Luận văn thạc sĩ hay khảo sát và xây dựng cơ sở dữ liệu tần suất các alen của 15 locus gen hệ identifiler từ quần thể người dân tộc dao ứng dụng trong giám định and

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hay khảo sát và xây dựng cơ sở dữ liệu tần suất các alen của 15 locus gen hệ identifiler từ quần, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

Chuyên ngành

Sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

71
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục tiêu của đề tài

0.3. Bố cục của luận văn

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về người dân tộc Dao ở Việt Nam

1.2. Giám định gen trong khoa học hình sự

1.3. Lịch sử ra đời của giám định gen

1.4. Khái quát trình tự STR (Sort Tandem Repeats). Phân loại chỉ thị STR và sử dụng STR trong giám định gen

1.5. Các locus STR trong bộ kit Identifler

1.6. Ưu điểm và hạn chế của bộ kit Identifler trong công tác giám định

1.7. Xây dựng cơ sở dữ liệu gen người phục vụ công tác giám định

1.7.1. Mục đích xây dựng cơ sở dữ liệu gen

1.7.2. Quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu gen

1.7.3. Số lượng mẫu tính toán tần suất alen

1.8. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về khảo sát tần suất các alen của các locus gen sử dụng trong giám định gen

1.8.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.8.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu. Phân tích mẫu

2.3. Xử lý số liệu thống kê và tính tần suất các locus gen

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1. Kết quả thu, bảo quản mẫu và tách chiết ADN

3.2. Kết quả thực hiện phản ứng PCR, điện di và phân tích kiểu gen

3.3. Kết quả xử lý số liệu thống kê

3.4. Kết quả tính toán tần suất các alen

3.5. Kết quả quan sát kiểu gen ở từng locus và tính toán chỉ số kiểm định χ2. So sánh chỉ số kiểm định χ2 giữa tính toán (χ2tt) với lý thuyết (χ2lt) và đánh giá sự phù hợp với định luật Hardy - Weinberg

3.6. So sánh tần suất alen của người Dao với một số dân tộc

3.7. Một số ví dụ về ứng dụng kết quả của đề tài trong công tác giám định ADN tại Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC MỘT SỐ KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Tóm tắt

I. Tổng quan về khảo sát tần suất alen của người dân tộc Dao

Khảo sát tần suất alen của 15 locus gen hệ Identifiler từ người dân tộc Dao là một nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực di truyền học. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc di truyền của người Dao mà còn cung cấp cơ sở dữ liệu cần thiết cho công tác giám định ADN. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu này sẽ hỗ trợ trong việc xác định quan hệ huyết thống và giải quyết các vụ án hình sự liên quan đến người dân tộc Dao.

1.1. Tầm quan trọng của việc khảo sát tần suất alen

Khảo sát tần suất alen giúp xác định sự đa dạng di truyền trong quần thể người Dao. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc hiểu rõ hơn về nguồn gốc và sự phát triển của dân tộc này.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu tần suất alen

Mục tiêu chính của nghiên cứu là thu thập và phân tích tần suất alen từ 120 mẫu gen của người Dao, nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu gen phục vụ cho công tác giám định ADN.

II. Vấn đề và thách thức trong khảo sát tần suất alen

Khảo sát tần suất alen từ người dân tộc Dao gặp nhiều thách thức, bao gồm việc thu thập mẫu, đảm bảo tính đại diện và chính xác của dữ liệu. Ngoài ra, việc thiếu cơ sở dữ liệu gen trước đó cũng là một rào cản lớn trong nghiên cứu này. Những vấn đề này cần được giải quyết để đảm bảo kết quả nghiên cứu có giá trị.

2.1. Khó khăn trong việc thu thập mẫu

Việc thu thập mẫu từ người dân tộc Dao gặp khó khăn do địa hình và sự phân bố dân cư. Cần có kế hoạch hợp lý để tiếp cận và lấy mẫu từ các quần thể khác nhau.

