Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đại dịch COVID-19 do virus SARS-CoV-2 gây ra được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chính thức tuyên bố là đại dịch toàn cầu vào ngày 11/03/2020. Tính đến đầu năm 2022, toàn cầu đã ghi nhận gần 500 triệu ca nhiễm và hơn 6 triệu ca tử vong. Tại Việt Nam, dịch bệnh diễn biến phức tạp với hơn 10 triệu ca mắc được ghi nhận tại khắp các tỉnh thành tính đến tháng 5/2022, trong đó đợt dịch thứ tư gây tác động sâu rộng đến mọi mặt kinh tế - xã hội. Riêng địa bàn tỉnh Hưng Yên đã ghi nhận 240.955 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2.

Trường học là môi trường sinh hoạt, học tập tập trung với mật độ cao, tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm lớn khi dịch bùng phát. Để chuẩn bị cho học sinh đi học trở lại sau thời gian dài tạm dừng đến trường và chuyển sang học trực tuyến, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Bộ Y tế đã ban hành Công văn số 696/BGDĐT-GDTC hướng dẫn công tác phòng, chống dịch trong trường học. Tại thời điểm cuối năm 2021, học sinh Trung học phổ thông (THPT) tại Hưng Yên bắt đầu trở lại trường học trực tiếp. Phần lớn các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) phòng chống COVID-19 trước đó chủ yếu tập trung vào nhân viên y tế, bệnh nhân hoặc sinh viên đại học khối ngành khoa học sức khỏe, còn đối tượng học sinh THPT tại các trường ngoại thành vẫn chưa được khảo sát đầy đủ.

Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả kiến thức, thái độ của học sinh Trường THPT Trần Quang Khải (tỉnh Hưng Yên) về phòng, chống dịch bệnh COVID-19 năm 2021.
  2. Mô tả thực hành của học sinh Trường THPT Trần Quang Khải (tỉnh Hưng Yên) về phòng, chống dịch bệnh COVID-19 năm 2021.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ học sinh đang theo học từ khối 10 đến khối 12 thuộc các phân ban (Tự nhiên, Xã hội, Khác) tại Trường THPT Trần Quang Khải, tỉnh Hưng Yên, đồng ý tham gia khảo sát. Tiêu chuẩn loại trừ gồm học sinh không đồng ý tham gia hoặc học sinh đã thôi học.
  • Phạm vi không gian: Trường THPT Trần Quang Khải, xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
  • Phạm vi thời gian: Toàn bộ đề tài thực hiện từ tháng 05/2021 đến tháng 05/2022; giai đoạn thu thập số liệu khảo sát trực tuyến diễn ra từ tháng 10/2021 đến hết tháng 12/2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận vận dụng các hướng dẫn chuyên môn và khuyến cáo dịch tễ học chính thống của Bộ Y tế Việt Nam và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bao gồm:

  • Thông điệp 5K: Khẩu trang – Khử khuẩn – Khoảng cách – Không tụ tập – Khai báo y tế.
  • Quy trình vệ sinh tay: Hướng dẫn 6 bước rửa tay chuẩn và 5 thời điểm rửa tay bắt buộc.
  • Các văn bản pháp lý chuyên ngành: Công văn số 696/BGDĐT-GDTC của Bộ Giáo dục và Đào tạo về quy định phòng dịch tại cơ sở giáo dục.
  • Khung phân loại biến thể SARS-CoV-2: Tiếp cận theo hệ thống phân loại của Nhóm liên ngành về SARS-CoV-2 của Chính phủ Hoa Kỳ (SIG), bao gồm biến thể đang theo dõi (VBM), biến thể đáng quan tâm (VOI), biến thể đáng lo ngại (VOC như Delta, Omicron) và biến thể có hậu quả nghiêm trọng (VOHC).

Phương pháp nghiên cứu và quy trình xử lý dữ liệu:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (cross-sectional study).
  • Cỡ mẫu và chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện lấy toàn bộ học sinh đủ điều kiện. Trong tổng số 800 học sinh toàn trường, tác giả đã thu thập thành công 765 phiếu trả lời hợp lệ (tỷ lệ tham gia đạt 95,6%).
  • Công cụ thu thập dữ liệu: Bộ câu hỏi trực tuyến thiết kế qua nền tảng Google Forms, gửi về các lớp học từ tháng 10/2021 đến tháng 12/2021.
  • Xử lý và phân tích số liệu: Dữ liệu được làm sạch và phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 26. Các biến số định tính được mô tả bằng tần số ($n$) và tỷ lệ phần trăm (%). Kiểm định mối liên quan sử dụng kiểm định Chi-square ($\chi^2$) và kiểm định chính xác Fisher (Fisher's exact test) với ngưỡng ý nghĩa thống kê $p < 0,05$.

