Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về cây chanh 1.1 Phân loại và nguồn gốc Cây chanh (Citrus aurantifolia Swingle), thuộc họ Rutaceae, chi Citrus và thuộc loài Citrus aurantiifolia. Cây chanh thuộc họ cam quýt, có nguồn gốc từ vùng Đông Nam A, sau đó được lan truyền qua Trung Đông, Bắc Phi, Ý, Tay Ban Nha, Tây An Độ, Mexico, Florida, California. Ở Việt Nam, chanh trồng nhiều ở ĐBSCL, tập trung ở Long An, Bến Tre, Tiền Giang và Cần Thơ.1 Đặc điểm thực vật Cây thân gỗ nhỏ hơn quýt, có gai dài, tán cây hình bán nguyệt hoặc hình dù, có hai loại cành là cành dinh dưỡng và cảnh cho quả. Lá mọc đơn, so le, mép lá có răng cưa, có chiều dài khoảng 5,5 - 11 cm, phụ thuộc vào đặc điểm sinh trưởng của cây.
Hoa có đặc điểm gần giống như hoa quýt, có 5 cánh rời, mọc thành chùm ở đầu cành hay mọc đơn ở nách lá. Quả chanh có kích thước đường kính trung bình từ 2,5 - 5 cm, qua tròn, nhọn ở hai đầu (Phan Trọng Thái, 2013).2 Gia trị dinh dưỡng Trong mỗi 100g nước chanh có chứa 126 kJ (30 kcal) năng lượng, 11 g Cacbohydrat, 1,7 g đường, 3 g chat xo, 0,2 g chat béo, 0,7 g chat dam, 29 mg (35%) Vitamin C. Trong đó có rất nhiều chất có tác dụng rất tốt cho cơ thé như vitamin C, calcium, sắt, magie, kali, chất xơ,. Thậm chí chanh chứa lượng kali dồi dào hơn táo hay nho rất nhiều, giảm cân hiệu quả, giảm viêm loét, tăng cường năng lượng cơ thẻ, giảm lượng cafein, chống virus hiệu quả (tăng sức đề kháng của cơ thể) (U.
14 Department of Agriculture, 2019).2 Tinh hình sản xuất chanh trên thế giới và Việt Nam 1.1 Tình hình sản xuat tại thế giới Năm Diện tích (ha) Năng suất (tan/ha) Sản lượng (tan) 2016 1.1 Tình hình sản xuất và năng suất chanh trên toàn thế giới từ năm 2016 — 2021 (FAO, 2023) Theo Bang 1.1, diện tích trồng chanh của thé giới từ năm 2016 — 2021 tăng theo từng năm, từ năm 2016 đến năm 2019 điện tích toàn thế giới tăng mạnh từ hon | triệu ha lên hơn 1,2 triệu ha. Từ năm 2019 đến năm 2021, diện tích tăng đều từ 1,2 triệu ha lên hơn 1,3 triệu ha. Sản lượng chanh trên toàn thế giới ở năm 2016 và 2017 đạt mức trên 17 triệu tan. Đến năm 2018, sản lượng tăng mạnh đạt gần 19,4 triệu tấn, tăng gần 2 triệu tấn so với năm 2017.
Từ năm 2019 đến năm 2021, sản lượng tang theo từng năm từ 19,7 triệu tấn lên 20,8 triệu tan. Năng suất thay đổi theo từng năm nhưng không đáng ké, năng suất chanh trên toàn thế giới là hơn 16 tan/ha ở năm 2016, giảm nhẹ xuống 15,7 tan/ha ở năm 2017, đến năm 2018 lai tăng lên hơn 16,5 tan/ha, từ năm 2019 đến năm 2021 sản lượng luôn ở mức trên 15,5 tan/ha.2 Tình hình sản xuất tại tỉnh Long An, Việt Nam Diện tích canh tác chanh tại tỉnh Long An ngày càng tăng, nông dân được tiếp cận với nhiều phương pháp chăm sóc hơn và được sự ủng hộ rất lớn từ các cơ quan ban ngành, đoàn thé trong nước. Tính đến tháng 8/2022, toàn tinh Long An có hơn 11,5 nghìn ha diện tích trồng chanh. Hai huyện đứng đầu về diện tích canh tác là huyện Bến Lức với hơn 6,7 nghìn ha chiếm 58,66% diện tích toàn tỉnh và huyện Đức Huệ với hơn 15 2,8 nghìn ha chiếm 24,68% diện tích toàn tỉnh.2 Tình hình sản xuất tại một số huyện có diện tích trồng chanh lớn hơn 100 ha tại tỉnh Long An Diện tích (ha) Sản lượng (tấn) Năng suất (Tạ/ha) Huyện 2018 2019 2020 2021 2022 2018 2019 2020 2021 2022 2018 2019 2020 2021 2022 Thanh Hod 3240 4838 530/70 59705 616,70 5.
