Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các giống xoài được trồng phổ biến ở Việt Nam Ở Việt Nam, Xoài được trồng rất nhiều giống khác nhau và được chia thành 2 nhóm chính: nhóm xoài nội và xoài nhập nội. Xoài nội bao gồm: Xoài cát Hòa Lộc, xoài Cát Chu, xoài bưởi, xoài Thanh Lai, xoài Thanh Ca, xoài Tượng. Xoài nhập nội gồm: Nam-dok-mai, Sok-a-năn, Phá- lăn, xoài Dai Loan, xoài Uc, xoài Keo. Những giống xoài được trồng nhiều ở Việt Nam gồm: xoài cát Hòa Lộc, xoài Cát Chu, xoài Keo, xoài Dai Loan, xoai Uc.1 Xoài cát Hòa Lộc Xoài có nguồn gốc ở xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Xoài này có kích thước khá to với cân nặng trung bình khoảng 450 - 700 g/quả. Trong vụ thuận, xoài cho thời gian thu hoạch khoảng 85 - 90 ngày sau khi đậu quả. Trong vụ nghịch, xoài cát Hòa Lộc cho thời gian thu hoạch khoảng 80 - 85 ngày sau khi đậu quả. Hàm lượng chất khô đạt 22 - 28%, tỉ lệ thịt quả 80 - 82% (Tran Văn Hâu và ctv, 2015).2 Xoài Keo Xoài keo có nguồn gốc từ tinh Tà Keo (Cam Pu chia) và dang được trồng nhiều ở các tỉnh phía nam.
Xoài có dạng tròn, phình to ở giữa và thon về 2 đầu, xoài keo bên ngoài vỏ xanh bên trong lại vàng. Cây mau cho quả, quả nặng trung bình 300 - 400 g.3 Xoài Đài Loan Xoài Đài Loan: là giỗng xoài có nguồn gốc từ Đài Loan, dễ trồng, tỉ lệ ra hoa và đậu quả khá cao. Lá to, thon dài, mép lá phẳng. Quả to, thuôn dài trọng lượng trung bình 3 từ 1.500 g/quả, bề mặt vỏ quả có mảu tím hồng, thịt vàng, vị ngọt, có thé ăn xanh hoặc ăn chín.4 Xoài Tượng Xoài tượng là giống xoài nội có kích thước lớn nhất, dài và thường được sử dụng khi xoài chưa chín.
Xoài tượng là giống có năng suất cao, do quả có kích thước lớn.5 Xoài Úc Xoài Úc có nguồn gốc từ Australia và được trồng nhiều ở Khánh Hòa. Xoài kích thước trung bình, thời gian ra quả khoảng 90 - 95 ngày (sau khi đậu quả). Xoài Úc có dang lá thuôn dai, mép thang, có trọng lượng từ 800 - 1. Xoài trước khi chin có màu tím hồng, lúc chín có màu vàng.2 Kỹ thuật canh tác 1.1 Thời vụ và khoảng cách Khoảng cách xoài có thể tùy theo vị trí địa lí, khí hậu nhưng khoảng cách đang được sử dụng nhiều là 7 - 10 m trên đất thấp và 9 - 12 m trên đất cao.