2.2. Đảm bảo tính đại diện của mẫu

Để đảm bảo tính đại diện, mẫu cần được chọn ngẫu nhiên từ các nhóm dân cư khác nhau trong cộng đồng người Dao, tránh tình trạng thiên lệch trong kết quả.

III. Phương pháp khảo sát tần suất alen hiệu quả

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích gen hiện đại để xác định tần suất alen tại 15 locus gen trong hệ Identifiler. Phương pháp này cho phép phân tích nhiều locus cùng lúc, tiết kiệm thời gian và tăng độ chính xác. Việc áp dụng công nghệ điện di mao dẫn CE cũng giúp nâng cao hiệu quả trong việc phân tích mẫu.

3.1. Quy trình thu thập và xử lý mẫu

Mẫu được thu thập từ 120 người dân tộc Dao khỏe mạnh, không có quan hệ huyết thống. Sau đó, mẫu được xử lý và phân tích bằng kỹ thuật PCR và điện di.

3.2. Phân tích tần suất alen

Tần suất alen được tính toán dựa trên kết quả phân tích kiểu gen, đảm bảo tuân thủ định luật Hardy-Weinberg để kiểm định tính ngẫu nhiên của mẫu.

IV. Kết quả khảo sát tần suất alen từ người dân tộc Dao

Kết quả khảo sát cho thấy sự đa dạng di truyền cao trong quần thể người Dao. Tần suất alen tại 15 locus gen được ghi nhận và so sánh với các dân tộc khác. Những kết quả này không chỉ có giá trị trong nghiên cứu mà còn hỗ trợ cho công tác giám định ADN trong thực tiễn.

4.1. Tần suất alen tại các locus gen

Kết quả cho thấy tần suất alen tại các locus gen khác nhau có sự biến đổi, phản ánh sự đa dạng di truyền trong quần thể người Dao.

4.2. So sánh với các dân tộc khác

Tần suất alen của người Dao được so sánh với các dân tộc khác như Kinh, Khmer, cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong cấu trúc di truyền.

V. Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong giám định ADN

Kết quả khảo sát tần suất alen có thể được ứng dụng trong công tác giám định ADN tại Viện Khoa học hình sự. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu gen từ người Dao sẽ hỗ trợ trong việc xác định quan hệ huyết thống và giải quyết các vụ án hình sự liên quan đến dân tộc này.

5.1. Ứng dụng trong xác định quan hệ huyết thống

Kết quả nghiên cứu sẽ giúp xác định quan hệ huyết thống giữa các cá nhân trong cộng đồng người Dao, hỗ trợ trong các vụ án hình sự.

5.2. Tăng cường hiệu quả giám định ADN

Cơ sở dữ liệu gen từ người Dao sẽ giúp nâng cao độ chính xác và hiệu quả trong công tác giám định ADN, đặc biệt trong các vụ án phức tạp.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu về tần suất alen của 15 locus gen hệ Identifiler từ người dân tộc Dao đã mở ra hướng đi mới trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu gen cho các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu không chỉ có giá trị trong lĩnh vực di truyền học mà còn góp phần vào công tác giám định ADN trong tương lai.

6.1. Tầm quan trọng của cơ sở dữ liệu gen

Cơ sở dữ liệu gen sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho các nghiên cứu tiếp theo và hỗ trợ trong công tác giám định ADN.

6.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục mở rộng nghiên cứu sang các dân tộc khác để xây dựng một cơ sở dữ liệu gen toàn diện cho Việt Nam.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay khảo sát và xây dựng cơ sở dữ liệu tần suất các alen của 15 locus gen hệ identifiler từ quần thể người dân tộc dao ứng dụng trong giám định and

