CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CÔNG TÁC DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH CẤP HUYỆN/THỊ XÃ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình 1. Khái niệm về Dân số Dân số là dân cư được xem xét, nghiên cứu ở góc độ: Quy mô, cơ cấu và chất lượng.
[15] Dân số là vấn đề gắn bó mật thiết với mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Nói đến Dân số là nói đến mối quan hệ chặt chẽ giữa con người với con người hay mối quan hệ giữa các cộng đồng người ở cấp độ vĩ mô: Vùng, miền, lãnh thổ, dân tộc. Dân số của một quốc gia được xác định tại thời điểm tiến hành cuộc tổng điều tra dân số. Dân số toàn cầu được xác định dựa trên số liệu thống kê và báo cáo hàng năm của các quốc gia và các khu vực trên thế giới.
Dân số bao gồm 04 yếu tố cơ bản sau: Một là quy mô dân số: Là số người sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lư kinh tế, hoặc đơn vị hành chính tại thời điểm nhất định. Quy mô dân số thường xuyên biến động qua thời gian và không gian lãnh thổ. Quy mô dân số có thể tăng hoặc giảm tùy theo các biến số cơ bản nhất bao gồm: Sinh, chết và di dân. Quy mô dân số không chỉ được xác định thông qua tổng điều tra dân số mà còn được xác định thông qua thống kê dân số thường xuyên và dự báo dân số.
Tốc độ gia tăng dân số là mức gia tăng dân số của một vùng, lãnh thổ quốc gia, là tổng tăng cơ học và tăng tự nhiên. Tăng cơ học = Nhập cư – Xuất cư. Tăng tự nhiên = Số sinh – Số chết. Hai là cơ cấu dân số: Là sự phân chia tổng số dân của một vùng thành các nhóm theo một hay nhiều tiêu thức (mỗi một tiêu thức là một đặc trưng nhân khẩu học nào đó).
Việc nghiên cứu cơ cấu dân số cho phép chúng ta nghiên cứu một cách 6 tỷ mỉ và kỹ lưỡng hơn dân số của một địa phương. Trong các loại cơ cấu dân số thì hai cơ cấu quan trọng nhất là cơ cấu tuổi và cơ cấu giới tính. Bởi vì cơ cấu theo tuổi và giới tính là các đặc tính quan trọng của bất kỳ nhóm dân số nào, nó ảnh hưởng đến mức sinh, mức chết, di dân trong nước và quốc tế, tình trạng hôn nhân, lực lượng lao động, thu nhập quốc dân thuần túy, kế hoạch phát triển giáo dục và an sinh xã hội. Cơ cấu dân số theo tuổi được thể hiện thông qua sự phân chia dân số theo từng độ tuổi, nhóm 5 độ tuổi hoặc 10 độ tuổi hoặc các nhóm tuổi trẻ em (0-14 tuổi), nhóm tuổi lao động (15-59 tuổi), nhóm tuổi già (trên 60 tuổi).
Cơ cấu giới tính là sự phân chia dân số thành hai nhóm nam và nữ. Ba là phân bố dân cư: Là sự phân chia dân số theo các đơn vị hành chính, vùng kinh tế. Để nghiên cứu phân bố dân cư người ta thường dùng chỉ tiêu mật độ dân số. Để đáp ứng nhu cầu thực tế, số liệu dân số cần phải được thu thập, tính toán, phân chia theo các vùng địa lý, vùng kinh tế hoặc các đơn vị hành chính trong mỗi quốc gia.
Số dân sinh sống trong những vùng lãnh thổ nhất định được hình thành mang tính lịch sử và chịu sự tác động của nhiều yếu tố kinh tế - xã hội. Người ta có thể nhận biết vùng này đông dân, vùng kia thưa dân trên cơ sở mật độ dân số. Chỉ báo này, như đã biết, biểu thị số dân trên một đơn vị diện tích (thông thường là số người trên 1km2). Bốn là chất lượng dân số: Ăng-ghen cho rằng: “Chất lượng dân số là khả năng của con người thực hiện các hoạt động một cách hiệu quả nhất”.
[24] Theo quan điểm của các nhà nhân khẩu học Nga [24], chất lượng dân số là “khái niệm trung tâm của hệ thống tri thức của dân số” được phản ánh bởi các chỉ tiêu: - Trình độ giáo dục - Cơ cấu nghề nghiệp, xã hội - Tính năng động của tình trạng sức khỏe. Chất lượng dân số hình thành nhờ chăm sóc y tế, giáo dục và đào tạo nghề cũng như các hoạt động cụ thể khác như văn hóa thể thao, du lịch. Pháp lệnh dân số 7 Việt Nam năm 2003 (được sửa đổi năm 2008) đã định nghĩa: “Chất lượng dân số phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số”. Khái niệm Kế hoạch hóa gia đình Kế hoạch hóa gia đình là sự cố gắng có ý thức của một cặp (hoặc cá nhân) nhằm điều chỉnh số con và khoảng cách sinh con, không chỉ bao hàm việc lựa chọn sử dụng các biện pháp tránh thai mà còn giúp đỡ các cặp vợ chồng để có thai và sinh con (Nguồn: Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới).
Kế hoạch hóa gia đình hướng dẫn mọi người lựa chọn số con mong muốn và khoảng cách giữa các lần sinh. Mỗi gia đình chỉ nên có từ một đến hai con dù trai hay gái để đảm bảo hạnh phúc gia đình, nuôi con khoẻ, dạy con ngoan, phù hợp với hoàn cảnh ở Việt Nam, làm giảm phát triển dân số để đến khoảng 2015 sẽ đạt mức sinh thay thế. Khoảng cách giữa các lần sinh nên cách nhau từ 3 đến 5 năm để người phụ nữ hồi phục sức khoẻ sau lần thai sản vừa qua, đồng thời có điều kiện nuôi dạy con cái tốt hơn. Kế hoạch hóa gia đình hướng dẫn mọi người lựa chọn tuổi sinh đẻ phù hợp.
