Đặt vấn đề Cao su (Hevea brasiliensis Muell.) là loại cây cho sản lượng mủ cao, phẩm chất mủ tốt nhất trong các loại cây cho nhựa mủ. CS có nhiều tác dụng lớn trong các lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, quốc phòng, dân dụng.Trong đời sống xã hội có tới 5 vạn loại sản phẩm có chất liệu cao su, chẳng hạn một áo đi mưa cần 1kg cao su khô, một ô tô cần 240 kg và 1 máy bay cần 600 kg cao su khô,. Trong kinh doanh, cao su là cây thu được lợi nhuận lớn gấp 7 – 10 lần so với cây trồng lương thực. Ngoài ra hạt cao su có thể ép dầu (tỷ lệ dầu 25%) làm xà phòng, khô dầu cho chăn nuôi, dầu đốt,.
Vỏ quả CS cứng có thể chế than hoạt tính làm pin đèn, gỗ dán, gỗ cao cấp. Cây cao su không những có giá trị kinh tế cao mà còn có nhiều ý nghĩa khác như: làm sạch môi trường, ổn định sinh thái. Diện tích cao su tại nước ta đạt khoảng 400.000 ha vào năm 2004 và tăng đến 492. Dự tính sẽ tăng khoảng 700.000 ha vào năm 2015 trên nhiều vùng sinh thái khác nhau (Phan Thành Dũng, 2004).
Trong khi theo Chee (1976), tổng hợp tình hình bệnh hại cao su trên thế giới có 550 loài vi sinh vật tấn công, với 24 loài có tầm quan trọng về kinh tế, gồm 14 loại phá hại lá, 8 loại hại thân cành và 5 loại hại rễ (Phan Thành Dũng dẫn nhập, 2004). Ngoài ra, cỏ dại cũng gây ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng và sản lượng mủ cao su, không những trực tiếp gia tăng giá thành sản xuất mà còn gián tiếp ảnh hưởng tới đời sống của người trồng cao su. Trong đó, cây tầm gửi (TG) là đối tượng dịch hại đang phát triển mạnh gần đây ở một số nơi tại Việt Nam. 1 Do vậy công tác bảo vệ thực vật cho cây cao su ngày càng đóng vai trò cấp t h i ế t n h ằ m g i ả m t h i ệ t h ạ i d o : v i s in h v ậ t , c ôn t r ù n g v à c ỏ d ạ i g ây r a.
T u y h i ệ n n a y ở V i ệ t N a m c ũ n g n h ư t h ế g i ớ i , việc đầu tư nghiên cứu cho công tác bảo vệ thực vật nói chung hay c â y c a o s u n ó i r i ê n g r ấ t đ ư ợc c h ú t rọ n g p h á t t r i ể n v à cũ n g t h u đ ư ợc n h ữ n g t h à n h tự u đá n g k ể. s o n g đ ố i với b ệ n h h ạ i c â y c a o s u d o t ầ m g ử i v i ệ c n g h i ê n cứu v à t ì m r a c á c h x ử l ý h i ệ u q u ả đa ng đ i v à o n g õ c ụ t. N g o à i r a t r ê n t h ế g i ới c ũ n g c h ư a t ì m r a đ ư ợc p h ư ơn g p h á p h i ệ u q u ả đ ể x ử l ý T G t rê n d i ệ n r ộ n g. Với đề tài “Khảo sát đặc điểm sinh học, chu trình phát triển và gây bệnh nhân tạo tầm gửi lá nhỏ (Taxillus chinensis) thuộc họ Loranthaceae trên cây cao su (Hevea brasiliensis Muell.)” tôi mong muốn có thể cung cấp một số thông tin về cây TG cho việc nghiên cứu và tìm ra phương pháp xử lý hiệu quả sau này.
Mục đích Điều tra tình hình bệnh trên một số lô cao su. Khảo sát sản lượng mủ cao su ở ba lô điều tra bệnh. Khảo sát phổ ký chủ của tầm gửi. Định danh một số loại tầm gửi trên cây cao su.
