CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Trong nhiều năm trở lại đây, thị trường bao bì trên thế giới và đặc biệt là Việt Nam đang ngày càng phát triển. Riêng giấy bao bì năm 2019, ước tính đạt sản lượng 4,175 triệu tấn, tăng trưởng 12,5 % so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, giấy bao bì lớp mặt (testliner, white top liner) và lớp sóng (medium) chủ yếu để sản xuất thùng hộp đạt sản lượng 3,41 triệu tấn, tăng trưởng 16,0%; giấy bao bì tráng chủ yếu làm hộp gấp (boxboard), đạt sản lượng 0,765 triệu tấn, tăng trưởng 9,0% so với cùng kỳ năm 2018. Tiêu dùng giấy in và giấy viết, giấy photocopy năm 2019 ước tính đạt 0,719 triệu tấn và giảm 9,7% so với cùng kỳ năm 2018.
Trong đó, giấy in, giấy viết không tráng đạt 0,531 triệu tấn, giảm 1,1% (năm 2018 tiêu dùng 0,537 triệu tấn); Tiêu dùng giấy toàn ngành ước tính đạt 5,432 triệu tấn, tăng trưởng 9,8%; xuất khẩu giấy đạt sản lượng 1,0 triệu tấn, tăng trưởng 23,6%, nhập khẩu đạt sản lượng 2,02 triệu tấn, giảm 2,9% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, giấy bao bì về tiêu dùng và xuất khẩu đạt sản lượng, tốc độ tăng trưởng ấn tượng và dự đoán năm 2020, giấy bao bì trong nước có nhiều cơ hội phát triển. Điển hình, về tiêu dùng, giấy bao bì trong nước dự báo tăng trưởng trên 11%. Với sự phát triển mạnh mẽ đó thì giấy in bao bì ở Việt Nam ngày càng đa dạng và khó kiểm soát hơn.
Trong ngành công nghiệp in thì việc kiểm soát màu sắc là vấn đề khó mà các nhà in luôn muốn đạt được. Đặc biệt, in offset là kỹ thuật in luôn biến đổi do nhiều yếu tố tác động từ file in, bản kẽm đến bề mặt vật liệu. Do vậy, một bài mẫu không giống với mẫu gốc ta không thể xác định một cách chủ quan mà phải tính đến các yếu tố mang tính khách quan được đo đạc rõ ràng như: mật độ lớp mực, cân bằng xám, gia tăng tầng thứ…Trong đó, gia tăng tầng thứ là vấn đề khó kiểm soát và luôn hiện diện trong quá trình in. Hiện nay, việc kiểm soát GTTT đã được các nhà in quan tâm và tìm ra giải pháp tối ưu là đo đạc, đánh giá nếu sai lệch qua nhiều thì tiến hành bù trừ GTTT ở chế bản.
Tuy nhiên, giải pháp này chưa tối ưu vì hầu như không có nhà in nào quan tâm đến ảnh hưởng của tính chất bề mặt đến GTTT nên vẫn có nhiều trường 1 do an hợp người ta luôn cố gắng canh chỉnh chỉnh lớp mực hoặc bù trừ GTTT ở các loại giấy khác nhau với cùng một thông số, đến khi ra khác màu thì lại tiến hành điều chỉnh thêm. Mà như đã phân tích ở trên, các loại giấy Việt Nam luôn đa dạng về tính chất bề mặt và màu sắc, việc kiểm soát GTTT nếu có thông số cụ thể cho các loại giấy sẽ giúp các nhà in tối ưu sản xuất và tiết kiệm thời gian hơn, đồng thời phục chế màu sắc chân thực hơn, giảm được tác động của vật liệu nền. Đó chính là lý do mà nhóm em lựa chọn đề tài: “Khảo sát GTTT của các loại giấy trong kỹ thuật in offset” 1. Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu sự GTTT và ảnh hưởng của giấy in đến GTTT.
