Đặt vấn đề Trong xu hướng của thời đại, để tăng cường sự hội nhập nền kinh tế. Tất cả các quốc gia đều không ngừng nỗ lực trong việc tận dụng cơ hội và hạn chế các mặt yếu kém để tồn tại và phát triển. Nước ta cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều đối thủ cạnh tranh, và người tiêu dùng có quyền lựa chọn nhà sản xuất, nhà cung ứng một cách rộng rãi, đạt yêu cầu về chất lượng.
Yếu tố quan trọng nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của một công ty đó là chất lượng sản phẩm và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm mà công ty đó cung cấp cho khách hàng. Hay nói cách khác uy tín, lợi nhuận, thị phần của công ty phụ thuộc chủ yếu vào việc sản phẩm của công ty có đáp ứng được yêu cầu của khách hàng hay không. Hiện nay khi nền kinh tế các quốc gia trên thế giới đều hướng tới xu thế chung là mở cửa hội nhập thì chất lượng sản phẩm chính là công cụ cạnh tranh hữu hiệu của các công ty. Hệ thống quản lý chất lượng chính là kết quả của nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới nhằm mục đích giúp các công ty đạt được chất lượng sản phẩm mong muốn mà lại tiết kiệm tối đa chi phí.
Đặc điểm nổi bật của hệ thống quản lý chất lượng là cung cấp một hệ thống toàn diện cho công tác quản lý, cải tiến mọi khía cạnh liên quan đến chất lượng, hầu hết các công ty đều tạo và giữ được vị thế cho sản phẩm của mình, đảm bảo lợi nhuận cũng như nâng cao uy tín cho công ty trên thương trường. Việt Nam đã gia nhập WTO, việc xây dựng một thương hiệu sản xuất thực phẩm sạch – an toàn vệ sinh thực phẩm đang là mục tiêu và là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi công ty. Chính vì vậy việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng là một việc hết sức cần thiết. Xuất phát từ lý do đó, tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 tại nhà máy chế biến sản phẩm thịt Hà Nội – Công ty Cổ phần chăn nuôi C.
Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát - Tìm hiểu chung về công ty cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam – nhà máy chế biến sản phẩm thịt Hà Nội. - Khảo sát Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 tại nhà máy chế biến sản phẩm thịt Hà Nội. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu khảo sát quy trình nhận biết và truy tìm sản phẩm xúc xích và quy trình kiểm soát hành động khắc phục – phòng ngừa khi áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 tại nhà máy chế biến sản phẩm thịt Hà Nội.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài - Giúp sinh viên hiểu hơn và nắm được các kiến thức đã học về tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất. - Tạo cho sinh viên tác phong cũng như kỹ năng quản lý, nắm bắt công việc. - Biết được phương pháp nghiên cứu một vấn đề khoa học, xử lý, phân tích số liệu, trình bày một bài báo cáo khoa học.
- Bổ sung kiến thức thông qua hoạt động thực tiễn, trau dồi kiến thức bản thân, tích lũy kinh nghiệm thực tế, đồng thời tiếp cận công tác nghiên cứu khoa học phục vụ cho công việc nghiên cứu và công tác sau này. - Là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu cùng lĩnh vực. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Khảo sát hệ thống quản lý chất lượng nhằm đưa ra được những biện pháp khắc phục - phòng ngừa và truy tìm, nhận biết trong quá trình sản xuất xúc xích. - Có được những đánh giá để hoàn thiện hệ thống kiểm soát chất lượng sản phẩm trong thực tế sản xuất.
h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái quát chung về quản lý chất lượng 2. Khái niệm về sản phẩm, chất lượng sản phẩm và vai trò của chất lượng sản phẩm 2. Khái niệm sản phẩm Trong nền kinh tế hàng hóa, sản phẩm sản xuất ra để trao đổi trên thị trường.
Mỗi sản phẩm khi được sản xuất ra đều nhằm mục đích đáp ứng những nhu cầu nhất định, không những nhu cầu về giá trị vật chất mà cả những yếu tố về tinh thần, văn hóa của người tiêu dùng. Càng ngày, khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu của con người về các loại sản phẩm với số lượng đa dạng, chất lượng cao càng nhiều. Theo ISO 9000:2000, trong phần thuật ngữ thì sản phẩm được định nghĩa là ‘‘kết quả của các hoạt động hay quá trình’’. Như vậy, sản phẩm được tạo ra từ tất cả mọi hoạt động bao gồm cả những hoạt động sản xuất ra của cải vật chất cụ thể và các dịch vụ.