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về người dân tộc Dao ở Việt Nam Người Dao ở Việt Nam có dân số 751.067 người, cư trú tại 61 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Dao cư trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang (109.708 người, chiếm 15,1% dân số toàn tỉnh và 14,6% Việt Nam), Tuyên Quang (90.618 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và chiếm 12,1% tổng số người Dao tại Việt Nam), Lào Cai (88.379 người, chiếm 14,4% dân số toàn tỉnh và 11,8% tổng số người Dao tại Việt Nam), Yên Bái (83.888 người, chiếm 11,3% dân số toàn tỉnh và 11,2% tổng dân số người Dao tại Việt Nam), Quảng Ninh (59.156 người, chiếm 5,2% dân số toàn tỉnh), Bắc Kạn (51.801 người, chiếm 17,6% dân số toàn tỉnh), Lai Châu (48.745 người, chiếm 13,2% dân số toàn tỉnh), Lạng Sơn (25.666 người), Thái Nguyên (25. Tết: Tết cổ truyền của người Dao diễn ra cùng dịp với Tết Nguyên đán của người Việt, thường sớm hơn nửa tháng và kết thúc tương tự.

Vào những ngày giáp Tết (tháng 12 âm lịch), dân bản tập trung tại nhà trưởng bản hoặc một nhà nào đó theo phiên để cùng nhau tiến hành "Tết Nhảy". Trong một năm, theo phong tục của người Dao có 3 cái Tết quan trọng là tết Thanh minh, rằm tháng Bảy và Tết năm cùng nhưng quan trọng nhất vẫn là Tết năm cùng. Vì đây là dịp báo cáo với ông bà tổ tiên về một năm lao động của gia đình, dòng họ. Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc xa xưa ở đảo Hải Nam (Trung Quốc) gồm 7 nhóm.

Người Dao ở Việt Nam và ở Lào Cai có 3 nhóm: Dao Tuyển, Dao Nga Hoàng và Dao Làn Tẻn (còn gọi là Dao Chàm) họ bắt đầu di cư sang Việt Nam vào thời Lê (vào khoảng cuối thế kỷ 17). Để đến được đất Việt, sống ở vùng núi như ngày nay, người Dao đã phải trải qua cuộc hành trình muôn phần gian khổ vượt biển, vượt núi, vượt sông. Điều này phản ánh rõ trong nhiều phong tục, nghi lễ của người Dao và được ghi lại rất tỉ mỉ trong sách cổ. Người LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Dao di cư sang Việt Nam theo nhiều đợt từ đảo Hải Nam, qua Phòng Thành, tới Bắc Giang.

Tới đây, họ di chuyển theo các hướng khác nhau là: - Theo sông Lô tới Hà Giang hình thành nên người Dao áo dài. - Theo sông Chảy tới Lào Cai, hậu duệ ngày nay gọi là Dao Tuyển. - Nhóm ở lại vùng Nga Hoàng thuộc Yên Lập, Yên Phúc một thời gian, sau đó di chuyển tới Văn Chấn (Yên Bái), rồi Văn Bàn (Lào Cai) là tổ tiên người Dao quần chẹt ngày nay. Văn hóa: Dân tộc Dao có một nền văn hóa rất phong phú và đậm đà bản sắc thể hiện qua nhiều phong tục, nhiều điệu múa đẹp, nhiều bài hát hay, kho tàng truyện cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn, ca dao, thành ngữ, chiêm tinh, tướng số, câu đố.

Nhưng cũng giống các dân tộc thiểu số khác chủ yếu tồn tại dưới dạng truyền khẩu, vốn này ngày nay cũng bị mai một, thất truyền với những lý do khách quan cũng như chủ quan. Hoạt động sản xuất: Người Dao sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt trên nương và ruộng nước. Ngoài lúa họ còn trồng màu. Nông cụ sản xuất thô sơ nhưng kỹ thuật canh tác đã có nhiều tiến bộ.

Một số nghề thủ công đã phát triển như dệt vải, rèn, mộc, làm giấy, ép dầu. Họ nuôi nhiều lợn, gà, nhưng chủ yếu dùng trong những ngày ma chay, cưới xin, lễ tết. Nhà ở có 3 loại khác nhau: nhà sàn, nhà nửa sàn nửa đất, nhà đất (nhà trệt). Đàn ông Dao trước đây để tóc dài búi sau gáy, hoặc để chỏm tóc trên đỉnh đầu.