- Đề xuất tiêu chí để kiểm soát sự GTTT của các loại giấy trong kỹ thuật in Offset. Thực nghiệm đưa ra các giá trị GTTT của các loại giấy phổ biến trên thị trường 1. Khách thể, đối tượng nghiện cứu 1. Khách thể GTTT trên các loại giấy trong phương pháp in Offset 1.
Đối tượng nghiên cứu - Tính chất bề mặt của giấy. - Các loại giấy thực nghiệm: Couche bóng, Couche mờ, Duplex, Ford. - Giá trị GTTT trên các loại giấy. Phạm vi và giới hạn đề tài 1.
Phạm vi nghiên cứu Đề tài thực hiện tập trung nghiên cứu việc GTTT của các loại giấy trong kỹ thuật in offset, ổn định các điều kiện thực nghiệm còn lại. Giới hạn đề tài - Đề tài chỉ khảo sát GTTT trên các loại giấy, không thay đổi các yếu tố còn lại như loại trame, máy in, mực… - Sử dụng chu trình PDF, công nghệ CTP, kỹ thuật in offset tờ rời. Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu các tài liệu chuyên ngành, giáo trình, các chuẩn sử dụng trong ngành in (ISO 12647-2, Gracol…) - Thực nghiệm xây dựng testform nhằm đánh giá kết quả thực tế tại xưởng in trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. 3 do an CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương này giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài nghiên cứu, phần cơ sở lý luận sẽ làm rõ các vấn đề sau đây: - Phân tích và nhận định thực trạng, tính cấp thiết của việc kiểm soát GTTT với nhu cầu của các nhà in tại Việt Nam và trên thế giới.
- Nguyên nhân và các yếu tố dẫn đến hiện tượng GTTT trong kỹ thuật in offset, trong đó chú trọng đến tính chất bề mặt. Lịch sử nghiên cứu: 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Khi con người phát minh ra kỹ thuật in và in những quyển sách đầu tiên thì việc phục chế hình ảnh là một vấn đề hết sức khó khăn. Nguyên nhân là bởi vì trong tự nhiên, sự vật có tông màu, độ đậm, nhạt khác nhau nên hình ảnh được chụp cũng có vùng tối, vùng sáng và vùng trung gian nhưng các kỹ thuật in chỉ cho phép in trên bề mặt vật liệu có độ dày lớp mực như nhau.
Vậy, làm sao để in được các hình ảnh có độ đậm, nhạt như trong tự nhiên? Để giải quyết vấn đề này, người ta nghĩ ra một giải pháp: Thay vì in một lớp mực có độ dày mỏng khác nhau thì ta sẽ tạo ra những điểm nhỏ trên hình ảnh (gọi là điểm tram), những điểm này có kích thước thay đổi tùy vào mật độ của hình ảnh (độ sáng tối) tương ứng với ảnh gốc. Giải pháp này được gọi là kỹ thuật tram hóa hình ảnh, là phương pháp biến đổi tông màu từ hình ảnh thật sang tông màu ảo để in. Đây là phương pháp được hình thành từ rất lâu, trải qua gần 150 năm. Từ thế kỷ XV, việc chế tạo bản in bằng thủ công là phương pháp đầu tiên để phục vụ cho việc tái tạo tầng thứ.
Năm 1642, Luduig Von Siegen đã tìm ra phương pháp dùng một lớp mực đồng đều chà bản đồng có bề mặt nhám đồng đều, nếu muốn một phần hình ảnh trên bản đồng sáng hơn, ông dùng đũa bằng thép mài lên bản đồng thì chỗ đó sẽ nhận mực ít hơn. Đây là bản in có đặc trưng của phương pháp in ống đồng ngày nay với sự thay đổi về chiều sâu và diện tích. Trải qua nhiều thập kỷ, ngày nay, với 4 do an sự phát triển của khoa học công nghệ, ngành in ngày nay càng phát triển, việc tái tạo tông màu trong in ấn liên tục cải tiến, việc tạo tram thủ công đã thay bằng các loại tram điện tử. Năm 1969, hãng Crosfield đã cho ra máy ghi Magnascann 450 sử dụng digital để ghi hình ảnh trên trống phim thông qua tấm contak bằng phương pháp này hạt tram được tạo trực tiếp trên phim.
