€ C C C C C ¢ ¢ ẹ C C ¢ ¢ ể € ¢ € Tiêu luận Khảo sát tâm lý du lịch nước Nga £€€€C€CCCC(CCC(C€CC(€C(€((C(té€ế€ế {C€€€CC€CC€CCCCCC(CC(€C(C(tt€€ KHÁI QUÁT CHUNG Về ĐT NUớC VÀ CON NGUồI NƯóC NGA I.VỊT RÍ ĐỊA LÝ va LANH THO 11.1Vị trí địa lý. Liên Bang Nga là một đất nước có diện tích lớn nhất Thế giới 17,1 triệu km”, trải dài từ Đông Âu đến Bắc Á. Liên Bang Nga có 11 múi giờ, giáp với 14 quốc gia. Đặc biệt Liên Bang Nga có đường bờ biển đài trên 37.000km dọc the Bắc Băng Dương, Thái Bình Dương, biển Bantich, biển Caxpi và biển Đen.
Đã hình của Liên Bang Nga chủ yếu là đồng bằn gthấp và các miền dit cao. Phần lớn đất đi của Liên BangN g là đồn g bằng rộng lớn ở cả châu Âu và châu Á như đồng bằng Đông Âu, đồng bằng Tây Xibia. Các đồn gbằng này chủ yếu là thảo nguyên về phía nam và rừng rậm về phía Bắc, cùng với các lãnh nguyên dọc theo bờ biển phía Bắc. Các dãi núi chủ yếu nằm ở biên giới phía nam và phía đồn g như dãi Capca, dãi Antai, dai Xian, dai Veckhoian.va dac biệt là dãi Uran chạy dài từ Bắc xuốn ø Nam, tạo ra sự phận chia ranh giới giữa châu Âu và châu Á.
Nhiều con sông chải qua nước Nga, chủ yếu là những con sông lớn như sông Enitxay, sông Von ga, sôngObi, Sôn gXibia. Sông Xiabia chia đất nước Nga thành hai phần: Phía Tâ& chủ yếu là đồng bằng, bao gồm đồng bằng Đông Âu cao, màu mỡ phù hợp phát triển lương thực_thực phẩm và chăn nuôi, đồng bằng Tây Xiabia tuy nhiều đầm lầy nhưng có nhiều dầu mỏ và khí đốt, ngoài ra còn có dãy Uran có nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào. Phía Đông chủ yếu a nui và cao nguy ên, giàu tài nguy ên khoáng sản và lâm sản.Điều kiện tựnh lên. Đất nước Nga có nguồn tài nguyên khoáng sản rất đa dang và dồi dào như: dầu mỏ, than đi, sắt, đồng, khí tự nhiên.Nga được xem là siêu cường năng lượng, có dự trữ khí tự nhiên lớn nhất Thế giới, đứng thứ hai về trữ lượn gthan, thứ tám về trữ lượng dầu mỏ.
Ng có diện tích rừng lớn nhất Thế giới với 886 triệu ha, chủ yếu là rừng taiga, rừng lá kim.vì thế Nga còn được xem là “lá phổi của châu Âu”, đứng thứ hai sau rừng Amazon về kha nan g hấp thụ carbon dioxide, nhữn gc ánh rừn g của N ga đã sản xuất ra một khối lượng lớn Oxy không chỉ cho châu Âu mà cho toàn Thế Giới, vì thế mà động thực vật ở Nga rất phong phú và đa dạng. Khí hậu ở Ng được hình thành dưới nhiều yếu tố xác định. Khí ôn đới chiếm phần lớn diện tích, phía Bắc có khí hậu cận cực, phía Nam có khí hậu cận nhiệt, sự xa tách khỏi biển của một số vùng dẫn đến khí hậu lục địa ấm. Trên hầu khắp lãnh thổ chỉ có hai mùa riên g biệt là mùa Đôn gvà mùa Hè, mùa Xuân và mùa Thu chỉ là những giai đoạn thay đổi ngắn giữa thời 2 tiết cực thấp và cực cao.