Quy ước thang điểm đánh giá:

  • Thang điểm kiến thức: Gồm 6 câu hỏi trắc nghiệm (1 điểm/câu trả lời đúng, 0 điểm/câu sai, tổng điểm tối đa là 6). Mức tốt: $\ge 5$ điểm; Mức khá: 3–4 điểm; Mức trung bình: $< 3$ điểm.
  • Thang điểm thực hành: Gồm 6 câu hỏi thực hành đánh giá theo thang đo 5 mức độ (từ 1 đến 5 điểm, tổng điểm tối đa là 30). Mức tốt: $\ge 25$ điểm; Mức khá: 20–24 điểm; Mức trung bình: $< 20$ điểm.
  • Đạo đức nghiên cứu: Đề tài đã được Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo và Đoàn Thanh niên Trường THPT Trần Quang Khải phê duyệt; người tham gia tự nguyện và mọi thông tin cá nhân được bảo mật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương này tổng hợp các cơ sở lý luận và y văn về dịch tễ học virus Corona. Tác giả trình bày định nghĩa đại dịch theo tiêu chuẩn 6 giai đoạn của WHO; lịch sử phát hiện SARS-CoV-2 tại Vũ Hán từ cuối năm 2019; cấu trúc sinh học (virus RNA sợi đơn cảm nhận dương thuộc chi Betacoronavirus); và các biến chủng đáng lo ngại (VOC) gồm Delta (B.1.617.2) và Omicron (B.1.1.529). Về mặt lâm sàng, chương hệ thống hóa các con đường lây truyền (giọt bắn đường hô hấp trong phạm vi 2 mét, đường không khí, bề mặt tiếp xúc); triệu chứng khởi phát (sốt, ho khan, khó thở, mất vị giác/khứu giác); tổn thương cận lâm sàng (hình ảnh tổn thương viêm phổi kẽ trên X-quang/CT-scan); các biến chứng nặng như ARDS, tổn thương đa cơ quan, viêm cơ tim, sốc nhiễm trùng; và các biện pháp dự phòng y tế công cộng (thông điệp 5K, cách ly, xét nghiệm Real-Time PCR, tiêm chủng vaccine).

Chương 1 cũng điểm luận các công trình nghiên cứu về KAP phòng chống COVID-19:

  • Trên thế giới: Nghiên cứu của Angelo A.T (Ý, 2020) trên 2.380 học sinh; nghiên cứu của Maria F. Alves (Cabo Verde, 2020) trên 1.996 học sinh từ 16 tuổi; nghiên cứu của Ronald Olum (Uganda, 2020) trên 741 sinh viên đại học.
  • Tại Việt Nam: Nghiên cứu của Lê Phương Thảo (2020) trên 1.182 học sinh THPT tại Thái Bình; Vũ Thị Ánh (2020) trên 653 sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN; Phạm Thị Trang (2021) trên 367 học sinh THCS tại Hà Nam.
  • Địa bàn nghiên cứu: Giới thiệu lịch sử thành lập năm 2001, cơ cấu 27 lớp học (800 học sinh) của Trường THPT Trần Quang Khải tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang; tiêu chuẩn chọn mẫu và tiêu chuẩn loại trừ; cỡ mẫu thu được $n = 765$; quy trình khảo sát online bằng Google Forms; danh mục các biến số nghiên cứu (nhân khẩu học, kiến thức về tác nhân, triệu chứng, đường lây, 5K, 6 bước rửa tay, thái độ, mức độ thực hành); sơ đồ nghiên cứu; thang điểm đánh giá quy ước cho các biến số kiến thức và thực hành; các thuật toán thống kê trên phần mềm SPSS 26 và các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trình bày các số liệu thực chứng thu thập từ 765 học sinh qua hệ thống bảng và biểu đồ:

  • Đặc điểm nhân khẩu: 307 nam (40,1%), 458 nữ (59,9%). Phân bố theo khối: Khối 10 chiếm 36,7% ($n = 281$), Khối 11 chiếm 28,0% ($n = 214$), Khối 12 chiếm 35,3% ($n = 270$). Phân ban: Tự nhiên 55,6% ($n = 425$), Xã hội 42,9% ($n = 328$), khác 1,6% ($n = 12$). Xếp loại học lực: Giỏi 37,9% ($n = 290$), Khá 56,5% ($n = 432$), Trung bình và Yếu 5,6% ($n = 43$).
  • Thực trạng kiến thức: 90,6% học sinh nhận biết đúng tác nhân là virus Corona; 56,9% nhận biết đủ 3 triệu chứng chính (sốt, ho, khó thở); 93,3% nắm đúng các con đường lây truyền; 94,8% trả lời đúng biện pháp phòng ngừa khuyến cáo; 79,0% nắm đúng quy tắc 5K; nhưng chỉ có 39,5% sắp xếp đúng thứ tự 6 bước rửa tay theo quy định của Bộ Y tế.
  • Mức độ hiểu biết chung: Đạt loại Tốt chiếm 55,0% ($n = 421$), loại Khá chiếm 41,8% ($n = 320$), loại Trung bình chiếm 3,2% ($n = 24$). Tỷ lệ hiểu biết tốt có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo giới tính (Nữ 57,2% so với Nam 51,8%, $p = 0,017$) và theo học lực (Giỏi 62,8%, Khá 52,5%, Trung bình/Yếu 27,9%, $p = 0,000$).
  • Thái độ phòng dịch: 82,8% học sinh cập nhật thông tin dịch bệnh ở mức luôn luôn hoặc thường xuyên; 89,8% sẵn sàng khai báo trung thực và cách ly; 90,1% sẵn sàng thực hiện các biện pháp an toàn; 90,2% chấp nhận tiêm vaccine phòng COVID-19.
  • Thực hành phòng dịch: Biện pháp có tỷ lệ thực hành mức rất tốt/hàng ngày cao nhất là đeo khẩu trang khi ra ngoài (90,7%) và giữ ấm cơ thể, ăn chín uống sôi (71,4%). Thấp nhất là thói quen mang theo nước rửa tay cá nhân (35,2% rất tốt, 16,1% có để ý nhưng chưa làm, 4,4% chưa quan tâm).
  • Mức độ thực hành chung: Tốt chiếm 67,6% ($n = 517$), Khá chiếm 28,0% ($n = 214$), Trung bình chiếm 4,4% ($n = 34$). Thực hành tốt có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với xếp loại học lực ($p = 0,010$) và mức độ hiểu biết kiến thức ($p = 0,009$).

Chương 4: Bàn luận

Tác giả so sánh, đối chiếu kết quả khảo sát với các nghiên cứu tương đồng:

  • Tỷ lệ học sinh có kiến thức khá và tốt trong nghiên cứu đạt 96,8%, cao hơn kết quả của Lê Phương Thảo tại Thái Bình (77,2%) và Phạm Thị Trang tại Hà Nam (28,9%) do sự khác biệt về độ khó/cấu trúc câu hỏi và thời điểm khảo sát (cuối 2021 kiến thức đã được truyền thông phủ rộng).
  • Tỷ lệ nhận biết đúng 3 triệu chứng chính chỉ đạt 56,9%, thấp hơn nghiên cứu của Vũ Thị Ánh trên sinh viên y khoa (83,77% - 84,53%) do 29,0% học sinh THPT nhầm lẫn đau họng là triệu chứng chính.
  • Tỷ lệ sắp xếp đúng 6 bước rửa tay chỉ đạt 39,5% (thấp hơn sinh viên y khoa với 52,99%) do học sinh hay nhầm lẫn thứ tự giữa bước 2 và bước 3.
  • Bàn luận về 5,2% học sinh còn tin vào các biện pháp dân gian chưa được kiểm chứng khoa học như ăn tỏi hoặc đốt bồ kết để diệt virus.
  • Phân tích mối liên hệ chặt chẽ giữa mức độ hiểu biết và hành vi: nhóm có kiến thức tốt có tỷ lệ thực hành tốt đạt 76,0%, cao hơn rõ rệt so với nhóm có kiến thức trung bình (chỉ đạt 33,3% thực hành tốt).

Kết quả và đóng góp nghiên cứu

1. Số liệu tổng hợp kiến thức, thái độ và thực hành

Nội dung khảo sát Tiêu chí / Phân loại Tần số ($n$) Tỷ lệ (%)
Mức độ hiểu biết chung Tốt ($\ge 5$ điểm) 421 55,0
Khá (3–4 điểm) 320 41,8
Trung bình ($< 3$ điểm) 24 3,2
Kiến thức cụ thể Nhận biết đúng tác nhân virus Corona 693 90,6
Nhận biết đúng 3 triệu chứng chính (sốt, ho, khó thở) 435 56,9
Nhận biết đúng các con đường lây truyền 714 93,3
Nhận biết đúng các biện pháp phòng ngừa 725 94,8
Trả lời đúng quy tắc 5K 604 79,0
Sắp xếp đúng thứ tự 6 bước rửa tay 302 39,5
Mức độ cập nhật tin tức Luôn luôn 245 32,0
Thường xuyên 389 50,8
Thỉnh thoảng 127 16,7
Không bao giờ 4 0,5
Thái độ phòng dịch Sẵn sàng khai báo và cách ly (Đồng ý + Hoàn toàn đồng ý) 687 89,8
Sẵn sàng thực hiện biện pháp an toàn 689 90,1
Sẵn sàng tiêm vaccine COVID-19 690 90,2
Mức độ thực hành chung Tốt ($\ge 25$ điểm) 517 67,6
Khá (20–24 điểm) 214 28,0
Trung bình ($< 20$ điểm) 34 4,4

2. Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành

Yếu tố so sánh Tỷ lệ kiến thức Tốt (%) Giá trị $p$ (Kiến thức) Tỷ lệ thực hành Tốt (%) Giá trị $p$ (Thực hành)
Giới tính Nam: 51,8% | Nữ: 57,2% $p = 0,017$ Nam: 63,5% | Nữ: 70,3% $p = 0,143$
Khối lớp K10: 52,3% | K11: 57,5% | K12: 55,9% $p = 0,591$ K10: 70,8% | K11: 65,0% | K12: 66,3% $p = 0,333$
Phân ban Tự nhiên: 54,8% | Xã hội: 54,9% $p = 0,669$ Tự nhiên: 67,3% | Xã hội: 67,4% $p = 0,929$
Học lực Giỏi: 62,8% | Khá: 52,5% | TB/Yếu: 27,9% $p = 0,000$ Giỏi: 71,7% | Khá: 66,2% | TB/Yếu: 53,5% $p = 0,010$
Mức hiểu biết — — Tốt: 76,0% | Khá: 59,1% | TB: 33,3% $p = 0,009$

3. Đóng góp và giải pháp đề xuất

  • Đóng góp khoa học và thực tiễn: Khóa luận cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về mô hình KAP phòng chống dịch của học sinh bậc THPT ở khu vực nông thôn đồng bằng Bắc Bộ vào thời điểm bình thường mới sau giãn cách. Đề tài chứng minh thực nghiệm rằng mức độ hiểu biết kiến thức có mối tương quan thuận mang ý nghĩa thống kê đối với hành vi thực hành phòng dịch ($p = 0,009$).
  • Giải pháp và kiến nghị:
    1. Truyền thông giáo dục sức khỏe trường học: Nhà trường cần tăng cường hướng dẫn trực quan, thực hành mẫu quy trình 6 bước rửa tay của Bộ Y tế nhằm khắc phục tỷ lệ nhớ đúng thứ tự còn thấp (39,5%).
    2. Điều chỉnh thông tin sai lệch: Cần tổ chức các buổi sinh hoạt giải thích rõ ràng về mặt khoa học nhằm bác bỏ các quan niệm dân gian chưa có bằng chứng (như đốt bồ kết, ăn tỏi để diệt SARS-CoV-2).
    3. Tập trung hỗ trợ đối tượng nguy cơ: Nhà trường và giáo viên chủ nhiệm cần có biện pháp truyền thông bổ trợ dành riêng cho nhóm học sinh có học lực trung bình và yếu, do nhóm này có tỷ lệ kiến thức tốt và thực hành tốt thấp hơn rõ rệt so với nhóm học lực khá, giỏi.
    4. Khuyến khích trang bị cá nhân: Vận động học sinh chủ động mang theo dung dịch sát khuẩn tay dạng nhỏ khi đến lớp để nâng cao tỷ lệ thực hành sát khuẩn thường xuyên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện tại một trường THPT duy nhất (Trường THPT Trần Quang Khải, Hưng Yên), do đó tính đại diện để suy rộng cho toàn bộ học sinh THPT trên toàn quốc còn hạn chế.
    • Thu thập dữ liệu thông qua hình thức tự điền biểu mẫu trực tuyến (Google Forms) có thể tiềm ẩn sai số tự báo cáo (self-reporting bias) từ phía học sinh, chưa có sự quan sát hay chấm điểm hành vi thực hành trực tiếp tại hiện trường lớp học.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng quy mô khảo sát đa trung tâm, so sánh giữa các trường THPT ở khu vực thành thị và nông thôn.
    • Áp dụng phương pháp nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏe (trước - sau) kết hợp bảng kiểm quan sát thực hành trực tiếp các kỹ năng vệ sinh phòng dịch tại trường học.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên ngành Y đa khoa, Y tế công cộng, Y học dự phòng có thể tham khảo đề tài này như một tài liệu mẫu về quy trình thiết kế công cụ khảo sát KAP, xây dựng thang điểm lượng hóa và xử lý kiểm định thống kê y sinh học bằng SPSS.
    • Cán bộ quản lý giáo dục, Ban Giám hiệu các trường THPT và nhân viên y tế học đường có thể tham khảo trực tiếp các số liệu thực trạng để xây dựng kế hoạch phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm hô hấp trong môi trường học đường.
  • Nội dung giá trị nhất: Thang điểm quy ước đánh giá kiến thức - thực hành tại Bảng 2.2, bộ câu hỏi điều tra biến số nhân khẩu học - hành vi, và phần phân tích đối chiếu y văn bàn luận đa chiều ở Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ học sinh Trường THPT Trần Quang Khải có mức độ hiểu biết chung đạt loại Tốt và Khá là bao nhiêu?
Theo kết quả khảo sát trên 765 học sinh, có 55,0% ($n = 421$) học sinh đạt mức độ hiểu biết Tốt ($\ge 5$ điểm) và 41,8% ($n = 320$) đạt mức Khá (3–4 điểm). Tổng tỷ lệ học sinh đạt kiến thức từ mức khá trở lên là 96,8%; chỉ có 3,2% ($n = 24$) ở mức Trung bình.