Năm 1971, dòng máy ghi Hell ra đời, việc ứng dụng các tia laser tạo nên hạt tram từ được ứng dụng phổ biến. Đây là tiền đề cho kỹ thuật tạo tram điện tử phát triển đến ngày nay. Với bản chất vấn đề của việc tái tạo hình ảnh chân thực chính là tạo ra các điểm nhỏ trên hình ảnh thì dù việc tạo tram thủ công hay tạo tram điện tử, người ta nhận ra rằng luôn có một vấn đề hiện diện dẫn đến màu sắc khi in ra không giống trên file, đó chính là sự gia tăng kích thước điểm tram, hay còn gọi là hiện tượng GTTT. Mục tiêu của việc in ấn là cố gắng tạo ra sản phẩm giống với thực tế nhất, nhưng quá trình in luôn có nhiều biến đổi xảy ra, khi chất lượng màu sắc của bài in không giống như mong muốn cần tính đến nhiều yếu tố tác động như máy in, áp lực, vật liệu…và các yếu tố khác.
Tác động của các yếu tố này vẫn chưa được xác định rõ ràng về mặc định lượng. Các giá trị GTTT là thông số cần kiểm soát giúp việc tái tạo hình ảnh in chân thực hơn. Bất kỳ một kỹ thuật in nào cũng luôn có sự GTTT, nói riêng đến kỹ thuật in offset, đây là kỹ thuật chịu nhiều tác động nhất. Do đặc tính của quá trình in, việc truyền mực từ bản sang cao su đến giấy in làm biến dạng hình học của hạt tram, thông thường là lớn hơn.
Nguyên nhân xảy ra GTTT cũng cần tính đến các yếu tố như vật liệu, máy in, loại tram…. Để hình ảnh in ra đúng yêu cầu, ngoài ổn định các yếu tố trong quá trình in thì giấy in cũng cần có các yêu cầu để thích hợp với điều kiện in và sản phẩm. Mỗi loại giấy sẽ có tính chất bề mặt khác nhau, giấy in là vật liệu chính cực kỳ quan trọng để tạo ra sản phẩm. Nghiên cứu về các đặc tính và ảnh hưởng giấy đến việc phục chế màu sắc giúp ta đưa ra các đánh giá khoa học và hợp lý khi chọn giấy.
Trải qua một thời gian dài, các nhà in đã luôn tìm ra giải pháp để khắc phục hiện tượng GTTT, nhưng một số phương pháp để khắc phục sự gia tăng tầng thứ cũng có 5 do an thể đem lại các hệ quả không mong muốn. Ví dụ như muốn giảm diện tích hạt tram bằng việc giảm độ dày lớp mực thì mật độ màu sẽ bị hạ xuống. Dùng tấm cao su chịu nén thay vì tấm cao su thông thường để giảm hiện tượng nhăn giấy, giấy xuống hai tờ tránh hiện tượng đúp nét xảy ra, tuy nhiên khi in các mảng màu lớn thì độ biến dạng của tấm cao su thông thường giúp trải đều các mảng màu. Sau này, người ta đã tìm ra giải pháp tối ưu nhất để hạn chế sự GTTT chính là xây dựng đường Curve bù trừ GTTT ở chế bản.
Ví dụ như Heidelberg đã phát triển một giải pháp hoàn chỉnh với chức năng Process Calibration tại phần mềm Calibration Manager để điều chỉnh đường Curve bù trừ GTTT. Trong quá trình thực tập tại công ty R-pac, nhóm cũng quan sát thấy rằng công ty có các hướng dẫn kỹ thuật hay các phiếu sản xuất để kiểm soát toàn bộ quá trình quản lí chất lượng, cụ thể có đo đạc thông số GTTT, nếu việc GTTT quá lớn thì tiến hành bù trừ ở chế bản, nhưng có nhiều trường hợp vẫn không cho ra kết quả tốt thì lại tiến hành bù trừ đến khi nào đạt thì thôi.