MỞ ĐẦU Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã đem lại cho con người nhiều thành tựu to lớn phục vụ cho cuộc sống, nhưng bên cạnh đó cũng gây ra không ít những vấn đề nhức nhối về sức khoẻ con người, đặc biệt các loại bệnh tật không ngừng gia tăng, đòi hỏi phải có những loại thuốc thích ứng. Việc sử dụng các loại thuốc tổng hợp trong điều trị gây ra các tác dụng phụ không mong muốn. Do vậy xu hướng ngày nay trên thế giới cũng như Việt Nam người ta đi tìm các hợp chất thiên nhiên đặc biệt là các hợp chất có hoạt tính sinh học để ứng dụng vào dược phẩm, thực phẩm và mỹ phẩm. Việt Nam có khí hậu nhiệt đới nên thảm thực vật rất phong phú, lại có nền Y học cổ truyền từ rất lâu đời, có rất nhiều cây thuốc mọc hoang dại như cỏ tranh, cỏ cú (Hương phụ), được sử dụng nhiều theo kinh nghiệm dân gian nhưng chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống và bài bản, do đó việc nghiên cứu thành phần hóa học cũng như hoạt tính sinh học của chúng là vấn đề cần thiết và quan trọng.
Nhằm góp phần vào việc nghiên cứu thành phần hóa học của các cây cỏ hoang dại, mục tiêu của đề tài tiến hành khảo sát thành phần hóa học của cây cỏ cú biển hay còn gọi cây Hương phụ biển, nhằm tìm hiểu thành phần hóa học cũng như góp phần làm sáng tỏ hoạt tính sinh học mà dân gian đang áp dụng. PHẦN TỔNG QUAN LÊ THỊ ANH THƯ I. ĐẠI CƯƠNG VỀ THỰC VẬT I. Đặc điểm cây hương phụ biển[1, 2, 3] Tên khoa học: Cyperus stoloniferus Retz.1786 Cây Hương phụ biển (Cyperus stoloniferus) Ngành: Mộc Lan (Magnoliophyta) Lớp: Hành (Liliopsida) Bộ: Cói (Cyperales) Họ: Cói (Cyperaceae) Chi: Cyperus Loài: Stoloniferus Tên Việt Nam: Tam lăng, Cói gấu biển; Cú biển; Cói củ; Cỏ gấu biển; Hương phụ biển; Hải hương phụ.
Tên khác: Cyperus litoralis R., Cyperus bulbosus var., Cyperus stoloniferus Vahl., Cyperus stoloniferus sensu Phamh. Mô tả cây hương phụ biển: (a) dạng chung, (b) bông chét, (c) thân rễ. Hình 1:Cây hương phụ biển Trang 1 PHẦN TỔNG QUAN LÊ THỊ ANH THƯ Hình 2: Hương phụ biển mọc hoang ở vùng cửa biển tỉnh Phú Yên Hình 3: Thân rễ Hương phụ biển Hình 4: Bột thân rễ Hương phụ biển Cây Hương phụ biển cỏ lưu niên, có thân rễ hình thoi, thể chất chắc dài từ 1- 5cm, đường kính 0,5- 1,5 cm, mặt ngoài màu nâu hay nâu sẫm có nhiều nếp nhăn dọc và đốt ngang (mỗi đốt cách nhau 0,1-0,6 cm) trên mỗi đốt có lông cứng mọc thẳng góc với củ, có nhiều vết tích của rể con. Vết bẻ có sợi bóng nhoáng, cắt ngang thấy rỏ phần vỏ có màu xám nhạt; phần vỏ có màu hồng nhạt, trụ giữa có màu nâu sẫm.
Mùi thơm, vị hơi đắng ngọt, sau đó có vị hơi cay. Thân cao 15-30 cm, có 3 cạnh lá rộng 2-3 mm. Cụm hoa có 2-3 lá bắc dài; tia ngắn; bông chét nâu, dài 6-12 mm, vẩy dài 2-2,6 mm, không mũi. Trang 2 PHẦN TỔNG QUAN LÊ THỊ ANH THƯ I.
Phân bố và sinh thái Chi Cyperus có khoảng 700 loài phân bố rộng rãi khắp thế giới. Ở Việt Nam có khoảng 45 loài trong đó có hai loài là Hương phụ vườn và Hương phụ biển. Hương phụ phân bố rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ và châu Đại Dương. Ở Việt Nam Hương phụ biển thường mọc tập trung trên các vùng cát ven biển hoặc bãi cát cửa sông dọc theo bờ biển nước ta từ Móng Cái đến Hà Tiên; có nhiều ở Nghệ An, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam - Ðà Nẵng, Bình định, Phú Yên và Bình Thuận.