Tháng lạnh nhất và tháng l (tháng2 ở bờ biển), tháng nón g nhất thường là tháng 7. Vào mùa Đông nhiệt độ lạnh đ từ phía Nam tới phía Bắc, mùa hè có thé khá nóng và âm, thậm chí tại vừng Xibia và một phần nhỏ cử bờ biển Đen có khí hậu nhiệt đới. Với những điều kiện tự nhiên như thế, Liên Bang Nga có nh iều thuận lợi để phát triển kinh tế đa n gành, nền kinh tế của N ga chủ yếu dựa vào xuất khẩu hàng hóa như dầu mỏ, khí đốt, kim loại và gỗ. Liên Ban gN g là một quốc gia có dân số là 144 triệu n gười (đứng thứ 8 trên Thế Giới) và là một xã hội đa sắc tộc, là nơi sinh sống của trên 160 nhóm sắc tộc.
D ù dân số Nga khá lớn nhưng mật độ dân số ở Nga khá thấp, do diện tích rộng lớn của nước này. Dân cư phân bố không đồng đều, tập trung phan lớn ở phía Tây và thưa dần về p hía Đông và có đến 73% dân cư sống tập trungở thành thị, Nø có một hệ thống giáo dục miễn phí bảo đám cho mọi công dân theo Hiến pháp, tỉ lệ người biết chữ là 99,4%. Việc đặt giáo dục lên hàng đầu như vậy cũng là sự ưu tiên hàng đầu cho khoa học và kỹ thuật trong giáo duc, y tế, toán học, khoa học và khoa học vũ trụ.cung cấp lực lượng nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực cong nghệ cao, côn g nghệ mới. Liên Bang Nga là một quốc gia đông dân, có trình độ dân trí cao, có đội ngũ khoa học kỹ thuật, kỹ sư lành nghề.
vì thế mà tiền năng du khách từ đất nước này rất lớn, bởi đội n gũ lao động ở đất nước này phần lớn là làm về ngành công nghiệp,ngành khoa học cơ bản nên họ thường phải làm việc trong một môi trườn gcăng thắng nên du cầu được đi du lịchthư giãn rất cao. Tuy nhiên đôi tượng du khách này cũng rất khó phục vụ bởi họ là những người có trình độ đân trí cao và họ đến từ một quốc gia có tài nguy ên thiên nhiên phongp hú, đi dạng, khoa học kỹ thuật phát triển và họ có một tài sản về văn họ c nghệ thuật, các công trình kiến trúc vô cùng to lớn.5 Giao thông vận tải 1. Giao thông vận tải của nước Nga: Giao thông vận tải ở Nga rất phát trién,hé thống đường sắt ở Nga có tổng chiều dài là 149.000km, đường cao tốc 952km,tàu điện ngầm là phương tiện vận chuyển chủ yếu ở các vùng đồ thị,Maxcova đứng đầu thế giới về lượng vần chuyển hành khách, mỗi năm có đến 2,5 tỉ lượt người sử dụng tàu điện ngầm, Đườn gsông 95.900 km, đường giao thông quan trọng nhất là sôn g Vơn ga vứi cơ sở hàn gtằng được thiết kế dé tau thủy có kích thước và trọng tải tương đối lớn lưu thong. N ga là một quốc gia có vị trí tiếp giáp với nhiều biển lớn nhỏ„vì vậy Nga có rất nhiều cảng và hải cảng đội 3 thương thuyền cửa Nga là một phương tiện quan trong để kết nối Nga với các nước khác nhu:Arkhan gel'sk, Astrakhan', Kaliningrad, Kazan', Khabarovsk, Kholmsk, Krasnoyarsk, Moscow, Murmansk, Nakhodka, Nevel'sk, Novorossiysk, Petropavlovsk-K amchatskiy , Saint Petersburg Rostov, Sochi, Tuapse, Vladivostok, Volgograd, Vostochnyy , Vyborg Nga có khoang trén 300 cong ty hang khéng,véi 2.743 s4n bay,chi riéng thanh phé Maxcova đã có đến 4 sân bay quốc tế,và hiện nay đã có nhiều chuyến bay trực tiếp từ Nga đến Việt Nam như hãng hàng không Transaero mở đườn g bay thắng nối liền thủ đô Moskva đến TP.HCM ,gần day nhat hang hang khong Vladivostok (Vladivostok Air) chính thức mở đường bay quốc tế từ hai thành phố: Vladivostok và Khabarov (vùng Viễn Đông, Liên bang Ng) đến Sân bayquốc tế Cam Ranh (Khánh Hòa) và ngược lại„vì thế mà khách du lịch từ quốc gia này đến Viậ Nam cũngthuận tiện hơn.
