ĐẶT VẤN ĐỀ Nấm Linh chi là một họ ăn được quan trọng trong môi trường tự nhiên, nấm này được phát hiện ở hầu như khắp nơi trên thế giới, chúng phân bố ở hầu hết các khu rừng cận nhiết đới và nhiệt đới và ở Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Á, được biết đến và sử dụng lâu đời nhất ở Ấn Độ, Trung quốc và Việt Nam. Linh chi từ lâu đã được xem là một loại dược liệu mang nhiều hợp chất quý. Những loài thuộc họ Ganodermataceae thường được sử dụng hiệu quả trong điều trị thấp khớp, viêm phế quản, hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân đang thực hiện hóa trị liệu cũng như một số bệnh khác (Liu và cộng sự, 2016). Quả thể của nấm Linh chi đã được dùng rộng rãi trong y học cổ truyền Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam để điều trị nhiều loại bệnh từ thời cổ đại (Kleinwachter và cộng sự, 2001).
Các sản phẩm từ nấm Linh chi (Ganoderma) được dùng để hỗ trợ điều trị nhiều bệnh như bệnh tiết niệu, gan, ung thư, tim mạch, AIDS. Trong quả thể của Ganoderma lucidum có tác dụng kìm hãm sự sinh trưởng và phát triển của virus HIV do chứa các hoạt chất khác nhau có hoạt tính kháng virus (Weng và cộng sự, 2010). Các hoạt chất từ Ganoderma lucidum có tác dụng chống khối u cao, chúng được sử dụng trong điều trị ung thư: phổi, vú, dạ dày. Ngoài ra, các hợp chất từ Linh chi có khả năng hạn chế và loại trừ những tổn thương do phóng xạ ở mô và tế bào và đào thải phóng xạ.
Các bài báo trước đây cho thấy khả năng sinh ra các hợp chất sinh học có tính chất y học quý của nấm Linh chi là khả quan (Lê Xuân Thám và Trịnh Tam Kiệt, 1995). Trong nhiều năm trở lại đây, các phương pháp phân tích định tính, định lượng mới đã cho phép xác định hàm lượng lớn các chất hóa học có trong quả thể, tơ nấm và bào tử nấm Linh chi như: saponin, triterpenoids, steroid, polysacharide, amino acid, chất khoáng, … trong đó polysacharide và triterpenoid được xem là thành phần chính mang nhiều hoạt tính sinh học của nấm. Tuy các hợp chất sinh học đã được tìm ra nhưng việc phân tích, chiết xuất các hợp chất có hoạt tính sinh học này chủ yếu thực hiện trên bào tử nấm. Ngoài ra việc chiết xuất cao tổng để thực hiện một số hoạt tính sinh học của nấm 1 2 Linh chi như: kháng khuẩn, kháng nấm, chống oxi hóa tế bào, chống ung thư,… cũng là một đề tài đáng được quan tâm.
Vì vậy, với mục đích đóng góp một phần nhỏ của mình vào việc nghiên cứu xác định các hoạt chất có trong quả thể nấm Linh chi và khảo sát một số hoạt tính sinh học của cao chiết từ quả thể nấm, chúng tôi đã có những nghiên cứu sơ bộ được thực hiện trong khóa luận tốt nghiệp với tên đề tài: “Khảo sát sơ bộ thành phần hóa học và đánh giá hoạt tính kháng nấm của nấm Linh chi (Ganoderma lucidum)”. Đề tài này nhằm nghiên cứu về các vấn đề như: Những thành phần hóa học có trong cao chiết của quả thể nấm, khảo sát hoạt tính kháng nấm trên các nồng độ khác nhau. Thông qua các kết quả của đề tài, bước đầu có thể giúp chúng ta có thể xác định thành phần loài nhằm bảo tồn được sự đa dạng sinh học, đánh giá và bổ sung thêm một số tính chất dược liệu quý của nấm Linh chi được nuôi trồng ở Việt Nam. PHẦN I: TỔNG QUAN 3 1.