Ngày nay, hầu hết đã cắt tóc ngắn. Y phục thường gồm quần và áo ngắn, áo dài. Trang phục của phụ nữ phong phú hơn, giữ được nhiều nét trang trí hoa văn truyền thống. Phụ nữ Dao để tóc dài.

Cô dâu trong ngày cưới đội mũ. Dưới chế độ cũ, cưới xin gồm nhiều nghi lễ phức tạp. Có hai hình thức ở rể: có thời hạn và vĩnh viễn. Tuy nhiên phổ biến là sau lễ cưới, vợ về nhà chồng.

Ma chay phản ánh nhiều tục lệ xa xưa. Ở một vài vùng có tục hoả táng cho người chết từ 12 tuổi trở lên. Người Dao có nhiều tín ngưỡng về thần linh, ma quỷ, có một số tục lệ thờ cúng phức tạp và tốn kém. Người Dao có quan hệ họ hàng chặt chẽ và thông qua tên đệm để xác định dòng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 họ, vai vế của người đó trong quan hệ dòng họ.

Người Dao có nền văn hóa và lịch sử lâu đời. Mặc dù cơ sở kinh tế nói chung còn thấp kém, nhưng tri thức dân gian rất phong phú, đặc biệt là y học dân tộc cổ truyền. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao, không có văn tự riêng mà sử dụng chữ Hán đã được Dao hoá, gọi là chữ Nôm Dao. Như vậy, người Dao tuy là dân tộc thiểu số nhưng phân bố rộng rãi cư trú tại 61 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố.

Người Dao cư trú chủ yếu ở biên giới Việt - Trung, Việt - Lào và một số tỉnh trung du và ven biển Bắc Bộ Việt Nam gần đây có một nhóm nhỏ chuyển vào sinh sống ở khu vực Tây Nguyên. Cụ thể, ở tại các miền rừng núi phía bắc (Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu…) đến một số tỉnh trung du như (Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Thái Nguyên…) và miền biển như Quảng Ninh. Đây là các tỉnh nằm dọc biên giới Việt - Trung. Giám định gen trong khoa học hình sự Giám định gen là nghiên cứu, phân tích ADN so sánh từ các dấu vết, vật chứng có nguồn gốc sinh vật bằng kỹ thuật gen.

Hiện nay Viện KHHS mới chỉ thực hiện giám định ADN người. Thông qua phân tích ADN để xác định truy nguyên, nhận dạng cá thể trong các vụ án hình sự, tìm tung tích nạn nhân, người mất tích trong các vụ cháy, vụ tai nạn, thảm họa… hoặc xác định quan hệ huyết thống [7]. Lịch sử ra đời của giám định gen Thuật ngữ “DNA fingerprinting” hay “DNA typing” được mô tả lần đầu tiên vào năm 1985 bởi nhà di truyền học là tiến sỹ Alec Jeffreys. Ông đã phát hiện ra rằng trong chuỗi ADN có các trình tự bazơnitơ lặp lại nhiều lần và số lượng các trình tự lặp lại này khác nhau với từng cá thể.

Bằng cách phát triển kỹ thuật để kiểm tra sự biến đổi độ dài của các trình tự ADN lặp lại này, Tiến sỹ Jeffreys đã thực hiện các thí nghiệm để nhận dạng người [29]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Các vùng trình tự ADN lặp lại này gọi là VNTRs (viết tắt của cụm từ variable number of tandem repeats). Các vùng VNTRs được Jeffreys sử dụng kỹ thuật đa hình độ dài giới hạn (restriction fragment length polymorphism - RFLP) để phân tích. Ông đã sử dụng một enzyme giới hạn để cắt các vùng ADN xung quanh VNTR.