17 Trong 5 năm gần đây, diện tích canh tác chanh tại huyện Bến Lức đã tăng hon 1 nghìn ha từ hơn 5,3 nghìn ha lên 6,7 nghìn ha. Năng suất trung bình đạt gần 160 tạ/ha. Sản lượng có sự biến động qua từng năm, trung bình đạt hơn 84 tắn. Đối với huyện Đức Huệ, điện tích tăng không đáng ké từ hơn 2,6 nghìn ha ở năm 2018 tăng hon 200 ha ở năm 2022.
Năng suất có xu hướng tăng nhẹ theo từng năm từ 171.8 tạ/ha lên 188 tạ/ha. Sản lượng trung bình đạt 46 tan (Bảng 1.3 Dich hại pho biến trên cây chanh Theo Trung tâm Dịch vụ Nông Nghiệp tỉnh Long An (2021) trên chanh có một số địch hại phô biến: Bệnh ghẻ loét: do vi khuân Xanthomonas citri gây ra. Bệnh nhiễm vi khuan này rat dé lây lan, bệnh gây ra các vét bệnh giống như quang vàng trên quả, lá và cành của cây chanh, bề mặt vết bệnh san sùi. Bệnh nặng các vết bệnh liên kết lại với nhau thành từng mảng lớn và bất dạng.
Đặc biệt là bệnh nhiễm theo các vết đục của sâu vẽ bùa. Nếu dé nó tiếp tục phát triển mà không được kiểm soát, cuối cùng sẽ dẫn đến chết cây, rung trái và rụng lá. Bệnh ghẻ nhám: do nam Flsinoeƒawceffii gây ra, thường gây hại trên cành non, ngọn và trái non. Trên lá: ban đầu vết bệnh là những cham nhỏ.
Sau đó chuyền thành màu nâu nhạt, nhô lên mặt dưới của lá, thành các nốt mụn ghẻ, làm cho lá bị cong về phía trước. Nếu cây bị nặng, lá sé bị vàng và rụng. Trên trái: vỏ sẽ nổi nhiều gai san sùi, có màu nâu xám rời rạc hoặc nôi lại thành mảng lớn. Bệnh nam hồng: do nam Corticium salmonicolor gây ra.
Nam tan công chủ yếu trên vỏ của thân và cảnh của cây trưởng thành, thường tập trung tai chang ba của cây, vì ở vị trí này nước thường đọng lại và lâu khô, tạo điều kiện thuận lợi cho nắm phát triển và gây hại. Triệu chứng ban đầu là trên vỏ cây có nhiều sợi nắm màu trắng phát triển và bao phủ vỏ cây, sau đó tơ nắm chuyền sang màu sậm đến đen. Trong quá trình lan rộng của vết bệnh, nam ký sinh xâm nhập vào bên dưới phá hại mạch dẫn làm chết vỏ cây, nước và chất dinh dưỡng không được vận chuyền lên trên làm cho phần cành phía trên vét bệnh khô và chét sau đó. Bệnh vàng lá thối rễ: do nam Phytophthora, Fusarium và tuyến trùng gây ra.
18 Bệnh thường xuất hiện ở dat có thành phần sét cao, độ pH thấp (pH<5). Dat sử dụng quá nhiều phân bón hóa học, ít chăm sóc. Diệt cỏ trong vườn, khiến mặt đất bị rửa trôi xói mòn vào mùa mưa, thoát nước trong vườn kém, ngập úng làm chết rễ, khiến rễ bị tôn thương, là điêu kiện cho nam Fusarium xâm nhập và gây hại. Bệnh nứt thân xì mủ: do nam Phytophthora spp.
Nam xâm nhập làm xi mủ trên thân, cành và gốc cây thông qua các vết nứt có sẵn. Các vết nứt này là biểu hiện của tình trạng cây bị thiếu hụt canxi. Bệnh làm cho vỏ cây bị úng nước, thối nâu sau đó nứt và chảy mủ. Phần gỗ nằm bên dưới chỗ bị bệnh bị thối nâu, vết bệnh cứ lan rộng dần ra xung quanh.
