Chương 1 MO DAU 1. Đặt van đề Từ lâu, người nuôi ong đã nhận thấy nghề nuôi ong mật không những mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn là nghề góp phan bảo vệ môi trường sinh thái. Có nghề nuôi ong mật, các hộ nông dân càng quan tâm hơn tới phát triển vườn cây ăn quả cũng như bảo vệ rừng, chăm sóc day mạnh diện tích trồng rừng, dé bồ sung nguồn thức ăn tự nhiên cho đàn ong. Hiện nay, nghề nuôi ong đã trở thành một ngành sản xuất hàng hóa vô cùng phát triển, nhiều trang trại nuôi ong với quy mô lớn và nhỏ không ngừng được mở ra, nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và thị trường sản xuất các sản phẩm từ sáp ong.
Các loại sáp ong đưa ra thị trường từ các cơ sở này, cần phải đạt được chất lượng ồn định của sáp, thỏa mãn các tiêu chí mà thị trường yêu cầu. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, các tiến bộ kỹ thuật đã được áp dụng vào thực tế sản xuất nông nghiệp nói chung và nghề nuôi ong mật nói riêng là động lực thúc day sản xuất nông nghiệp phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, để dam chat lượng sản phẩm của ong mật thì ngay từ khâu nuôi ong đến sơ chế và tinh sạch phải kiểm soát đồng bộ các quy trình kỹ thuật và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về quan lý chất lượng sản phẩm ong theo tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế. Sáp ong sau khi thu hoạch có hình dáng không đồng nhất do việc thu hoạch sáp phải tiến hành thủ công, màu sắc của những khối sáp không được đẹp mắt do có chứa các tạp chất và những mẫu sáp có sự khác biệt về màu sắc; chứng tỏ rằng về mặt cảm quan của sáp chưa đạt yêu cầu về sự đồng nhất và chất lượng.
Bên cạnh đó, sáp ong vừa thu hoạch vẫn còn bụi bận, các ấu trùng ong, phan hoa. nên không thé sử dụng ngay cho việc điều chế các sản pham từ sáp. Do đó, cần có một quy trình hiệu qua cho việc sơ chế sáp; công đoạn này sẽ giúp sáp ong sạch, sáng màu, dat đủ tiêu chuẩn dé đưa ra thị trường. 10 Được sự phân công của BM HCTN, dưới sự hướng dẫn của ThS.
Trần Đình Hương và TS. Lê Minh Hoàng. Tôi thực hiện đề tài “Khảo sát và đánh giá quy trình sơ chế sáp ong (Beeswax)”. Mục đích đề tài 1.
Tìm được điều kiện phù hợp dé sơ chế sáp ong đạt chất lượng cao 2. Đánh giá chất lượng sáp ong đã qua sơ chế so với sáp ong nguyên liệu 1. Nội dung đề tài 1. Khảo sát tính chất vật lý và thông số hóa lý của sáp ong thô 2.
Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian nau sáp đến màu sắc của sáp ong 3. Khao sát ảnh hưởng của kích thước lỗ lọc đến màu sắc, hiệu suất thu hồi của sắp ong 4. Khảo sát anh hưởng của nhiệt độ lọc đến hiệu suất thu hồi sáp ong 5. Khảo sát và đánh tính chat vật lý và thông số hóa ly của sap ong thành phẩm 1.
Đối tượng nghiên cứu Sáp ong của loài ong mật đang được nuôi ở trại ong tại tỉnh Tiền Giang 1. Phạm vi nghiên cứu Sơ chế sáp ong theo quy mô phòng thí nghiệm 1. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn Ý nghĩa khoa học: Việc khảo sát quy trình sơ chế sáp ong nhằm bồ sung nội dung về quy trình sơ chế, làm rõ các yếu tô ảnh hưởng đến sơ chế sáp, xây dựng cơ sở lý thuyết và giải pháp sơ chế sáp ong. Ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu này có thé là tài liệu có khả năng được ứng dụng vào quy trình sơ chế sáp ong.