2. Điểm hạn chế lớn nhất trong phần kiến thức phòng dịch của học sinh là gì?
Điểm hạn chế lớn nhất là kỹ năng nhớ thứ tự 6 bước rửa tay theo chuẩn Bộ Y tế, chỉ có 39,5% ($n = 302$) học sinh sắp xếp đúng thứ tự (do nhầm lẫn phổ biến giữa bước 2 và bước 3). Ngoài ra, có 29,0% học sinh nhầm lẫn đau họng là triệu chứng chính thay vì bộ ba triệu chứng sốt - ho - khó thở, và 5,2% học sinh vẫn tin rằng ăn tỏi hoặc đốt bồ kết có tác dụng phòng ngừa virus.

3. Biện pháp thực hành phòng dịch nào có tỷ lệ tuân thủ cao nhất và thấp nhất?
Biện pháp có tỷ lệ thực hành rất tốt cao nhất là đeo khẩu trang khi ra ngoài với 90,7% ($n = 694$) và giữ ấm cơ thể, ăn chín uống sôi với 71,4% ($n = 546$). Ngược lại, biện pháp có tỷ lệ tuân thủ thấp nhất là mang theo lọ dung dịch rửa tay cá nhân bên người, chỉ đạt 35,2% ($n = 269$) ở mức rất tốt và có tới 20,5% học sinh thực hiện không thường xuyên hoặc chưa quan tâm.

4. Mức độ hiểu biết kiến thức có ảnh hưởng như thế nào đến hành vi thực hành của học sinh?
Kết quả phân tích thống kê cho thấy mối liên quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức và thực hành ($p = 0,009$). Học sinh có mức độ hiểu biết tốt có tỷ lệ thực hành ở mức tốt lên tới 76,0% và không có trường hợp nào thực hành ở mức trung bình. Trong khi đó, ở nhóm học sinh có kiến thức trung bình, tỷ lệ thực hành tốt chỉ đạt 33,3% và có tới 37,5% thực hành ở mức trung bình.

5. Kết quả nghiên cứu có ghi nhận sự khác biệt về kiến thức và thực hành giữa các phân ban học tập không?
Không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê về kiến thức và thực hành giữa các phân ban. Tỷ lệ hiểu biết tốt ở ban Tự nhiên là 54,8% và ban Xã hội là 54,9% ($p = 0,669$). Tỷ lệ thực hành tốt ở ban Tự nhiên là 67,3% và ban Xã hội là 67,4% ($p = 0,929$).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thành Lâm đã mô tả toàn diện thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống dịch COVID-19 trên 765 học sinh Trường THPT Trần Quang Khải, tỉnh Hưng Yên năm 2021. Kết quả chỉ ra rằng đại đa số học sinh có nhận thức tốt về đại dịch (96,8% đạt loại khá trở lên), thái độ tích cực sẵn sàng tuân thủ phòng dịch (hơn 90% ủng hộ tiêm vaccine và khai báo y tế) và tỷ lệ thực hành đạt chuẩn ở mức cao (67,6% thực hành tốt). Đề tài đã khẳng định vai trò quyết định của kiến thức đúng đắn đối với hành vi thực hành phòng dịch, đồng thời chỉ ra các lỗ hổng cụ thể như trình tự rửa tay và thói quen mang dung dịch sát khuẩn cá nhân để nhà trường hoàn thiện công tác y tế học đường.