ĐẶT VẤN ĐỀ Cho đến nay, y học cổ truyền và y học hiện đại đã có sự kết hợp rất tốt trong điều trị một số loại bệnh. Trong thế giới tự nhiên tiềm ẩn rất nhiều loại thảo dược tưởng chừng vô năng nhưng lại có công dụng chữa bệnh rất hữu hiệu. Hơn nữa điều trị bằng dược liệu chứa các hoạt chất tự nhiên hiện nay đang là một hướng đi tích cực được khuyến khích nghiên cứu và phát triển trong cộng đồng y học Việt Nam hiện nay cũng như trên thế giới vì khả năng chữa và điều trị bệnh ít gây tác dụng phụ cho cơ thể con người và chi phí nghiên cứu không quá lớn. Mặt khác, theo các tài liệu công bố hiện nay khoảng từ 70-80% các loại thuốc chữa bệnh đang được lưu hành trên thị trường hoặc đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng có nguồn gốc từ các hợp chất thiên nhiên.
Tuy nhiên, phần lớn các dược phẩm hiện đang được lưu hành trong nước ta đều phải nhập khẩu do khả năng nghiên cứu cũng như cung cấp dược liệu cho ngành công nghiệp hoá dược nước ta còn rất hạn chế. Trong khi đó tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên của nước ta được đánh giá là phong phú vào loại bậc nhất thế giới. Mặc dù, chúng ta đã có những thành công nhất định trong việc nghiên cứu tạo ra các sản phẩm thuốc chữa bệnh, nhưng mới chỉ đáp ứng được chừng vài phần trăm nhu cầu. Rõ ràng những kết quả đó chưa tương xứng với tiềm năng to lớn về tài nguyên thiên nhiên của nước ta.
Điển hình trong số đó có cây đu đủ là đại diện điển hình nhất. Đu đủ được xem là một cây đa dụng, rất hữu ích tại những quốc gia nghèo nên đã được nghiên cứu khá nhiều về các hoạt tính dược tính, giá trị dinh dưỡng và khả năng công nghiệp hóa tiềm năng sử dụng. Cây rất dễ trồng vì có thể mọc từ hạt và thời gian cây cho hoa chỉ mất 4 đến 5 tháng (Đỗ Tất Lợi, 2004; Đỗ Huy Bích và cs, 2006). Dù đã được biết đến từ thời xa xưa nhưng đến nay, đu đủ chỉ đa phần được sử dụng trong điều trị dân gian Việt Nam chứ chưa có công trình nghiên cứu cụ thể trên SVTH: Võ Hữu Minh Đức GVHD: Trang 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVC.
Nguyễn Minh Hoàng các bộ phận khác của cây trừ lá của cây điều này khác biệt rất lớn so với các nước phát triển trên thế giới khác. Do đó, em tiến hành thực hiện đề tài “Khảo sát khả năng tách chiết hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học benzyl isothiocyanate (BITC) từ hạt của cây đu đủ Carica papaya L.” với mong muốn đóng góp một phần hiểu biết về thành phần hóa học có trong hạt của cây đu đủ cũng như có thể tìm ra phương pháp tách chiết và phân lập phù hợp để có thể thu nhận hợp chất BITC với điều kiện hạn chế về mặt khoa học kỹ thuật như các nước phát triển trên thế giới. Vì hiện nay nước ta chỉ mới có thể chiết thành công hợp chất này thông qua cây Chùm ngây cũng như chưa có nghiên cứu khoa học nào trên đối tượng là hạt đu đủ. Trong khi nó được xem là một phế phẩm bị loại bỏ trong đời sống của người dân thì theo nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy tiềm năng rất lớn trong điều trị bệnh ở người (Srivastava và cs 2004; Lui, và cs, 2003; Kuroiwa và cs, 2006; Zhu và cs (2015); Rao, 2013;…) SVTH: Võ Hữu Minh Đức GVHD: Trang 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVC.
