Chương 1: Cơ sở lý thuyết (7 trang) Trong chương này, chúng tôi trình bày các cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Gồm các nội dung:một số cây trồng chủ yếu ở nước ta, các loại nấm bệnh trên cây trồng thường gặp ở nước ta và các biện pháp phòng trừ và tổng quan về chủng nấm Trichoderma. - Chương 2: Quy trình thí nghiệm (2 trang) Chúng tôi trình bày hệ thống các phương pháp nghiên cứu bao gồm: thời gian và địa điểm tiến hành thí nghiệm, vật liệu và dụng cụ thí nghiệm, môi trường nghiên cứu và phương pháp tiến hành thí nghiệm. - Chương 3: Kết quả thí nghiệm (16 trang) Trong chương này, các kết quả nghiên cứu được trình bày và thảo luận.
Chúng tôi tập trung vào các nội dung chính sau: + Phân lập, định danh đến chi các chủng nấm Trichodermaphân lập trên địa bàn tỉnh Bình Dương. + Khảo sát khả năng đối kháng của Trichoderma spp. đã phân lập được với một số chủng nấm gây bệnh trên cây trồng. + Bước đầu tạo chế phẩm nấm Trichoderma spp.
phòng trừ nấm bệnh (NB1, NB2, NB3) - Kết luận và khuyến nghị (1 trang) Ở phần này, chúng tôi rút ra những kết luận về khả năng đối kháng nấm bệnh của những chủng nấm Trichoderma spp. đã phân lập được. Đưa ra những khuyến nghị cho những nghiên cứu tiếp theo. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.Một số cây trồng chủ yếu ở nước ta Việt Nam là nước có nền nông nghiệp lâu đời với các thế mạnh về sản xuất cây lương thực, cây công nghiệp và các mặt hàng về rau củ quả.
Sản xuất lương thực là ngành quan trọng nhất của nông nghiệp Việt Nam với các loại cây lương thực chính như lúa, ngô, sắn, khoai. Trong đó, lúa là cây lương thực quan trọng nhất, chiếm diện tích gieo trồng lớn nhất. Ngoài ra, những cây lương thực, thực phẩm lấy củ và lấy hạt khác (như khoai tây, khoai môn, khoai mỡ, dong, riềng, hoàng tinh cao lương, lúa mì, lúa miến, lúa mạch) chiếm tỷ trọng không nhiều. Hiện nay, Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong nông nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất lương thực.
Sản lượng lương thực Việt Nam không những đủ cho nhu cầu trong nước mà còn có khối lượng lớn cho xuất khẩu [40]. Ngoài cây lương thực, nhóm cây công nghiệp còn có vị trí quan trọng trong việc cung cấp nguyên liệu có giá trị cho công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp như: đay, bông, gai, tơ tằm cho công nghiệp dệt; mía, lạc, vừng, đậu tương cho công nghiệp chế biến thực phẩm; cây thuốc cho công nghiệp dược liệu; cây công nghiệp lâu năm như cao su, cà phê, chè, điều, tiêu cung cấp nguyên liệu sản xuất…cũng được phát triển nhằm phục vụ tiêu dùng của nhân dân, trước hết là đáp ứng nhu cầu về ăn, mặc và mặt khác là đáp ứng yêu cầu to lớn về xuất khẩu để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước [40].Các loại nấm bệnh trên cây trồng thường gặp ở nước ta và các biện pháp phòng trừ. Các loại nấm bệnh hại trên cây trồng thường gặp như Rhizoctonia sp, Fusarium sp, Sclerotium sp, Pythium sp…thường gây hại trên các loại cây lương thực thực phẩm gây suy giảm chất lượng và năng suất cây trồng. Đối với nấm Rhizoctonia solani Kuhn gây bệnh khô vằn trên cây ngô, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất cây trồng.
Bệnh gây hại trên các bộ phận phiến lá, bẹ lá, thân…tạo ra các vết bệnh xám tro, hình dạng bất định như dạng đám mây. Vết bệnh lan từ các bộ phận phía gốc cây lên tới áo bắp và bắp ngô, bông cờ làm cây, lá úa vàng tàn lụi, khô chết bắp thối khô. Vết bệnh khô vằn ngô cũng tương tự vết bệnh khô vằn hại trên lúa, thường lây lan qua nước tưới, đất mang mầm bệnh và tàn dư của cây trồng bị bệnh vụ trước. Các biện pháp phòng trừ bệnh chủ yếu là vệ sinh đồng ruộng, chọn lọc giống cây trồng kháng nấm bệnh và sử dụng các loại thuốc hóa học để phun trừ bệnh [37].
