Đặt vấn đề Ngày nay, nhịp độ cuộc sống ở các thành phố lớn ngày càng tăng nhanh, khối lượng công việc nhiêu khiến con người cảm thấy áp lực hơn. Nhiều người lựa chọn các hình thức giải toa căng thang khác nhau như chơi thé thao, di du lịch, và việc nuôi thú cưng là một trong số đó. Theo Pet Fair Asia, doanh số ngành thú cưng tại khu vực Đông Nam Á đạt trị giá 4 tỷ USD. Trong đó, Việt Nam chiếm 13%, tương đơn hơn 500 triệu USD.
Thái Lan được xem là thị trường lớn nhất về quy mô với 43,6% thị phần và cũng giữ tốc độ tăng trưởng hàng năm cao nhất với 13%. Việt Nam xếp thứ ba với 11%, sau Indonesia là 12%. Tuy nhiên, Việt Nam được dự đoán sẽ trở thành một trong những thị trường sôi động nhất về tốc độ tăng trưởng kép hàng năm. Tại đây, nhu cầu nuôi và chăm sóc thú cưng đã trở nên phổ biến và được nhiều người ưa thích, trở thành một xu hướng mới của giới trẻ.
Từ đó, việc mua sắm và sử dụng các dich vụ cho thú cưng cũng ngày càng tăng cao (Huy va ctv, 2022). Dù rất yêu thú cưng nhưng đôi khi cũng cảm thấy phiền toái với những mùi hôi khó chịu từ đồ chơi, nệm, chuồng, quần áo hay mùi nước tiêu của chúng, lúc này xịt khử mùi là một phương án nhanh gọn hiệu quả nhất. Không chỉ là khả năng khử mùi mà còn cần tác dụng làm sạch và diệt vi khuẩn từ phân và nước tiêu gây ra môi đe dọa cho con người do tiếp xúc với Salmonella va Escherichia coli có trong phan (Drózdz và ctv, 2022). Đối với các chất khử mùi có chứa các thành phần hoá học nói chung, hầu hết mọi người đều sử dụng các chất này trong một không gian khép kín nên sẽ rất có hại cho sức khoẻ của các thành viên trong gia đình và cả vật nuôi đồng hành, hiện nay những sản phẩm khử mùi từ thiên nhiên và sinh học đang được quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn như: xà phòng từ tinh dau chúc (Đặng và ctv, 2022), nước xịt phòng từ dược liệu (Hồ và ctv, 2016), chế phẩm vi sinh vật dé xử lý phế thải rắn (Nguyễn va ctv, 2016), chế phẩm vi sinh chứa vi khuẩn bacillus xử lí phân chim cut (Thị Vân va ctv, 2021), chế phẩm vi sinh được sản xuất từ các chung vi khuẩn Bacillus va xạ khuẩn Streptomyces ưa nhiệt xử lí chất thải rắn chăn nuôi (Chính và ctv, 2021).
Xa khuẩn có các đặc tính sinh lý và chuyền hóa đa dạng, có khả năng sinh tong hợp nhiều loại enzyme ngoại bao, enzyme có nguồn góc từ xạ khuẩn thường hoạt động tốt ở nhiệt độ cao và trong khoảng pH rộng nên được ứng dụng nhiêu trong các ngành công nghiệp sản xuât, các chât chuyên 1 hóa từ xạ khuẩn có tác dụng kháng khuẩn, kháng nam, chống oxy hóa, chống ung thu, chống giun san, chống sốt rét và chống viêm nên xạ khuẩn là loài vi sinh vật luôn được chú trọng trong các nghiên cứu (Thị va ctv, 2021). Bacillus được biết đến là vi sinh vật có khả năng sản xuất các loại enzyme có lợi trong công nghiệp, enzyme sản xuất bởi các dòng vi khuan thuộc chi này chiếm khoảng 60% tổng thị trường enzyme, Bacillus còn sản xuất kháng sinh polypeptide, chang hạn như bacitracin, gramicidin S, polymyxin và tyrotricidin có khả năng chống lại nhiều loài vi khuẩn Gram dương và Gram âm (Naidu, 2011; Tâm & Thịnh, 2020). Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát khả năng sinh enzyme protease và kháng khuẩn của xạ khuẩn và vi khuẩn Bacillus, bước đầu tạo tiền đề cho việc nghiên cứu chế phâm có kha năng kháng khuẩn và khử mùi nước tiểu mẻo. Mục tiêu nghiên cứu Khảo sát khả năng sinh enzyme protease của Bacillus và khả năng kháng khuẩn của xạ khuẩn nhằm và xác định tỉ lệ phối trộn giữa hỗn hợp vi sinh vat (Bacillus subtilis và Bacillus licheniformis ) và xạ khuẩn có khả năng kháng khuẩn và giảm mùi hôi nước tiêu mèo.