11 Chương 2 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về sáp ong 2. Một số khái niệm về sáp ong Sap ong (Beeswax) là một chat sáp tự nhiên được ong mật thuộc chi Apis sản sinh ra. Sáp có dạng hình "vảy" bởi 8 tuyến sản sinh sáp trong phân đoạn bụng của ong thợ, con ong thải bỏ chúng bên trong hoặc tại tổ ong.
Ong thợ thu thập và sử dụng chúng tạo thành lỗ tô ong lưu trữ mật ong, bảo vệ ấu trùng và nhộng bên trong tổ ong [2]. Về mặt hóa học, sáp ong bao gồm chủ yếu các ester của axit béo và những alcohol mạch dai khác nhau [3]. Sáp được hình thành đo hoạt động làm tô của ong thợ, ong sẽ tiết ra từ tám tuyến phản chiếu sản sinh sáp ở bên trong mảnh bụng (tam chắn bụng hoặc mảng của từng đoạn cơ thể) trên các đoạn bụng 4 đến 7 [4]. Kích cỡ những tuyến sáp này phụ thuộc vào tuôi ong thợ va sau nhiều lần bay hàng ngày, những tuyến nay bắt đầu bị teo đần.Sáp mới ban dau trong suốt và không mau, trở nên mờ đục sau khi nhai và pha trộn với phan hoa của ong thợ xây tô.
Ngoài ra, sáp dần ngả màu vàng hoặc nâu do sáp nhập dầu phan hoa và keo ong. Vay sáp có kích thước khoảng 3mm (0,12 in) và day 0,1 mm (0,0039 in); cần khoảng 1100 vảy dé tạo ra một gam sáp [5]. Lượng sáp ong được sinh 12 ra phụ thuộc vào sản lượng mật ong được tạo thành. Tuy chưa chưa có một nghiên cứu chính xác về sự ảnh hưởng này nhưng theo một số thử nghiệm theo dõi ở một số bay ong cho thấy, trong 1 pound sáp ong có thể có chứa từ 22 — 30 pound mật ong [6].
Ong mật sử dụng sáp ong để xây dựng lỗ tổ ong trong đó ong non được nuôi bằng mật ong và tế bào phan hoa bị giới hạn dé bảo quản. Đối với những con ong tạo sáp tiết ra chat sáp, nhiệt độ môi trường trong té ong phải từ 33 °C đến 36 °C (91 °F đến 97 °F). Đặc tính hóa lý Bảng 2.1 Tổng quan so sánh các thông số chất lượng sáp ong theo FAO (2005), luật pháp Châu Âu (2009/10 / EC; EP 2007) và Ủy ban Mật ong Quốc tế [7] EP 5.0 Thông số FAO 2009/10/ (2007) (2007) IHC (2005) EC Sap ong Sap ong (2016) vang trang Phamvinongehay ¿2 65 62-65 61 — 66 61 — 66 61—65 (°C) Khối lượng riêng : 0.96 0,96 0,96 š (D) , Chi KORIA) số axit (mg lW-Ðd Tro 17-22 17-24 17-52 Chỉ số xà phòng 87 — 104 87 — 102 hóa (mg KOH/g) 87-104 87-104 87 — 102 Chi số ester hóa (mg KOH/g) - 70 — 80 70 — 80 70 —90 Chi số peroxide (mM H202/kg) Đặc tinh giống loài là một yếu tố tác động đến thành phan và đặc tính của các sản phẩm từ loài ong. Bên cạnh đó, điều kiện thiên nhiên ở mỗi khu vực sẽ có sự khác biệt nên thực vật có hoa ở những vùng này cũng khác nhau.
Điều đó, dẫn đến thành phần của mỗi sáp ong không giống nhau và gây ra sự khác biệt giữa các thông số hóa lý. 13 Sap ong có phạm vi nhiệt độ nóng chảy tương đối thấp từ 60 đến 65 °C [7]. Nếu sáp ong được nung nóng trên 85 °C (185,0 °F) xảy ra biến đôi màu. Điểm bốc cháy của sáp ong là 204.