Khảo sát chu trình phát triển của tầm gửi lá nhỏ (Taxillus chinensis). Giải phẫu mô cao su bị tầm gửi ký sinh. Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ Garlon 250 lên sự phát triển của TG. Yêu cầu Nắm được những quy trình kỹ thuật và sử dụng được những dụng cụ, thiết bị nghiên cứu liên quan.
Giới hạn đề tài Chưa có những nghiên cứu đi trước ở trong nước và ngoài nước làm nền tảng. Thời gian ngắn. Địa điểm thực hiện xa và trải rộng không tập trung. 2 Nghiên cứu mới chỉ mang tính thăm dò.
Cơ sở vật chất phục vụ cho nghiên cứu thí nghiệm còn thiếu. Đề tài hơi chuyên sâu về thực vật. 3 Chƣơng 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về cây cao su Cây cao su (Hevea brasiliensis Muell.) thuộc bộ ba mảnh vỏ họ thầu dầu (Euphorbiaceae), mọc dọc theo sông Amazone ở Nam Mỹ.
Cách đây gần 10 thế kỷ, thổ dân Mainas sống ở đây đã biết lấy nhựa của cây này dùng để tẩm vào quần áo chống ẩm ướt và tạo ra những quả bóng vui chơi trong dịp hội hè. Họ gọi chất nhựa này là Caouchouk, theo Thổ ngữ Mainas nghĩa là “Nước mắt của cây” (cao là gỗ, uchouk là chảy ra hay khóc). Cây cao su thuộc loại cây lấy nhựa mủ có nguồn gốc non trẻ, chỉ cách đây vài trăm năm. Tuy cao su được những thổ dân Mainas phát hiện rất sớm song phải đợi đến đầu thế kỷ thứ XVIII, các nhà bác học và các nhà công nghệ mới quan tâm đến cao su.
Công việc này bắt đầu với La Condamine và Fresneau, 2 nhà bác học Pháp. Năm 1939, Charles Goodyear đã phát hiện phương pháp “lưu hoá” mủ cao su, biến cao su thành một nguyên liệu vô cùng quan trọng trong nền kinh tế thế giới và trong đời sống hàng ngày của xã hội văn minh. Cây cao su được du nhập vào Châu Á từ năm 1876 và trồng trên 9 triệu ha ở nhiều nước, chủ yếu ở các vùng nhiệt đới như một cây trồng độc canh. Cao su đã và đang đóng góp nhiều vào nguồn xuất khẩu và công ăn việc làm, nhất là ở các nước Đông Nam Á.
Sản lượng cao su toàn thế giới vào khoảng 8 triệu tấn và vẫn tiếp tục gia tăng hàng năm. Những cây cao su đầu tiên xuất hiện ở nước ta được trồng ở vườn thực vật Sài Gòn vào năm 1877, lấy giống từ Singapore nhưng không còn cây nào sống sót. Đến năm 1897, dược sỹ Raoult (người Pháp) đã gửi hạt giống và một số cây con từ Java để đã nhận được một số cây con đem trồng tại Suối Dầu trong phần đất của 4 Pasteur Nha Trang. Sau đó bác sỹ Yersin nhập nhiều hạt giống từ Columbo (Sri Lanka) để thành lập đồn điền cao su đầu tiên ở nước ta.
Đến thập niên 50, một số diện tích cao su cũng định hình tại Tây Nguyên. Một số đặc điểm chung của cao su Thông thường cây cao su có chiều cao khoảng 20 m, rễ ăn rất sâu để giữ vững thân cây, hấp thu dưỡng chất và chống lại sự khô hạn. Cây có vỏ nhẵn màu nâu nhạt, lá thuộc dạng lá kép, mỗi năm rụng lá một lần. Hoa thuộc loại hoa đơn, hoa đực bao quanh hoa cái nhưng thường thụ phấn chéo, vì hoa đực chín sớm hơn hoa cái.