Tổng quan về nấm Linh chi (Ganoderma lucidum) Chi Ganoderma hiện nay có khoảng 250 loài trên thế giới. Trong đó, Ganoderma lucidum là loài được sử dụng nhiều nhất để chăm sóc sức khỏe cho đến thời điểm hiện tại (Theo Bộ Y tế, 2013). Nấm Ganoderma lucidum gọi là Lingzhi theo tiếng Trung Quốc, Reishi theo tiếng Nhật Bản, gọi là nấm Lim, nấm Tiên Thảo hay nấm Trường Thọ ở Việt Nam. Ngoài ra còn một số tên gọi khác như của nấm Linh chi như: Bất lão, Chi linh, Nấm lim,… phân bố rộng ở các vùng trên thế giới.
Tên Linh chi đã được chính thức sử dụng theo sách “Thần nông bản thảo” trong số rất nhiều tên gọi. Vị trí phân loại Theo hệ thống phân loại thực vật học Donk. (1948), nấm Linh chi (Ganoderma lucidum) có vị trí phân loại như sau: Giới: Fungi (nấm) Ngành: Basidiomycota (Nấm đảm) Lớp: Agaricoycetes (Nấm đảm) Bộ: Polyporales (Nấm đa tầng) Họ: Ganodermataceae (Nấm lim) Chi: Ganoderma (Linh chi) Loài: Ganoderma lucidum 1. Đặc điểm cấu tạo Nấm Linh chi thường gặp ở dạng quả thể, tai nấm hóa gỗ gồm 2 phần: mũ nấm và cuống nấm (Trịnh Tam Kiệt, 2011).
4 Thân nấm dài hoặc ngắn, thường đính lệch hoặc đính tâm với mũ nấm. Thân nấm có đường kính khoảng 0,3 – 0,8 cm phần lớn có hình trụ mảnh hoặc to chắc có đường kính tới 1,5 – 4 cm, không phân nhánh đôi lúc có uốn lượn có hình vòng cung (do biến dạng trong quá trình nuôi trồng). Lớp vỏ thân màu nâu đỏ, đỏ, nâu đen bóng, không có lông trên mặt nấm. Mũ nấm khi còn non có hình tròn dẹp và sau trở thành hình rẻ quạt.
Mũ nấm thuôn dài, ít khi có hình vảy, bị biến dạng. Trên bề mặt mũ nấm có màu sắc là vàng nghệ, vàng chanh, vàng cam, vàng nâu, nâu tím, đỏ nâu, nâu đen và nhẵn những vân sóng đồng tâm và rãnh phóng xạ,. Thường sẫm dần theo tuổi, lớp vỏ bao phủ phía trước mũ, đôi lúc có ánh xanh tía. Kích thước tán rất khác nhau, từ 3 – 35 cm đến dày 1 - 4 cm.
Mặt dưới mũ màu vàng hoặc trắng, phẳng, có nhiều lỗ nhỏ là nơi sinh trưởng và giải phóng bào tử nấm. Bào tử nấm bị cắt cụt bởi 2 lớp vỏ có nhiều đoạn nối từ trong ra ngoài. Phần đính kèm thân được nâng lên hoặc lõm xuống. Thịt nấm dày 0,5 - 2,3 cm, màu trắng sữa - nâu nhạt – vàng sữa, chia thành lớp dưới và lớp trên.
Có thể nhìn thấy các sợi nấm hướng lên trên ở các lớp trên. Dưới kính hiển vi chỉ thấy những sợi phồng có đầu giống hình que, màng dày đan xen chặt chẽ hình thành lớp vỏ nhẵn (dày khoảng 0,3 - 0,6 mm). Nấm chống được mưa và nắng nhờ lớp bóng không thấm nước. Hệ sợi đi xuống đều đặn ở lớp dưới, bên cạnh lớp bào tử.
Lớp mầm (lớp tế bào-lớp thụ thể-lớp dưới màng) là một lớp hình ống, dày 0, - 1,9 cm có màu nâu, gồm các ống nhỏ thẳng, miệng gần tròn, màu chanh nhạt, khoảng 2 - 5 ống / mm. Holobasidies có dạng bầu dục, dạng que, không màu, dài 15 - 21 µm, với bốn bào tử cơ bản. Đôi khi các tác giả mô tả chúng giống như hình bầu dục với các đầu tròn. Nó thực sự là do phồng lên của nắp trên hoặc một vết lõm ở thành trong.