Khối lượng riêng tại 15 °C từ 0,921 — 0,957. Sap ong thiên nhiên dé vỡ khi gặp lạnh, kết dính chặt ở nhiệt độ thường, nứt gãy khi khô. đông đặc ở 60,5 đến 63 °C (140,9 đến 145,4 °F). Thành phần hóa học Bảng 2.2 Thành phần hóa học của sáp ong Châu Âu A.
mellifera [10] Thành phần % (w/w) Hydrocarbons 14 Monoeste 35 Diesters 14 Triesters 3 Hydroxy monoesters 4 Hydroxy polyesters 8 Acid esters 1 Acid polyesters 2 Free acids 12 Free alcohols 1 Khong xac dinh 6 Tổng 100 Sáp ong là một loại sáp bền chắc được hình thành từ hỗn hợp một số hợp chất. Sáp ong có nguồn gốc từ sáp A. mellifera là một hỗn hợp phức hợp dựa trên lipid của hơn 300 thành phan; nó chủ yếu bao gồm các este (67%), hydrocacbon (14%), axit béo tự do (12%), rượu tự do (1%), và các thành phần khác (không xác định) (6%) [10]. Do có quá nhiều thành phần khác nhau bên trong sáp ong, nên những thành phần được phân chia thành các nhóm khác nhau.
Trong đó, các họ hợp chất chính trong sáp ong được biết đến là những chất vượt quá 5% (w/w) của tổng thành phan sáp ong (ankan, anken, axit béo tự do, monoesters, diesters và hydroxymonoesters), những thành phan 14 có tỉ lệ chiếm <5% được xem là thành phần phụ [10]. Ngoài ra, các thành phần được xác định hình thành nên sáp ong còn được chia theo cầu trúc, đặc tính, chức năng. Tổng hàm lượng hydrocacbon trong sáp ong nằm trong khoảng từ 12,3 đến 17,8%. Sáp ong chủ yếu là bao gồm chuỗi thắng (không phân nhánh) bão hòa hyrocacbon (12.8%), với chiều đài chuỗi chiếm ưu thé của C27 — Csi.
Cụ thé hơn, nhiều nhất nhóm các hydrocacbon của sáp ong là bão hòa mach thang hydrocacbon (n — ankan), chiếm 67% của tất các hydrocacbon xuất hiện trong sáp ong, tron khi thành phần ankan phân nhánh ankan xuất hiện với lượng nhỏ hơn nhiều (0,2%). Tình hình nuôi ong ở Việt Nam Theo số liệu thống kê của Cục Chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp & PTNT, ước tính năm 2018, nước ta có khoảng 1,2 triệu đàn ong, bao gồm các giống ngoại (ong Y) và ong nội. Trong đó, ong nội có khoảng 200. Số người nuôi ong trong cả nước hiện có khoảng 30.000 người, trong đó, hộ nuôi ong chuyên nghiệp có 6.000 người, chiếm tỷ lệ 20%.
Thống kê cho thấy, có 90% sản lượng mật ong hang năm của Việt Nam đã được xuất khâu. Trong đó, sản phâm được xuất sang thị trường Mỹ là chủ yếu, chiếm từ 90- 95% tổng sản lượng; chỉ có 5- 10% còn lại là xuất khẩu sang châu Âu và tiêu thụ ở thị trường nội địa. Nhờ có những điều kiện thuận lợi từ hệ sinh thái thực vật phong phú cũng như tiềm năng và lợi thế về rừng, vườn rừng cùng một số loại cây ăn quả đa dạng, những năm gần đây, nghề nuôi ong lấy mật ở nước ta đã và đang phát triển nhanh chóng cả về chất lượng và số lượng. Mặc dù người nuôi ong và các đàn ong mật nằm rải rác khắp cả nước song đối với khu vực Đông Nam bộ, Tây Nguyên và miễn núi phía Bắc, thường được đánh giá là nơi có tiềm năng dé trở thành vùng sản xuất mật ong tập trung cũng như phát triển mạnh nghề nuôi ong lây mật.
Tại khu vực Tây Nguyên, chính quyền các địa phương hiện đang tập trung đầu tư mạnh đề nghề nuôi ong sớm trở thành ngành nuôi ong mật hàng hóa, qua đó góp phan làm tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho đồng bao các dân tộc trên địa bàn.