Quả cao su là quả nang có 3 mảnh vỏ ghép thành 3 buồng, mỗi nang một hạt hình bầu dục hay hình cầu, đường kính 2 cm, có hàm lượng dầu đáng kể được dùng trong kỹ nghệ pha sơn. Cây phát triển tốt ở vùng nhiệt đới ẩm, có nhiệt độ trung bình từ 22 - 30ºC (tốt nhất ở 26 - 28ºC), cần mưa nhiều (tốt nhất là 2.000 mm) nhưng không chịu được sự úng nước và bão. Cây cao su có thể chịu được nắng hạn khoảng 4 đến 5 tháng, tuy nhiên năng suất mủ sẽ giảm. Tại Việt Nam, cây thích hợp với đất đỏ sẫm ở vùng Đông Nam Bộ.
Cây chỉ sinh trưởng bằng hạt, hạt đem ươm được cây non. Khi trồng cây được 5 tuổi có thể khai thác mủ, và sẽ kéo dài trong vài ba chục năm. Việc cạo mủ rất quan trọng và ảnh hưởng tới thời gian và lượng mủ mà cây có thể cung cấp. Bình thường bắt đầu cạo mủ khi chu vi thân cây khoảng 50 cm.
Cạo mủ từ trái sang phải, ngược với mạch mủ cao su. Độ dốc của miệng cạo từ 20 đến 35º, vết cạo không sâu quá 1,5 cm và không được chạm vào tầng sinh gỗ làm vỏ cây không thể tái sinh. Khi cạo lần sau phải bóc thật sạch mủ đã đông lại ở vết cạo trước. Thời gian thích hợp nhất cho việc cạo mủ từ 7 đến 8 giờ sáng.
Hiện nay cây cao su là một trong những cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, và đang được trồng nhiều trên các vùng miền khác nhau của nước ta. Những thành tựu đạt đƣợc của ngành cao su Tính đến nay, vừa tròn 110 năm cây cao su được du nhập vào Việt Nam (1897) và 100 năm hình thành những đồn điền kinh doanh (1907). 5 Diện tích trồng cây CS đã tăng rất nhanh, từ 7.077 ha tập trung tại các tỉnh Đông Nam Bộ vào năm 1920; đã tăng lên đến 492.000 ha trên cả nước, cho tổng sản lượng mủ khai thác đạt 540. (nguồn: http://www .php?m=multipage&id=46&menuid=142&pg=1).
Dự tính sản lƣợng cao su Việt Nam vào năm 2007 Sản lượng CS Việt Nam dự báo tăng 7,4% đạt 580.000 tấn vào năm 2007 so với mức 540. Nhu cầu CS thế giới đang nổi lên như Trung Quốc, Ấn Độ. Ngoài ra, kinh tế Hoa Kỳ đang trên đà phát triển mạnh, kinh tế Nhật Bản phục hồi nhanh chóng cùng làm tăng nhu cầu lốp xe và các sản phẩm CS khác (Báo Cao su Việt Nam, 2007). Một số dòng vô tính cao su thông thƣờng tại Việt Nam Theo Phan Thành Dũng viện phó Viện Nghiên cứu CS Việt Nam cho biết: sau khi du nhập vào Châu Á, cây CS chủ yếu được trồng từ hạt (seeding), nhưng do không đồng đều về sinh trưởng và sản lượng nên chúng mang lại hiệu quả kinh tế không cao.
Sau một thời gian nghiên cứu, việc tạo, tuyển chọn giống đã được thực hiện và áp dụng. Do đó ngày nay CS thường đuợc trồng bằng dòng vô tính (clone). Hầu hết các diện tích CS trên toàn thế giới đều được trồng bằng dòng vô tính với tiềm năng sản lượng có thể đạt trên 3 tấn/ha/năm (so với thực sinh chỉ đạt 0,5 - 0,6 tấn/ha/năm).