Các loại nấm gây bệnh hại trên hoa, cây rau màu thường gặp như Sclerotium rolfsii gây bệnh thối ngọn hay còn gọi là bệnh thối hạch, bệnh hạt cải trên cây lan, ớt…Nấm bệnh thường xuất hiện và lây lan trong mùa mưa ẩm. Bệnh này thường lan truyền bằng những hạt nấm màu nâu vàng, nhỏ và giống như hạt cải, tiềm sinh ngay trong giá thể. Gặp điều kiện ẩm độ, nhiệt độ thích hợp nấm bệnh ký sinh ở cây lan. Thông thường nấm xâm nhập và tạo vết bệnh ở cổ rễ hoặc chồi ngọn, làm cây héo khô, lá vàng, rễ bị khô mục và cây chết rạp ở giai đoạn cây con.
Bệnh này có đặc trưng là phần cây bệnh luôn luôn chuyển sang màu vàng, thối, sau đó biến thành màu nâu và khô đi; trong điều kiện nóng và ẩm có thể thấy những hệ khuẩn ty màu trắng và các hạch khuẩn màu nâu vàng. Ngoài việc sử dụng các biện pháp canh tác để phòng trừ bệnh gây hại như khi bệnh nặng thì loại bỏ cây bệnh và giá thể, phơi khô rồi đốt hoặc chôn sâu trong đất. Bệnh nhẹ mới chớm có thể phun hoặc nhúng chìm cây và chậu vào dung dịch thuốc hóa học để phòng trừ [40]. Ngoài ra, các tác nhân gây bệnh như Fusarium oxysporum gây bệnh héo vàng trên cây ớt.
Bệnh chủ yếu xuất hiện ở thời kỳ cây con đến khi ra hoa. Triệu chứng điển hình thường thấy là phần thân sát mặt đất có vết nấm tạo thành mảng trên bề mặt thân làm phá hủy hệ thống mạch dẫn của cây làm cho cây héo và chết. Nấm phát sinh gây hại mạnh ở nhiệt độ 25 - 30oC. Bệnh lây lan mạnh khi trên ruộng đất cát, chua, đất thiếu đạm và lân.
Phòng trừ bệnh chủ yếu là sử dụng các biện pháp canh tác, vệ sinh đồng ruộng và các biện pháp hóa học [39]. Tổng quan về chủng nấm Trichoderma 1. Vị trí phân loại Trichoderma là nhóm những loài nấm sợi tăng trưởng nhanh và phân bố rộng khắp trên thế giới. Chúng có mặt trong hầu hết các loại đất và thường chiếm ưu thế trong quần thể sinh vật đất.
Trong những loài nấm sợi, Trichoderma được phân vào nhóm có bào tử trần [22][27] [32] [36]. Theo Gary J Samuels, 2004 thì Trichoderma thuộc lớp nấm bất toàn Deuteromycetes. Năm 1801, Persoon ex Gray đã xác định Trichoderma thuộc giới fungi, ngành Ascomycota, lớp Euascomycetes, bộ Hypocreales, họ Hypocreaceae, giống Trichoderma (trích dẫn của Clipson, N. Các đặc điểm sinh học của nấm Trichoderma *Đặc điểm sinh thái của nấm Trichoderma Trichoderma hiện diện hầu hết trong tất cả các loại đất.
Chúng được tìm thấy khắp mọi nơi trừ những vĩ độ cực Nam và cực Bắc. Chúng hiện diện với mật độ cao và phát triển mạnh ở vùng rễ của cây, một số giống có khả năng phát triển ngay trên rễ. Những giống này có thể được bổ sung vào trong đất hay hạt giống bằng nhiều phương pháp. Ngay khi chúng tiếp xúc với rễ, chúng phát triển trên bề mặt rễ hay vỏ rễ tùy theo từng giống.