Tất cả các tổ chức hoạt động trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân đều có thể tạo ra và cung cấp sản phẩm của mình cho xã hội. Mặt khác, bất kì một yếu tố vật chất nào hoặc một hoạt động do tổ chức nào cung cấp nhằm đáp ứng những yêu cầu bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp đều có thể được gọi là sản phẩm. Sản phẩm được hình thành từ các thuộc tính vật chất hữu hình và vô hình tương ứng với hai bộ phận cấu thành là phần cứng và phần mềm của sản phẩm 4. Cấu trúc của một sản phẩm hoàn chỉnh có thể được biểu diễn qua sơ đồ sau: Phần cứng: Hữu hình - Vật thể bộ phận - Sản phẩm được lắp ráp - Nguyên vật liệu SẢN PHẨM Phần mềm: Vô hình - Các dịch vụ - Các khái niệm - Thông tin… Hình 2.1: Cấu trúc của một sản phẩm hoàn chỉnh 4.
h 4 Phân loại sản phẩm 4 Theo nhiều mục đích sử dụng khác nhau, sản phẩm được chia thành ba loại: - Sản phẩm dùng để đáp ứng nhu cầu của sản xuất sản phẩm, - Sản phẩm dùng để tiêu dùng, - Sản phẩm để bán. Khái niệm chất lượng sản phẩm Trong nền kinh tế thị trường, có rất nhiều định nghĩa về chất lượng sản phẩm được đưa ra bởi các tác giả khác nhau. Tất cả khái niệm chất lượng này đều xuất phát và gắn bó chặt chẽ với các yếu tố cơ bản của thị trường như nhu cầu, cạnh tranh và giá cả. Có thể xếp chúng trong một nhóm chung gọi là ‘‘quan niệm chất lượng hướng theo thị trường’’ 4.
Từ nhóm này có một số các định nghĩa sau 4: Trong lĩnh vực quản trị chất lượng, tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu - European Organization For Quality Contol cho rằng: ‘‘Chất lượng là chất phù hợp đối với yêu cầu của người tiêu dùng’’. Philip B Crosby trong quyển Chất lượng ( được dịch từ sách Quality is free) là thứ cho không đã diễn tả chất lượng như sau: ‘‘Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu’’. Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5814 – 1994 8 phù hợp với ISO/ DIS 8402: ‘‘Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm ẩn’’. Đối với nhà sản xuất: ‘‘Chất lượng có nghĩa là phải đáp ứng những chỉ tiêu kỹ thuật đề ra’’.
Một số định nghĩa khác về chất lượng là: ‘‘Chất lượng’’ là sản phẩm không khiếm khuyết. Nghĩa là sản phẩm hoàn chỉnh, sản phẩm không phải làm lại, sửa lại khiến không phát sinh những sự cố ngoài ý muốn, làm cho khách hàng hài lòng. Bất cứ việc gì làm lại, sửa lại, giải quyết sự cố nào đối với sản phẩm thì công ty cũng phải mất chi phí, như vậy theo nghĩa này thì chất lượng là cắt giảm chi phí hay nói chính xác là cắt giảm lãng phí. Vì thế chất lượng cao hơn đồng nghĩa với chi phí ít hơn 4.
Vai trò của chất lượng trong sản xuất kinh doanh Trong môi trường phát triển kinh tế hội nhập như ngày nay, cạnh tranh trở thành một yếu tố mang tính quốc tế đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Porter (Mỹ) thì khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp được thể hiện thông qua qua hai chiến lược cơ bản là phân biệt hóa sản phẩm và chi phí thấp. Chất lượng sản phẩm trở thành một trong những chiến lược quan trọng làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Xu thế toàn cầu hóa, mở ra thị trường rộng lớn hơn nhưng cũng làm tăng thêm lượng cung trên thị trường.
Người tiêu dùng có quyền lựa chọn nhà sản xuất, cung ứng một cách rộng rãi hơn. Yêu cầu của thị trường nước ngoài rất khắt khe, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài rất mạnh, chất lượng sản phẩm cao, chi phí sản xuất lại hợp lý. Điều đó đã đặt ra thách thức to lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc tham gia thị trường thế giới. Chất lượng sản phẩm sẽ là yếu tố đầu tiên quan trọng nhất cho sự tham gia của sản phẩm Việt Nam vào thị trường quốc tế và nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ta.
Sản phẩm có chất lượng cao, ổn định, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng sẽ tạo ra được một biểu tượng tốt, tạo ra niềm tin cho khách hàng vào nhãn mác của sản phẩm. Nhờ đó mà uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp được nâng cao có tác động lớn đến quyết định lựa chọn mua hàng của khách hàng. Nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường nhờ chất lượng cao là cơ sở cho khả năng duy trì và mở rộng thị trường, tạo sự phát triển lâu dài cho doanh nghiệp 5. Một số khái niệm về Quản lý chất lượng Theo TCVN ISO 8402: 1994 7 quản lý chất lượng là tất cả những hoạt động của chức năng quản lý chung nhằm xác định chính sách chất lượng, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng thông qua các biện pháp khác như lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống chất lượng.
Trong khái niệm trên chính sách chất lượng là ý đồ và định hướng chung về chất lượng của một tổ chức do lãnh đạo cao nhất chính thức đề ra. h 6 Lập kế hoạch chất lượng là các hoạt động thiết lập mục tiêu và yêu cầu chất lượng cũng như yêu cầu áp dụng các yếu tố của hệ thống chất lượng. Kiểm soát chất lượng là những hoạt động và kỹ thuật có tính tác nghiệp, được sử dụng nhằm đáp ứng các yêu cầu chất lượng.