Duong éng: dau thé 48km,san pham dau khi 15.000km;khi ø tự nhiên 140. Đường hàng không vẫn luôn là lựa chọn hàng đầu,có hơn 300 công ty hàng không lớn nhỏ ởNga,với 2.Cái này M ko bít có nên đưa vào ko I. NH&NGDGC DIEM VAN HOA NU6CNGA Khi nói đến văn hóa của Nga chúng ta không thể không nhắc đến những vấn dé sau: 1. Văn hocNga Văn học Nga đã bắt đâu xuất hiện trong những người Xia-vơ Đông, sau phong trào cơ đốc hoá vào thếkÿ thứ 10.
N hững bài văn tễ lễ được viết bằng ngôn ngữ thế tục đã làm cho văn học Ngaphát triển nhanh chóng. Trong suốt thế kỷ 16, hầu hết những tác phẩm văn học đâu có chủ đề tôn giáo hoặc do những người trong những lĩnh vực tôn giáo viết ra. Trong số những tác phâm nỗi bật nhất từ thế kỷ I1 đến thế kỷ 14 œ bộ Biên niên sử Nguyên thuỷ, một tác phẩm về các sự kiện lịch sử và truy thuyết, Bài thơ về Chiến địch của Igor, một thién anh hing ca bằng thơ nói về các trận đánh chống lại người Thổ Nhĩ Kỳ. Những tác phẩm thuộc các thé loại mang tính thế tục, chẳng hạn các câu chuyện trào phúng, đã bắ đầu xuất hiện vào thé ky 16.
Một số tiêu thuyết ngắn và chuyện châm biếm của thế kỷ 17 cũng đã sử dụng tiếng Nga bản xứ. Tác phẩm theo thể loại thơ ca đầu tiên của N ga (cuốn “Cuộc đời của vị tăng lữ Avvakum” - năm 1670, là một tác phẩm tự thuật hiện thực đi tiên phong vốn tránh được phong cách hoa mỹ kiểu nhà thờ) đã được viết vào thé ky 17. Thế kỷ 16 đặc biệt là dưới triều đại của Peter đại để và Catherie Đại đề, là một giai đoạn chịu ảnh hưởng rất mạnh của phương Tây. Văn học Nga trong một thời gian ngăn đã bị lấn # bởi chủ nghĩa kinh điển châu Âu trước khi chuyển sang chủ nghĩa đa cảm vào năm 1780.
Lúc đó những câu chuyện bằng văn xuôi gồm những chuyện giang hồ hay những chuyện châm biếm, đã phổ biến với giai cấp trung lưu và hạ lưu, trong khi những ngrời quý tộc đọc chủ yếu là văn học phương Tây. Việc thế tục hoá nhà thờ Chính thống giáo ở N ga của Petd đã có những ảnh hưởng rất lớn đối với những chủ đề về tôn giáo trong văn học. Dưới thời Catherine, báo chí trào phúng được mô phỏng the Anh quốc, đồng thời thơ ca và kịch cũng được phát triển. Đấi thế kỷ 19 văn học Nga đã hình thành một truyền thống thề hiện những vấn dé trong cuộc sống thực tế và những nhà văn từ thế kỷ 18 đã làm giàu hơn ngôn ngữ Nga bằng những yếu tổ mới.
Những nhà văn của thê hệ này đã có những đặc điểm chung quan trọng: sự chú ý đến thực tại việc mô tả chỉ tiế đời sống hàng ngày ở N ga, xoá bỏ sự ngăn trở trong việc mô tả những điều tục tĩu xấu xa trong cuộc sống và một thái độ châm biếm đối với những chuy ện tầm thường và khuôn sáo. Tấ cả những yếu tố này đã thé hiện trong dạng tiềuthuyết vàtruyện ngắn vay muợn của Tây Âu, nhưng những nhà thơ cua thé kỷ 19 căng có nhiều tác phẩm dé doi. Kỷ nguyên của chủ nghiã Hiện thực bắt đầu khoảng năm 1850. Trong thời kỳ này các chuẩn mực mới về ngôn ngữ, chủ để, hình thức và kỹ thuật miêu tả đã được phát tiễn.
Pushkin đã được cơi như nhà thơ vĩ đại nhấ cua Nga. Lermontov thi đã đóng góp cho van hoc bang ca thé loại văn xuôi lẫn thể loại thơ ca. Gogol được công nhận như người khai sinh ra văn xuôi hiện thực và hiện đại của Nga.