Tương ứng mật độ là 100 - 150 cây/ha đối với đất thấp và 70 - 120 cây/ha đối với đất cao.2 Làm đất Đối với đất thập ở ĐBSCL thì cây ăn quả nói chung va cây xoài nói riêng thì đều phải lên liếp, lên liếp giúp thoát nước tránh ngập úng vào mùa mưa và dễ dàng dẫn nước vào mùa khô. Ngoài ra lên liếp còn dé nâng cao đất mặt và làm dày đất canh tác.1 Thời kỳ kiến thiết cơ bản Phân hóa học: Trong 3 - 5 năm đầu tiên là thời kỳ kiến thiết cơ bản của xoài, cần bón phân cân đối lượng N, P, K dé giúp cây phát triển cành nhánh, rễ và nếu cây có qua, hoa thì nên cắt tia bớt để cây đồn sức phát triển cành, nhánh và rễ. Phân hữu cơ tuy có hàm lượng dinh dưỡng thấp nhưng nó giúp cải thiện đất và giúp cây hấp thụ phân bón hóa học tốt hơn. Lượng phân bón ước lượng ở thời kỳ kiến thiết cơ bản trên xoài (kg/cây/năm) được trình bày ở Bang 1.1 Lượng phân bón ở thời kỳ kiến thiết cơ bản Phân bón Liều lượng (kg/cây/năm) Năm NPK 20-20-15 Phân hữu cơ Vôi Nam 1 0,3 - 0,4 20 - 30 0,2 - 0,3 Nam 2 0,5 - 0,6 20 - 30 0,2 - 0,3 Nam 3 0,7 - 0,8 20 - 30 0,2 - 0,3 (Nguôn: Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Hong Phú, 2004) 1.2 Thời kỳ kinh doanh Phân hóa học: Từ năm thứ 5 trở đi thì cần bón phân cân đối và lượng phân bón được ước lượng (kg/cây/năm).2 Lượng phân bón ở thời kỳ kinh doanh (kg/cây/năm) Thời điểm bón Đầu trâu ATI Đầu trâu AT2 Đầu trâu AT3 Phân hữucơ Phân Vôi Sau khi thu hoạch và tỉa cành 3,0 + ý - 8 Trước khi xử lý ra hoa | tháng 2,0 = = 3 Sau khi dau qua nua thang Đầu mùa khô = = = 30 - 40 Đâu mùa mưa - 5 = (Nguon: Nguyễn Bảo Vệ va Nguyễn Hong Phú, 2004) 5 1.4 Phương pháp xử lí ra hoa trái vụ trên xoài Các hóa chất thường được dùng dé kích thích cây ra hoa là: Kali nitrat và Paclobutrazol.
Nitrat kali: Thường được sử dụng vào cuối tháng 9 âm lịch và cây sẽ ra hoa sau 3 -5 tuần sau khi xử lý, khi xử lý ra hoa cần quan tâm đến thời tiết để tránh gặp mưa vì sẽ làm hoa rụng và nắm bệnh dễ phát trién. Paclobutrazol: Được sử dụng ở giai đoạn dot non, khi lá non phat triển hoàn toàn và sử dụng bằng cách tưới quanh gốc. Sau khi phun 20 - 30 ngày thì bón DAP và Kali và MKP (0 - 52 - 34).5 Tỉa cành Xoài khi tán dày sẽ hạn chế ánh nắng đi qua, độ ẩm cao sẽ gây giúp bệnh hại phát triển nên khi ở giai đoạn kinh doanh thì cần thực hiện tỉa cành sau khi đã thu hoạch, cắt tỉa cảnh mọc sát đất, cành sâu bệnh.6 Nước tưới Đối với xoài thì việc giữ độ 4m trong đất và độ âm không khí rất quan trong vì nước cần thiết ngay cả khi cây còn nhỏ đến khi cây trưởng thành. Khi cây còn nhỏ nước giúp cây phát triển, sinh trưởng tốt, đối với cây xoài trưởng thành thì cần tưới lượng nước phù hợp đề cây phát triển từ lúc xiết nước, khi sắp thu hoạch cần tưới nhiều lần để cây hấp thụ nước tốt hơn.3 Sâu, bệnh hại chủ yếu trên xoài 1.1 Bọ cắt lá (Deporaus marginatus Pascoe) Đặc điểm gây hại: Con cái trong giai đoạn sinh sản kéo dài từ 30 - 60 ngày, sẽ đẻ trứng dọc theo gân chính của lá và cắt số lượng lớn những lá non, làm cây rụng lá gây giảm năng suất.
Biện pháp hữu hiệu và đơn giản là thu gom các lá non bị rụng trong vườn mang đi tiêu hủy. Nếu vườn bị nhiễm nặng thì nên đào xới dưới tán cây dé diét nhộng và phun thuôc lên lá non.2 Bọ trĩ (Scirtothrips dorsalis Hood) Đặc điểm gây hại: Chúng thường chích hút trên chdi, lá non, hoa và qua non. Trên lá khi bị chích hút sẽ gây biến dạng lá, trên chồi nếu bị chích hút sẽ không ra lá và quả, gây rụng hoa, rụng và biến dạng quả non. Biện pháp phun nước lên chdi, lá, quả non sẽ làm giảm mật độ bọ trĩ.