Tuổi tốt nhất và hợp lý nhất để sinh đẻ là từ 22 đến 35 tuổi bởi vì ở lứa tuổi này người phụ nữ đã phát triển đầy đủ về thể chất, đã ổn định việc làm cũng như đã có những kiến thức về xã hội và trong cuộc sống gia đình. Nếu sinh con khi người phụ nữ từ 35 tuổi trở lên thì nguy cơ phải can thiệp sản khoa cao, nhiều nguy cơ cho cả mẹ lẫn con, tỷ lệ trẻ bất thường cũng cao hơn, thai kém phát triển, nhẹ cân. Vì vậy nên kết thúc sinh con dưới 35 tuổi để người mẹ có sức khoẻ chăm sóc con cái, có thời gian học tập, công tác, đảm bảo sức khoẻ cho bà mẹ và hạnh phúc gia đình. Khái niệm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình - Khái niệm: Dân số - Kế hoạch hóa gia đình là sự nỗ lực mang tính quyết sách của Nhà nước trong chủ trương khống chế một cách khoa học số dân, sao cho sự phát triển dân số phù hợp và không gây cản trở tới việc phát triển kinh tế xã hội đất nước, nâng cao chất lượng dân số và cơ cấu dân số hợp lý.
- Mối quan hệ giữa Dân số và Kế hoạch hóa gia đình Vấn đề phát triển dân số có liên quan mật thiết tới KHHGĐ. Dân số hiểu 8 theo nghĩa rộng chính là vấn đề con người. Nếu dân số đông và tăng nhanh sẽ gây sức ép lên mọi mặt của đời sống xã hội, làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống, cản trở sự phát triển nền kinh tế đất nước. Vì vậy, mục tiêu dân số là phải giảm nhanh tỉ lệ sinh.
Muốn thực hiện mục tiêu này, cần phải xây dựng một chính sách về kế hoạch hóa gia đình. Như vậy kế hoạch hóa gia đình là một nội dung hẹp của vấn đề dân số, là việc đặt ra chỉ tiêu một cách khoa học về sinh đẻ thông qua sử dụng các biện pháp tránh thai. Sinh đẻ có kế hoạch nhằm tránh sự sinh đẻ quá dày, gia đình có quá nhiều con. Số con trong mỗi gia đình ít sẽ có tác động quyết định đối với các vấn đề dân số.
Như vây, mục tiêu của chương trình DS- KHHGĐ là giảm tỉ lệ gia tăng dân số thông qua tăng tỉ lệ cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng các biện pháp tránh thai. -Các yếu tố ảnh hưởng đến Dân số -Kế hoạch hóa gia đình. Một là nhóm nhân tố ảnh hưởng tới mức sinh: Mức sinh không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh sản của các cặp vợ chồng, mà còn chịu ảnh hưởng lớn bởi một loạt yếu tố khác như tuổi kết hôn, khoảng cách giữa các lần sinh, thời gian chung sống của các cặp vợ chồng, ý muốn và số con của các cặp vợ chồng, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, địa vị của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, việc sử dụng các biện pháp tránh thai. Hai là nhóm nhân tố ảnh hưởng tới mức chết: Chết là hiện tượng tự nhiên, là điều không thể tránh khỏi đối với mỗi cơ thể sống.
Tuy nhiên mức chết phụ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển kinh tế -xã hội; Đặc biệt là trình độ đạt được về mặt y học. Ba là nhóm nhân tố ảnh hưởng tới di dân: Cùng với sinh và chết, di dân cũng ảnh hưởng đến quy mô, tốc độ phát triển dân số và những đặc trưng về cấu trúc của dân số. Di dân là hiện tượng rất phức tạp, chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố, như văn hóa, kinh tế, chính trị - xã hội. Bốn là nhóm chính sách dân số: Trong bốn nhóm nhân tố ảnh hưởng tới công tác DS-KHHGĐ thì nhóm chính sách có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó có tác động trực tiếp đến tất cả các nhân tố của ba nhóm trên nhằm quản lý dân số, điều tiết mức 9 sinh, giảm nhanh mức chết và ổn định dân cư.
Chính sách tác động tới mức sinh, chính sách này được chia thành hai loại khuyến khích sinh và hạn chế sinh: - Chính sách khuyến khích sinh: Trong thời xa xưa, khi mức chết còn quá cao, hầu hết các nước đều khuyến khích sinh. Coi dân số đông là sức mạnh của quốc gia, kích thích sản xuất phát triển, tăng của cải vật chất cho xã hội. Hiện nay, những nước phát triển dân số tăng chậm, khả năng phát triển sản xuất lớn nên thường khuyến khích sinh. - Chính sách hạn chế sinh: Đa số các nước đang phát triển hiện nay do dân số tăng quá nhanh, khả năng phát triển sản xuất có hạn, đời sống nhân dân còn thấp đều tìm cách để hạn chế mức sinh trong đó có Việt Nam.
Ngoài ra còn có các chính sách liên quan đến chất lượng dân số, như chính sách phát triển y tế, giáo dục, nhà ở và phúc lợi công cộng. Khái niệm về công tác quản lý Dân số - Kế hoạch hóa gia đình 1.