Nội dung thực hiện Nội dung 1: Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của vi khuan Bacillus spp. và xạ khuẩn Nội dung 2: Đánh giá hoạt độ enzyme protease của vi khuẩn Bacillus spp. và khả năng phân giải protein của vi khuẩn Nội dung 3: Đánh giá hiệu quả khử mùi và khử khuân của nghiệm thức phối trộn. TONG QUAN TÀI LIEU 21.
Tổng quan về xạ khuẩn 2. Giới thiệu chung và sự phân bố xạ khuẩn trong tự nhiên Xa khuẩn là nhóm vi khuẩn đặc biệt, thuộc nhóm vi khuẩn gram dương, phân bố chủ yếu trong dat. Xa khuẩn thuộc lớp Actinobacteria, bộ Actinomycetales, bao gồm 10 dưới bộ, 35 họ, 110 chi và 100 loài. Hiện nay có 478 loài được công bố thuộc chỉ Streptomyces và hơn 500 loài thuộc các chi còn lại và được xếp vào nhóm xạ khuan hiếm.
Trong số khoảng 1000 chi và 5000 loài đã công bố có khoảng 100 chi và 1000 loài xạ khuẩn được công bố. Xa khuẩn phân bố rộng rãi trong tự nhiên, sé lượng đơn vi khuẩn lạc trong đất có thê lên đến hàng triệu, theo Waksman thì trong 1 gam đất có khoảng 29000 - 2400000 CFU xạ khuẩn, chiếm 9 - 45% tổng số vi sinh vat. Xa khuẩn đóng vai trò quan trong trong chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên, sử dụng axit humic và các hợp chất hữu cơ khó phân giải khác trong đất (Nguyễn và ctv, 2002). Đặc điểm hình thái của xạ khuẩn Giống như các loại vi sinh vật khác, khi nuôi cay xa khuẩn trên môi trường thạch, xạ khuẩn phát triển thành những khuẩn lạc.
Tuy nhiên, tùy theo loài và môi trường nuôi cay khác nhau mà kích thước, mau sắc khuẩn lạc có thé khác nhau như: đỏ, da cam, vàng, nâu, tím, trang, xám. Khuan lạc của xạ khuan rat đặc biệt, không trơn ướt như vi khuẩn hay nắm men, khuẩn lạc thường khô, chắc, xù xi, có dạng da, dạng nhung tơ, hay dạng màng dẻo và đa số có hình dang phóng xạ có các nếp gap tỏa ra những khuẩn thé lại có dang phân nhánh như nắm (Nguyễn và ctv, 2002). Xa khuẩn có thé mọc thành dang màng hay dạng vòng trên thành bình nuôi cấy khi nuôi cấy trong môi trường dịch thể, trên bề mặt môi trường hay thành dạng bọt hoặc kết tủa kiểu vi khuan. Khi nuôi cấy chìm trên máy lắc hoặc nồi lên men được khuấy đảo thì xạ khuẩn phát triển thành dạng sợi bông hoặc cặn xốp.
Thường gặp hơn cả là xạ khuẩn phát triển thành những quả cầu nhỏ chứa day môi trường. Sự hình thành các hợp chất kháng sinh từ xạ khuẩn Xa khuẩn là nhà sản xuất các chất chuyên hóa có hoạt tính kháng khuẩn, chống ký sinh trùng, kháng virus, chống ung thư, gây độc tế bào, có cấu trúc hóa học là duy nhất. Streptomyces là nguồn cung cấp các chất chuyền hóa thứ cấp dồi dào tạo ra nhiều loại kháng sinh, hơn 80% thuốc kháng sinh trên thị trường là từ Streptomyces (Rajan & 3 Kannabiran, 2014). Chat kháng sinh (Antibiotic) là những chat có tính chống lại các vi sinh vật gây hại, chúng có hoạt tính sinh lý cao, có tác động chọn lọc và được các vi sinh vật tiết ra đi vào môi trường sống trong mối quan hệ đối kháng với các vi sinh vật khác trong đó có vi khuân, nam, xạ khuẩn là những vi sinh vật sinh ra nhiều chat kháng sinh nhất.