Nếu mật độ bọ trĩ cao cây sẽ không ra chồi non được, vì thế nên cắt tỉa cành thường xuyên nhưng nếu mật độ bo trĩ từ 3 - 5 con/chỗi thì nên sử dung thuốc BVTV dé kiểm soát.3 Ray bông xoài (Iđ/oseopus niveoparsus) Đặc điểm gây hại: Rầy bông xoài dài khoảng 2 - 3 mm, có mắt to, chúng bám vào phát hoa đề hút nhựa và tiết ra mật làm cho nắm muội phát triển. Ngoài ra chúng còn gây hại cả đọt non, quả non và đẻ trứng trên cuông lá non, cuôn hoa gây chêt ở bộ phận này. Biện pháp phòng trừ: là dùng bẫy đèn và dé chậu nước có xà phòng bên dưới, đặt bẫy vào đêm không có trăng. Những vùng bị nhiễm rầy thường xuyên thì nên tỉa cành, vệ sinh sau thu hoạch, phun thuốc ngừa rầy vào giai đoạn trước va sau khi hoa nở.
Nếu phát hiện ray trên lá thì nên sử dụng thuốc đặc trị ray (gốc cúc) và đặc biệt chú ý luân phiên các hoạt thuốc đề tránh kháng thuốc.4 Ruồi đục qua (Bactrocera dorsalic H.) Đặc điểm gây hại: Ruồi cái dùng ống đẻ trứng vào vỏ quả sắp chín, ấu trùng nở ra đục vào trong ăn phá làm cho quả bị rụng hoặc thối hỏng trong quá trình lưu trữ, nơi bị hại có vết thâm. Biện pháp phòng trừ: Thu gom những quả thối hỏng bị ruồi gây hại, vệ sinh vườn thường xuyên, dùng bẫy Methyl eugenol.2 Bệnh hại Trên xoài có rất nhiều loại bệnh nhưng có một số bệnh đặc trưng và phô biến là: Bệnh than thư, đốm đen xì mủ, bệnh phấn trắng.1 Bệnh than thư (Colletotrichum gloeosprioides) Đặc điểm gây hại: Bệnh than thư thường gây hại trên dot non, hoa, quả va lá, dé nhận biết nhất là trên lá và quả. Trên lá ban đầu là đốm đen nhỏ, khi gặp điều kiện ẩm 7 ướt chúng sẽ phát triên thành vêt bệnh lớn, các vêt bệnh có tâm là màu nâu, xung quanh có quâng màu xanh vàng nhạt. Trên quả non khi bị tân công sẽ có vêt đôm màu nâu ở cuông quả, sau đó lan rộng và làm rụng quả.
Biện pháp phòng trừ: Cắt tỉa cành, lá để tạo độ thông thoáng và loại trừ các tác nhân mầm bệnh đang có trên cây, sử dụng giống chống chịu và cây sạch bệnh. Dùng các loại thuốc gốc đồng, trừ nắm luân phiên theo mức khuyến cáo.2 Dom đen xì mủ (Xanthomonas campestris pv. mangeferae) Đặc điểm gây hại: Vi khuan tan công trên lá, cành, hoa và qua,. Ban đầu quả có triệu chứng như bị ton thương do ngập nước và những tôn thương này phát triển dần lên thành những vết loét đồng thời có mủ rỉ ra và làm cho quả bị nứt.
Gây hại nặng khi mưa nhiêu, đặc biệt là mưa đêm. Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh vườn sau thu hoạch, cắt bỏ cành lá bệnh, nên phun thuốc sau khi cắt tia, thu quả. Sử dung các loại thuốc gốc đồng dé phòng trừ vi khuẩn theo khuyến cáo.3 Bệnh phấn trắng (Odium mangifera) Đặc điêm gây hại: Bệnh xuât hiện trên lá non, chùm hoa, cuông quả và quả non nhưng chủ yêu là trên lá non và chùm hoa. Triệu chứng ban đâu là những đám nâm nhỏ, màu trăng đục, dạng bụi phân về sau bệnh phát triên nhanh và có thê chiêm toàn bộ diện tích lá (Vũ Triệu Mân, 2007), bệnh gây hại làm quả biến dạng, nhạt màu và rụng.
Biện pháp phòng trừ: Tiến hành chọn lọc và sử dụng những giống xoài có khả năng chống chịu với bệnh, không nên trồng những giống man cảm với bệnh nhất là đối với những vùng thường xuyên bị bệnh nặng (Vũ Triệu Mân, 2007). Có thể phòng trừ bằng cách dùng hỗn hợp lưu huỳnh - vôi 1:1:100, Cooper - B 0,2%, Benomyl 0,15% phun định kỳ 10 - 15 ngày/lần (Nguyễn Văn Kế và Thái Nguyễn Diễm Hương, 2019).