Phương pháp RFLP lần đầu tiên được sử dụng để truy nguyên tội phạm trong vụ án xảy ra tại nước Anh: vụ hai cô gái là Lynda Mann và Dawn Ashworth bị tấn công tình dục và sau đó đều bị sát hại vào năm 1986. Cả hai vụ giết người này xảy ra gần ngôi làng Narborough ở Leicestershire, Anh. Một người đàn ông ở địa phương đã bị nghi ngờ giết chết một trong hai cô gái, nhưng khi phân tích kiểu gen từ mẫu máu của ông này với kiểu gen phân tích được từ mẫu tinh dịch của nghi phạm để lại trên hai nạn nhân thì không trùng khớp. Đây là lần đầu tiên một phân tích ADN đã chứng minh được một người vô tội.

Sau đó, người ta đã thu thập một lượng mẫu lớn từ những người đàn ông sống trong 3 làng gần đó, nhưng cũng không có người nào trùng khớp. Một năm sau, một phụ nữ đã tố giác một người đàn ông tên là Colin Pitchfork đã thực hiện vụ án, cảnh sát đã thu mẫu máu của người này và phân tích ADN thì thấy trùng khớp với mẫu tinh dịch để lại trên hai nạn nhân kia. Người này đã bị kết tội. Kể từ đó, việc giám định gen để truy nguyên con người trong các vụ án hình sự được sử dụng rộng rãi trong các phòng thí nghiệm khoa học hình sự trên thế giới [28,29].

Tuy nhiên kỹ thuật phân tích vùng VNTRs có nhiều hạn chế, đó là thời gian phân tích lâu (từ 6 - 8 tuần), nhiều công đoạn, chỉ phân tích được từng locus đơn lẻ mà không phân tích được các locus cùng lúc (multiplex), không phân tích được khi gặp các dấu vết ít, dấu vết bị biến tính. Các hạn chế này được khắc phục bởi kỹ thuật phân tích các đoạn lặp ngắn song song (Short Tandem Repeat - STR). Khi phân tích STR, có thể phân tích nhiều locus cùng lúc, có tính đa hình và khả năng truy nguyên cá thể cao, thời gian phân tích ngắn (chỉ 4-8 tiếng) và phân tích được các dấu vết ít, dấu vết bị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 phân hủy, dấu vết bị lẫn (mixture). Chính vì vậy kỹ thuật phân tích STR trở nên phổ biến và là công cụ hữu ích cho giám định gen hình sự.

Đây cũng là cơ sở để các hãng thương mại có thể sản xuất nhiều bộ kit phân tích gen có độ nhậy, chính xác và có khả năng tự động hóa các quy trình phân tích. Trong những năm gần đây, đã có những nghiên cứu ứng dụng các công nghệ kỹ thuật mới trong phân tích ADN hình sự, như kỹ thuật Next-Generation Sequencing (NGS) đang được nghiên cứu của công ty Illumina (miseq). Tuy nhiên, kỹ thuật phân tích STR bằng công nghệ điện di mao dẫn CE vẫn được sử dụng rộng rãi cho các phòng thí nghiệm giám định gen hình sự trên thế giới, trong đó có Viện Khoa học hình sự Việt Nam. Viện KHHS -Việt Nam được trang bị nhiều bộ kit thương mại như: bộ kit Identifler, Identifiler plus, Identifiler Direct, Globalfiler, Yfiler và Yfiler plus.

Các bộ kit này được sử dụng tại các phòng thí nghiệm tiên tiến như ở FBI (Mỹ) hay Interpol. Các hệ thống cơ sở dữ liệu gen lớn đều sử dụng các chỉ thị di truyền (marker) cơ bản có trong các bộ kit này để xây dựng. Khái quát trình tự STR (Sort Tandem Repeats) Bộ gen người có đến 99,7% là giống nhau, chỉ có 0,3% còn lại là khác nhau giữa các cá thể. Trong đó người ta phát hiện thấy có rất nhiều trình tự ADN lặp lại nằm rải rác khắp bộ gen người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