Hầu hết các dòng Trichoderma đều hoại sinh, chúng phổ biến trong những khu rừng nhiệt đới, ở rễ cây, trong đất, trên xác sinh vật đã chết, thực phẩm bị chua, ngũ cốc, lá cây hay ký sinh trên những loại nấm khác. Trichoderma rất ít tìm thấy trên thực vật và không sống nội sinh với thực vật [32]. Trichoderma có sự phân bố rộng rãi, chúng có thể tồn tại trên gỗ mục và có thể sống ký sinh trên những loại nấm khác, là do chúng có khả năng sản xuất nhiều loại enzyme thủy phân. Trichoderma còn có khả năng cạnh tranh dinh dưỡng rất cao do có một số đặc tính như sau: - Sinh trưởng mạnh và bào tử nảy mầm rất nhanh.
- Có khả năng sinh tổng hợp các hệ enzyme phân giải cao. - Khả năng tạo kháng sinh, chịu được chất kháng sinh [32]. * Đặc điểm hình thái của nấm Trichoderma Khuẩn ty của Trichoderma không màu, có tốc độ phát triển rất nhanh, trên môi trường PGA, ban đầu Trichoderma có màu trắng, khi sinh ra bào tử chuyển sang xanh đậm, xanh vàng hoặc lục trắng. Ở một số loài còn có khả năng tiết ra một số chất làm thạch của môi trường PGA hóa vàng [24].
Khuẩn lạc mọc rất nhanh sau đó hình thành bào tử đính sau một tuần nuôi cấy. Bào tử đính có màu sắc khác nhau tùy theo từng loại nấm. Thông thường có màu xanh đậm, xanh vàng hoặc lục trắng. Bào tử có thể mọc dày đặc hoặc từng chùm riêng lẽ.
Ở một số loài, sợi nấm tiết ra những chất làm cho môi trường bên trong có màu vàng, hay tiết ra mùi thơm mang tính đặc trưng. Đặc điểm nổi bật của nấm Trichoderma là bào tử có màu xanh đặc trưng, một số ít có màu trắng, màu vàng hay xám. Chủ yếu hình cầu, hình elip hoặc oval, đa số các bào tử trơn láng, kích thước không quá 5µm [24]. Hầu hết các giống Trichoderma không sinh sản hữu tính mà thay vào đó là cơ chế sinh sản vô tính bằng bào tử đính từ khuẩn ty.
Bào tử đính Trichoderma là một khối tròn mọc lên ở đầu cuối của cuống sinh bào tử (phân nhiều nhánh). Mang các bào tử trần bên trong không có vách ngăn, liên kết nhau thành chùm nhỏ nhờ chất nhầy [24]. * Đặc điểm sinh lý của nấm Trichoderma Mỗi dòng nấm Trichoderma khác nhau có yêu cầu về nhiệt độ và độ ẩm khác nhau [25]. Dãy nhiệt độ cho sự phát triển của các loài Trichoderma tương đối rộng, có thể dưới 0oC (cho loài T.
polysporum) và ở 40oC (cho loài T. Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng trên sự tăng trưởng của các loài Trichoderma mà còn ảnh hưởng lên hoạt tính biến dưỡng của chúng, đặc biệt là sự tổng hợp các loại kháng sinh bay hơi và các enzyme [22][36]. Các loài nấm trong hệ gen Trichoderma chịu ảnh hưởng tích cực từ những cơ chất có tính acid. Hầu hết các loài có pH tối ưu trong dãy 3,5 – 5,6.
pH acid có sự ảnh hưởng tốt đến sự nảy mầm của bào tử Trichoderma. Thậm chí có loài phát triển ở pH = 2,1 [21] [22]. Trichoderma phát triển ở bất cứ pH nào nhỏ hơn 7 và có thể phát triển tốt ở đất kiềm nếu như ở đó có sự tập hợp một lượng CO2 và HCO3- [29]. Khả năng đối kháng nấm bệnh hại cây trồng của nấm Trichoderma Trichoderma có khả năng đối kháng được với nấm bệnh nhờ vào nhiều cơ chế khác nhau, chúng ta có thể khái quát thành 3 cơ chế chính sau: + Kháng sinh: Chúng tạo ra chất có hoạt tính tương tự như “thuốc kháng sinh” có tác dụng kìm hãm sự tăng trưởng của tác nhân gây bệnh.