Nguyễn Minh Hoàng PHẦN 1 TỔNG QUAN SVTH: Võ Hữu Minh Đức GVHD: Trang 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVC. Nguyễn Minh Hoàng 1. Tổng quan về đề tài 1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Đề tài có các mục tiêu đề ra như sau: Tìm được các phương pháp và điều kiện trích ly tối ưu trong các phương pháp trích ly cổ điển sử dụng.
Phân lập và định danh chính xác được hợp chất BITC qua sắc ký cột. Khảo sát hoạt tính sinh học của hợp chất sau phân lập để khẳng định kết quả. Cách tiếp cận, phương pháp và phạm vi nghiên cứu 1. Cách tiếp cận Đề tài tiếp cận các vấn đề nghiên cứu từ các góc độ sau: Tiếp cận từ cơ sở kiến thức chuyên môn cũng như tổng quan về khả năng tách chiết hợp chất BITC từ các nghiên cứu trên thế giới.
Tiếp cận từ thực tiễn, khảo sát đánh giá khả năng thu nhận được hợp chất BITC qua các thí nhiệm được tiến hành trong quá trình thực hiện đề tài. Phương pháp nghiên cứu Đề tài được thực hiện bằng một số phương pháp nghiên cứu truyền thống như: Phương pháp chiết và thu nhận các thành phần trích ly từ mẫu vật ban đầu (Phương pháp ngâm chiết cơ bản và phương pháp ngâm chiết có khuấy trộn). Phương pháp phân lập các thành phần trong cao chiết (Phương pháp sắc ký bản mỏng, phương pháp sắc ký cột). Phương pháp định danh sản phẩm (Phương pháp phổ cộng từ hạt nhân).
Ngoài các phương pháp kể trên, đề tài có thể sử dụng thêm một số phương pháp khác nhằm phục vụ cho quá trình thực hiện đề tài. Phạm vi nghiên cứu SVTH: Võ Hữu Minh Đức GVHD: Trang 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVC. Nguyễn Minh Hoàng Do hạn chế về thời gian và nguồn lực tài chính, đề tài xác định được các phạm vi như sau: Phạm vi không gian: đề tài chỉ tập trung điều tra, đánh giá chất lượng mẫu chiết của đối tượng được thu nhận trên một khu vực nhất định ở đây là Cao Lãnh, Đồng Tháp. Nghiên cứu được thực hiện ở phòng thí nghiệm Hóa – Môi trường, Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi thời gian: Đề tài chỉ cho phép thực hiện theo khuôn khổ thời gian được cho phép từ phía nhà trường. Phạm vi tài chính: Đề tài chỉ thực hiện trên điều kiện được hỗ trợ tài chính từ phía nhà trường. Tổng quan về đối tượng nghiên cứu Dựa theo những dữ liệu được tổng hợp từ các nguồn sách như “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, Tập 1, 2006” và “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, 2007”, tổng hợp thành các thông tin chính như sau: 1. Đặc điểm hình thái thực vật Carica papaya L.
có chiều cao vào khoảng 2-4 m và có khi cao đến gần 7m. Cây thân thẳng và hiếm khi phân nhánh, trên thân cây có nhiều vết sẹo của cuống lá rụng để lại. Lá to, mọc so le ở ngọn cây, có cuống lá rất dài, lá xẻ 5-7 thùy sâu, gốc hình tim đầu nhọn, mỗi thùy lá lại chia tiếp thành các thùy nhỏ hơn không đều, gân lá hình chân vịt, hai mặt nhẵn. Hoa có màu vàng lục nhạt, mọc ở kẻ lá; Hoa đực và cái có thể cùng gốc hoặc khác gốc, cụm hoa đực phân nhánh thành chùy xim, dài hợp có 5 răng ngắn, tràng 5 cánh hàn liền hình phễu, nhị xếp thành 2 vòng trên ống tràng, nhụy tiêu giảm, cụm hoa cái có 2 đến 3 hoa, đài và tràng gồm những bộ phận hoi dính nhau ở gốc, không có nhị lép, bầu một ô, nhiều lá noãn.