Có nơi chúng mọc thành các quần thể lớn. Hương phụ thu hoạch quanh nǎm. Người ta thu hái củ vào mùa xuân hay mùa thu, vun củ lại thành đống để đốt cho cháy lá và rễ con rồi lấy củ đem phơi hay sấy khô. Hương phụ biển là nguồn dược liệu được sử dụng rất phổ biến trong dân gian.
Hiện trên thị trường có hai loại Hương phụ vườn (Cyperus rotundus L.) và Hương phụ biển (Cyperus stoloniferus Retz. Hằng năm, loại dược liệu này cung cấp hàng trăm tấn cho nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu. Bộ phận dùng: Thân rễ Thông thường, người ta đào củ về rửa sạch đất cát, phơi khô, đốt cho cháy hết lông, cất nơi khô ráo đề dùng dần làm thuốc. Tác dụng dược lý của Hương phụ biển I.
Y học dân gian [1,2,3] Tính vị: Vị cay, hơi đắng, tính hàn. Quy kinh: Vào kinh Can, kiêm vào 12 kinh mạch. Tác dụng: Thuốc điều khí, khai uất, thông kinh. Chủ trị: Thông kinh nguyệt không đều, chữa các chứng trong thai sản, trừ đờm, tiêu thực, giảm đau.
− Can khí uất kết: Đau vùng hông sườn và cảm giác tức ở ngực: Dùng Hương phụ với Sài hồ, Uất kim và Bạch thược. − Can khí phạm Vị biểu hiện như chướng và đau bụng và thượng vị: Dùng Hương phụ với Mộc hương, Hương duyên và Phật thủ. Trang 3 PHẦN TỔNG QUAN LÊ THỊ ANH THƯ − Vị hàn, khí trệ: Dùng Hương phụ với Cao lương khương trong bài Lương Phụ Hoàn. − Can hàn: Sưng đau tinh hoàn hoặc thoát vị: Dùng Hương phụ với Tiểu hồi hương và Ô dược.
− Can khí uất trệ: Kinh nguyệt không đều, vú căng và đau: Dùng Hương phụ với Sài hồ, Đương qui và Xuyên khung. Dùng sống: Thông khí, trừ đờm. Tẩm sao: Vào Can Thận, điều khí huyết, thông kinh, huyết hư, nhuận táo, hành kinh lạc. Sao cháy: Chỉ huyết, bổ hư.
Liều dùng: Ngày dùng 6 – 12 g. Cách Bào chế: Theo Trung Y: Rửa sạch mài xác trên đá nhám cho sạch hết vỏ, ngâm vào nước đái trẻ em cho thấu mềm. Phơi khô, giã nát, hoặc dùng sống hoặc sao, hoặc tẩm giấm hay muối tuỳ từng trường hợp (Bản Thảo Cương Mục). Theo kinh nghiệm Việt Nam: Khi đào về người ta phơi khô rồi sao cho cháy lông và rễ con.
Hương phụ mễ (sinh Hương phụ): Phơi thật khô, giã với trấu (cứ 1kg củ cho vào 0,5 kg trấu) bằng chày nhọn đầu cho trụi hết lông, vỏ. Việc làm sạch vỏ và lông đòi hỏi nhiều công, giã không khéo sẽ bị nát. Hương phụ thán: Lấy Hương phụ rửa lại cho sạch, phơi khô, sao cho cháy đen tồn tính, bắc chảo ra lấy vung úp lại cho nguội, có thể tán bột. Hương phụ chế: cách này thường dùng.
Lấy l kg Hương phụ mễ, chia làm 4 phần: Phần I: 250 g tẩm với 200 ml giấm (có độ Acid acetic trên dưới 5%). Phần 2: 250 g tẩm với 200 ml đồng tiện của trẻ em khoẻ mạnh (lấy phần giữa nước tiểu). Phần 3: 250 g tẩm với 200 ml nước muối 15%. Phần 4: 250 g tẩm với 200 ml rượu 40o.
Trang 4 PHẦN TỔNG QUAN LÊ THỊ ANH THƯ Mỗi phần sau khi tẩm để 1 đêm, sáng hôm sau giã dập, sao khô đến khi thấy mùi thơm là được, trừ phần tẩm rượu thì sao khô giã dập rồi mới tẩm rượu. Để riêng từng phần cho vào lọ kín. Có thể trộn chung 4 phần vào nhau đựng trong lọ kín. Sau khi tẩm sao, tán bột để làm hoàn tán.