Chất kháng sinh có tác dụng ức chế sinh trưởng hoặc tiêu diệt một số vi sinh vật khác một cách có chọn lọc ngay khi ở nồng độ thấp, có thé can thiệp vào hoạt động sinh lý của một chất khác bằng cách kết hợp đặc hiệu với thụ thể, kềm hãm hoặc ức chế sự phát triển của vi sinh vật khác (Lân Dũng va ctv, 2002). Chất kháng sinh được tong hop từ một, hai, ba chất trao đổi bậc một khác nhau, hay bằng cách polyme hóa các chất trao đổi bậc 1 sau đó tiếp tục biến đổi qua các phản ứng enzyme khác đề tạo thành các dạng kháng sinh khác nhau. Chất kháng sinh còn là chất tham gia cạnh tranh của xạ khuẩn trong môi trường song tự nhiên. Nhiều chủng xạ khuẩn có khả năng tổng hợp đồng thời hai hay nhiều chat kháng sinh có cấu trúc hóa học và tác dụng tương tự nhau.
Quá trình sinh tổng hợp chất kháng sinh phụ thuộc vào cơ chế điều khiển gen ngoài các gen chịu trách nhiệm tong hợp chất kháng sinh, còn có cả các gen chịu trách nhiệm tông hợp các tiền chất, enzyme và cofactor (Phan và ctv, 2016). Quá trình tổng hợp các chất kháng sinh ở xạ khuẩn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như pH, nhiệt độ, thành phần môi trường lên men (nguồn cacbon, nguồn nitơ, nguồn photphat vô cơ, các yếu tố vi lượng) (Thị va ctv, 2021). Vi khuẩn Bacillus Bacillus là trực khuân Gram dương, tế bào hình que thang, kích thước 0,5 - 2,5 um x 1,2 - 10 wm và thường được sắp xếp thành từng cặp hoặc chuỗi, có đầu tròn. Bacillus có phô chịu nhiệt, pH và độ mặn rộng, con đường biến dưỡng bằng hình thức lên men hoặc hô hấp, hầu hết có catalase dương tính.
Hình thái khuẩn lạc của chi Bacillus với khuẩn lạc tròn, rìa khuẩn lạc nhăn, bề mặt gồ ghé, nhăn nheo như tạo các mang bam, màu trang đục đến vàng sáng (Nguyễn Ngọc An va ctv, 2022). Vi khuẩn Bacillus có thé sản xuất một số hợp chất ức chế sự phát triển của vi khuẩn cạnh tranh. Trong số các hợp chất này, các bacteriocin là quan trọng nhất, bên cạnh đó, Bacillus còn sản xuất kháng sinh polypeptide, chang hạn như bacitracin, gramicidin S, polymyxin và tyrotricidin có khả năng chống lại nhiều loài vi khuân Gram 4 dương va Gram âm (Abriouel và ctv, 2011). Bacillus có thé sử dung các enzyme ngoại bào do quá trình phân giải polysaccharide, nucleic acid và lipid làm nguồn carbon và chất cho điện tử.
Các loài thuộc chi Bacillus được biết đến là vi sinh vật có khả năng sản xuất các loại enzyme có lợi trong công nghiệp. Enzyme sản xuất bởi các dòng vi khuẩn thuộc chi này chiếm khoảng 60% tông thị trường enzyme (Naidu, 2011). Các loài Bacillus khác nhau có thé sản xuất một số enzyme quan trọng như amylase, cellulase, proteae tannase, pectinase và betaglucosidase. Ngoài ra, Bacillus được sử dụng rộng rãi nhất làm probiotic bao gồm B.
Các chế phẩm sinh hoc chứa bao tử dang được sử dụng rộng rãi ở người như là chất bổ sung dinh dưỡng, ở động vật như chat kích thích tăng trưởng, các chất cạnh tranh chống vi sinh vật gây bệnh và bổ sung vào các sản phẩm sinh học dé tạo ra các sản pham khử mùi (Tâm và Thịnh, 2020). Vi khuẩn Bacillus subtilis 2.