “thấy được”, tức là “thấy được ở xa” [25, tr. Âm thanh trong truyền hình bao gồm lời nói của con người, âm nhạ, tiếng động và các âm thanh của hiền trường ghi lại như tiếng gió, 12 mưa sấm, tiếng kêu cứu của muông thú, tiếng hót của chim chóc,.
Sự kết hợp của hình ảnh và âm thanh tạo cho truyền hình khả năng chuyển tải các nội dung thông tin vô cùng phong phú. Sự ra đời của truyền hình đã đóng góp cho hệ thống truyền thông đại chúng ngày càng hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn phát triển về chất lượng. Công chúng của truyền hình ngày càng được mở rộng đa dạng đối tượng tiếp cận, không rào cản. Nhờ có những lợi thế về mặt công nghệ kĩ thuật, truyền hình đã làm cho cuộc sống thực tiễn được cô động và thu nhỏ lại thông qua màn hình TV, làm giàu thêm ý nghĩa, sáng tỏ hơn về hình thức và phong phú hơn về nội dung của sự vật, hiện tượng.
Nguyễn Văn Dững đưa ra quan niệm về truyền hình: Truyền hình là kênh truyền thông đại chúng ra đời sau, kế thừa được các thế mạnh của các kênh trước đó như điện ảnh, phát thanh, báo mạng, báo in,… Và ngày nay đang được hưởng thụ những ưu điểm của môi trường truyền thông số [8, 65]. Truyền hình là kênh truyền thông chuyển tải thông điệp bằng hình ảnh động với nhiều màu sắc vốn có từ cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc, tiếng động. Chính vì những yếu tố này, truyền hình đem tới cho công chúng bức tranh sống động với cảm giác như đang được trực tiếp tiếp xúc và cảm thụ. Có thể nhận định, các khái niệm trên đều xác định phương tiện ngôn ngữ của truyền hình là hình ảnh và âm thanh.
Đây cũng chính là đặc trưng của truyền hình, yếu tố phân biệt truyền hình với các loại thông tin báo chí khác. Sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố hình ảnh và âm thanh đưa tới cho truyền hình khả năng chuyển tải các nội dung phong phú của đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu thông tin cho đông đảo công chúng. * Thông tin đối ngoại trên truyền hình Trong khuôn khổ luận văn này, dựa trên các khái niệm, đặc điểm về truyền hình, thông tin đối ngoại, có thể hiểu thông tin đối ngoại trên truyền hình là sử dụng truyền hình trong công tác thông tin đối ngoại để thông tin 13 quảng bá hình ảnh quốc gia, đất nước, con người, lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam; thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước Việt Nam ra thế giới và thông tin về thế giới vào Việt Nam. Công tác thông tin đối ngoại qua báo truyền hình được thực hiện chủ yếu qua hoạt động của Đài truyền hình Việt Nam – VTV.
Ngay từ những ngày đầu thành lập Đài truyền hình Việt Nam (7/9/1970), thông tin đối ngoại đã được xác định là lĩnh vực dược quan tâm và có vị trí đặc biệt trong hoạt động của Đài. Công tác giao lưu, không ngừng học hỏi, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn của Đài truyền hình Việt Nam từ những ngày đầu thành lập đã góp phần đưa những thước phim tài liệu, những tin tức, phóng sự về đất nước, con người Việt Nam, về cuộc chiến tranh anh dũng, kiên cường của người dân Việt,. đến với bạn bè thế giới qua kênh truyền hình của một số nước, góp phần giúp bạn bè hiểu rõ thêm về Việt Nam, tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của dư luận thế giới. Ngày 27/2/2002 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập Ban truyền hình đối ngoại trực thuộc Đài truyền hình Việt Nam.
Ban truyền hình đối ngoại có chức năng sản xuất, khai thác các chương trình truyền hình để phát trên kênh đối ngoại đáp ứng yêu cầu thông tin, nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, của bạn bè quốc tế quan tâm yêu mến Việt Nam. Các chương trình của VTV4 được xây dựng trên cơ sở chọn lọc các chương trình của các kênh VTV1, VTV2 và VTV3 của Đài truyền hình Việt Nam, được biên tập phù hợp và đối tượng của kênh đối ngoại. Hiện nay có rất nhiều hình thức và phương tiện truyền tin bởi sự phát triển của khoa học, công nghệ. Các phương tiện truyền thông đại chúng trong thông tin đối ngoại đang được sử dụng phổ biến hiện nay là báo in, báo hình, báo nói, báo điện tử, và các loại điện thoại thông minh, hay internet (sách điện tử, tờ rơi, quảng cáo, tiếp thị,.