Từ đó cây không hút nước với đinh dưỡng lên nuôi cây được. Khiến lá bị vàng và rụng dân, các cành bị chêt dân, cây bi xơ xác, dân dân chét cây. Sâu vẽ bùa (Phyllocnistic citrella): Lá sau khi bi sâu vẽ bùa thường quoăn queo, co dúm, biến dang. Làm giảm quá trình quang hợp, giảm khả năng sinh trưởng của cây, ảnh hưởng đến năng suất.
Đồng thời sâu vẽ bùa tạo vết thương hở, là điều kiện cho nắm, khuan, sâu bệnh xâm nhập là nguyên nhân gây nên các bệnh ghé, lở, loét trên cây chanh. Sâu duc trái (Citripestis sagittiferella): Bướm đẻ trứng trên mặt vỏ trái vào ban đêm. Sâu non vừa nở, đục (chui) vào phần vỏ trái ăn phần xốp và sâu đủ lớn đục vào bên trong ăn phan thịt trái; sâu gây hại trái rất nhanh; sâu ăn và thai phân tạo thành lớp mun cưa bên ngoài vỏ trái; trái bi hại thường bị xì mủ (chảy nhựa). Sâu lớn chui ra ngoài, hóa nhộng trong đất và nở ra thành bướm.
Ngoài ra, vết thương do sâu đục vào phần vỏ trái sẽ tạo cơ hội cho các loại nắm bệnh, gidi,. làm trái bị hư va rụng hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng và giá trị thương phẩm của trái. Nhén đỏ (Panonychus ciri): Nhện gây hại bằng cách hút dich của mô tế bao lá làm cho mặt trên của lá bị vàng loang 16. Nếu mật độ cao làm lá bị xoăn lại.
Gặp điều kiện thuận lợi nhện sinh sản rất nhanh. Làm cho từng mảng lớn của lá bị vàng, khô, thậm chí toàn bộ lá bị khô cháy và rụng, gây thiệt hại lớn. Rệp (Pseudococcus): Rệp gây hại ở dot non, lá non, hoa, trái.và cả rễ cây có múi. Trong quá trình sống rép bai tiết nhiều đường mật, làm môi trường cho nắm bồ hong phát triển.
Nếu mật độ cao, gây hại nặng, rệp có thé làm cho rễ cây bị hư thối, cây bị suy kiệt, bộ lá vàng úa và chết.4 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Long An 1.1 Vị trí địa lí Long An là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Long An là tỉnh nam trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là có chung đường ranh giới với Thành phố Hồ Chí Minh bằng hệ thống giao thông đường bộ như tuyến Quốc lộ 1A, Quốc lộ 50. Tỉnh Long An có diện tích là 4.493,8 km’, chiếm 1,35% diện tích cả nước và bằng 11,06% diện tích của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.2 Khí hậu Về nhiệt độ: Nền nhiệt cao và ôn định qua các năm, trung bình từ 26 - 28°C. Về nắng: Tổng số giờ nắng trong nhiều năm dao động khoảng 2.800 giờ Về lượng mưa: tỉnh có lượng mưa trung bình năm khoảng 1.750 mm, mang đặc trưng của vùng Đông Nam Bộ và có sự phân bố theo mùa rõ.3 Sông ngòi Hệ thông sông ngòi, kênh rạch chăng chịt của tỉnh Long An nôi liên với sông Tiên và hệ thông sông Vàm Cỏ là các đường dẫn tải và tiêu nước quan trọng trong sản xuât cũng như cung câp cho nhu câu sinh hoạt của dân cư.5 Kỹ thuật trồng và chăm sóc chanh 1.1 Đất trồng Dat trồng chanh cần bằng phẳng, tơi xốp, nhiều mun, thoáng khí, giữ ẩm tốt, không bị ngập úng trong mùa mưa (mực nước ngầm sâu dưới 50 cm).
Nơi đất thấp nên đào mương lên liếp, đắp mô giúp thoát nước nhanh, pH đất thích hợp cho cây phát triển từ 5,5 - 8, nhưng tốt nhất là từ 6 - 7 (Công thông tin Trung tâm Dich vụ Nông Nghiệp tỉnh Long An, 2021).2 Thời vụ Thường trồng vào đầu mùa mưa, vào khoảng tháng 5 - 6 dương lịch.