Phần tẩm giấm và tẩm đồng tiện là 2 phần quan trọng nhất, không thể không tẩm hai thứ này được. Kiêng kỵ: Chứng âm hư và huyết nhiệt không nên dùng.2 Tác dụng dược lý [1,2, 3, 10, 13, 15, 17, 23, 26, 30, 36, 38, 40, 41,42,43] Đối với tử cung [1, 2, 3, 17]:Theo Trương Phát Sơ, Trương Diệu Đức và Lưu Thiệu Quang đã dùng vị Hương phụ nguồn gốc ở tỉnh Quảng Đông, chế thành cao lỏng 5% tiến hành thí nghiệm 102 lần trên tử cung cô lập của thỏ, mèo, chó và chuột bạch đã chứng minh hương phụ có tác dụng ức chế co bóp tử cung, đồng thời làm giảm trương lực. Trên tử cung có chữa cũng như trên tử cung bình thường, cao Hương Phụ đều có tác dụng ức chế. So sánh với đương quy, tác dụng ức chế co bóp tử cung của Hương Phụ yếu hơn.Thành phần tinh dầu chiết từ Hương phụ có tác dụng kiểu estrogen, nhưng không mạnh.
Tác dụng giảm đau [1, 2, 3, 10]: Dịch chiết bằng cồn từ Hương phụ, thí nghiệm trên chuột nhắt trắng gây đau bằng kích thích điện, bằng đường tiêm dưới da với liều 0,5 ml/20 g, dung dịch 20% có tác dụng tăng cao ngưỡng kích thích gây đau. Tác dụng ức chế thần kinh trung ương [1, 2, 3]: Tinh dầu Hương phụ, thí nghiệm trên chuột nhắt trắng bằng đường tiêm phúc mạc với liều 0,03 ml/chuột, có tác dụng kéo dài thời gian gây ngủ của Pentobarbital. Trên Thỏ thí nghiệm, tinh dầu Hương Phụ tăng cường tác dụng gây mê của Scopolamin. Về cơ chế tác dụng, qua thí nghiệm chứng tỏ Hương phụ ức chế chủ yếu quá trình dẫn truyền các xung thần kinh qua sy nap của tế bào vùng hải mã và bó tháp, còn đối với dẫn truyền qua sợi trục thần kinh thì không có tác dụng ức chế.
Các tác dụng khác: Tác dụng chống nôn [1, 2, 3, 23, 40, 43]: Dung dịch trích từ rễ bằng ethanol có tác dụng chống nôn mữa nơi chó do ở hoạt tính đối kháng phản ứng tạo nôn mữa gây ra bởi apomorphine. Trang 5 PHẦN TỔNG QUAN LÊ THỊ ANH THƯ Hoạt tính kháng viêm và hạ nhiệt [1, 2, 3, 17] : Dịch chiết từ rễ Hương phụ bằng những dung môi hữu cơ có tác dụng chống sưng rất rõ đối với phản ứng phù tạo ra do carageenan nơi chuột bạch tạng dịch chiết bằng petroleum ether ức chế được 75%, chloroform 60.7 % ở liều 10 mg/kg, so sánh với hydrocortisone ức chế được 57.7 %, hoạt chất chống viêm chủ yếu là α- cyperen có tác dụng ức chế sự hình thành prostaglaridin E2. Dịch chiết bằng alcol từ thân có tác dụng hạ nhiệt, có thể so sánh với sodium salicylate (trong thử nghiệm gây tăng thân nhiệt bằng men). Các hoạt tính này được cho là do ở beta sitosterol trong cây.
Tác dụng chống ký sinh trùng sốt rét [1, 2, 3, 10, 13, 18, 41]: Peroxycalamenene, một sesquiterpene loại endoperoxyde, ly trích từ thân cỏ cú có tác dụng chống ký sinh trùng sốt rét ở nồng độ EC50 2. Các dịch chiết từ thân Hương phụ bằng dichloromethane, petroleum ether và methanol cho thấy tác dụng chống Plasmodium falciparum chủng K1. Liều IC50 là 5-9 g/ml cho dịch chiết bằng dichloromethane, và 10-49 g/ml cho petroleum ether hay methanol. Tác dụng chống béo phì [1, 2, 3]: Trong một thử nghiệm trên 30 người mập phì cho dùng bột tán từ thân Hương phụ trong 90 ngày: Kết quả ghi nhận có sự giảm cân cùng với giảm cholesterol và triglycerides trong máu.