Bào tử có cấu tạo hai mảnh vỏ, màu vàng chanh tươi, có một giọt hình cầu ở giữa các lớp nội chất, giống như giọt nước, bào tử có kích thước rất nhỏ, kích thước thay đổi từ 8 đến 11,5. 6- 7,7 µm, phải soi dưới kính hiển vi (Trịnh Tam Kiệt, 2011).1 Hình thái giải phẩu quả thể nấm Linh chi (Trần Minh Hoàng, 2016) 1. Đặc điểm sinh trưởng Vì nấm Linh chi thuộc nhóm nấm, nên sỡ hữu những đặc tính sau: Sợi nấm có hình ống với vách ngăn. Tế bào chất có thể di chuyển dễ dàng từ tế bào này sang tế bào khác do có một vách ngăn không hoàn toàn.
Sợi nấm phát triển và phân chia thành nhiều nhánh cái và nhánh con (Đỗ Tất Lợi, 1994). Có hai loại sợi nấm. Sợi nấm sơ cấp được tạo thành từ các bào tử và các tế bào có một nhân. Sợi thứ cấp là sự kết hợp của hai sợi sơ cấp và tế bào có hai nhân.
Vòng đời của nấm Linh chi, giống như hầu hết các loại nấm khác, bắt đầu bằng một bào tử. Bào tử nảy mầm và hình thành ống mầm. Đường sinh dục phát triển thành hệ sợi sơ cấp. Hai sợi sơ cấp kết hợp với nhau tạo thành sợi thứ cấp.
Sợi sơ cấp và sợi phụ kết hợp với nhau tạo thành hệ sợi nấm, hệ sợi nấm này phát triển thành sợi nấm. Trong điều kiện thuận lợi (nhiệt độ thấp, độ ẩm tăng), bện của các sợi chỉ tạo thành nút nấm. Với nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, sợi nấm hình thành chồi 6 nấm, từ đó phát triển thành chồi, tán và thân nấm trưởng thành, mặt dưới mũ sinh bào tử, phóng thích bào tử và chu kỳ (Đỗ Tất Lợi, 2005). Điều kiện và chu trình sống của nấm Linh chi 1.
Điều kiện nuôi trồng • Nhiệt độ - Giai đoạn nuôi sợi: Từ 200C đến 300C - Giai đoạn quả thể: Từ 220C đến 280C • Độ ẩm - Độ ẩm trong mùn cưa đảm bảo nấm có thể mọc được nằm trong khoảng 40% đến 70%. - Độ ẩm môi trường nằm trong khoảng 70% đến 90%. • Ánh sáng - Giai đoạn hệ sợi: Nuôi trong tối - Giai đoạn quả thể: Cần ánh sáng với cường độ thấp • pH - Nấm có thể thích nghi và sinh trưởng tốt ở môi trường acid yếu đến trung tính nằm trong khoảng 4 đến 6. Qúa trình sống 7 Hình 1.2 Chu trình phát triển của nấm Linh chi (Nguyễn Như Quýnh, 2015) Chu trình sinh trưởng của nấm Linh chi gồm các giai đoạn như: Qủa thể phóng thích các bào tử ra ngoài môi trường, các bào tử sau khi nảy mầm và phát triển sẽ hình thành các sợi nấm, các sợi nấm này sẽ phân hóa thành các sợi nấm đơn và song nhân, gặp các điều kiện thuẩn lợi các sợi nấm này sẽ hình thành quả thể con và mọc thành quả thể lớn.
Chu trình này lặp lại nhiều lần (Đỗ Tấn Lợi, 1991). Phân bố Nấm linh chi là loài phân bố rộng khắp trên thế giới, nấm Linh chi mọc ở các tán rừng, sống hoại sinh trên các cây thân gỗ, các cây thuộc họ đậu được đặc biệt chú ý như vành xanh, vành vàng. Trong nước, nấm linh chi có ở hầu như tất cả các vùng miền núi từ Lâm Đồng đến Lào Cai (Đỗ Tất Lợi, 1994). Ganoderma lucidum duy trì chủ yếu thông qua bào tử.
Ở nhiều nước, nấm linh chi được dùng cho nhiều lĩnh vực ngoài có ứng dụng trong y học còn được sử dụng để nghiên cứu khoa học. Nấm hiện nay đã có thể nuôi trồng trên giá thể do con người tạo ra và cho năng suất tốt. Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học 8 1. Ganoderma polysaccharide (GLPs) Hiện có hơn 200 loại polysaccharid chiết xuất và thu được từ Ganoderma lucidum.