SVTH: Võ Hữu Minh Đức GVHD: Trang 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVC. Nguyễn Minh Hoàng Quả mọng to hình trứng ngược hoặc thuôn dài khoảng 20-30 cm, đường kính vào khoảng 15-20 cm. Thịt quả dày có màu giống vỏ khi chín thường là vàng đến cam có khi cam đến đỏ, ruột trái chứa nhiều hạt có giống không hạt (giống lai mới ngày nay) có màu đen và bọc bên ngoài là màng bọc giúp chứa sinh chất bên trong, hình thái hạt gần giống với thông trần có lớp vảy sần đen bọc bên ngoài và phần noãn có màu ngà nằm bên trong.) Hình bên trái là hình cây chụp ngoài thực tế còn bên phải là hình phác họa chi tiết SVTH: Võ Hữu Minh Đức GVHD: Trang 7 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVC. Nguyễn Minh Hoàng Hình 1.2 Cấu trúc của hoa đực (A), hoa cái (B) và hạt của đu đủ (C) 1.
Phân loại khoa học Giới (Kingdom): Thực vật – Plantae Ngành chính (Superdivision): Thực vật có hạt – Spermatophyta Ngành (Division): Thực vật có hoa – Magnoliophyta Lớp (Class): Thực vật song tử diệp – Magnoliopsida Họ (Family): Họ đu dủ - Caricaceae Chi (Genus): Đu đủ - Carica L. Loài (Species): Đu đủ - Carica papaya L. Vị trí phân bố: Loài Carica papaya L. có nguồn gốc xuất phát từ vùng nhiệt đới châu Mĩ, được tìm thấy ở độ cao từ 1500-3000 m từ Panama đến Bolivia, có giống cây đu đủ mọc tự nhiên cho quả ăn được C.
pubescens Linné & Koch. Giống cây đu đủ trồng hiện nay có thể là giống lai tự nhiên của loài C. peltata Hock & Ann. Cây được người Tây Ban Nha du nhập giống vào Đông Nam Á vào khoảng thế kỉ XVI, từ đây giống cây được du nhập tiếp và trồng ở nhiều nơi khác trên thế giới.
SVTH: Võ Hữu Minh Đức GVHD: Trang 8 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVC. Nguyễn Minh Hoàng Ở Việt Nam, giống đu đủ đã được người dân trồng từ rất lâu và vẫn chưa thể xác định được thời gian mà giống cây du nhập là khi nào. Đu đủ có rất nhiều giống, gần như việc trồng ở các vùng sinh thái khác nhau cho ra một giống loài mới. Đu đủ là loài cây trồng nhiệt đới, ưa khí hậu nóng ẩm.
Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển là từ 21-33oC, lượng mưa hằng năm trên 1200 mm, cây sống thích hợp trên nhiều loại đất song không thể chịu ngập úng quá 20 giờ nên cần có biện pháp thoát nước nhanh. Cây không thể trồng ở độ cao trên 1500 m tại Việt Nam. Đu đủ là loài cây sinh trưởng nhanh, cây trồng từ hạt sau 4-5 tháng là có thể ra hoa, hoa được côn trùng và gió thụ phấn nên sẽ dễ xuất hiện sự lai tạp càng về các thế hệ sau. Đu đủ không chỉ được xem là giống cây ăn quả quan trọng ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới.
Ngoài ra cây đu đủ còn được trồng để lấy nhựa (mủ) cây ở một số quốc gia. Bộ phận sử dụng: Hầu hết các bộ phận trên cây đều có thể sử dụng kể đến như: quả, nhựa từ quả, lá, hoa, rễ và hạt. Công dụng Quả đu đủ thường được sử dụng làm thực phẩm bổ sung dưỡng chất cần thiết cho cơ thể con người như các dưỡng chất, các vitamin và các thành phần khhoa1ng chất. Nhưng hiện nay, cũng có nghiên cứu tìm thấy ở hạt và lá của cây cũng cho giá trị tương tự.
Kết quả được tổng hợp lại trong Bảng 1.