CHƯƠNG I. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay các nghành công nghiệp đang được cải tiến và dần chuyển về theo xu hướng điện tử để nâng cao chất lượng cũng như tự động hóa nhằm tiết kiệm chi phí, thời gian và nhân công. Trong công nghệp in cũng vậy, các máy in kĩ thuật số đã ra đời với tiêu chí máy in điều khiển bởi một người. Kĩ thuật in NIP (Non Impact-printing Technologies) về cơ bản là xử lý dữ liệu số và hình ảnh in được truyền trực tiếp không qua bất kì vật liệu mang hình ảnh trung gian nào.
Kể từ khi xuất hiện phương pháp in kĩ thuật số dần lấn chiếm thị trường của các phương pháp in truyền thống bởi những ưu điểm của nó như in nhanh các đơn hàng cá nhân có số lượng nhỏ, khả năng phục chế cao, không mất nhiều thời gian trong khâu chuẩn bị trước in, các dữ liệu thông tin trên bài in có thể thay đổi theo yêu cầu, tiết kiệm chi phí và nhân công… Theo thống kê của tổ chức Pira International (trung tâm nghiên cứu quốc tế chuyên cung cấp các thông tin thị trường ngành công nghiệp in ấn và bao bì, có trụ sở tại Hoa Kỳ và Anh) vào năm 2011 và 2016 cho thấy nhu cầu thị trường sử dụng phương pháp in kĩ thuật số tăng nhanh và nhiều nhất so với các phương pháp in truyền thống từ 12.4% trong khi các phương pháp in truyền thống nhu cầu thị trường tăng rất ít chỉ 1-2 % và một số Hình 1.1: Biều đồ thể hiện nhu cầu thị trường của các phương pháp in trên thế giới năm 2011 và 2016 1 do an phương pháp in có xu hướng giảm đi. Ở cùng thời điểm này, Việt Nam đang trên đà tiến tới công nghiệp hóa và hiện đại hóa nên việc áp dụng và đưa in kĩ thuật số đi lên là điều tất yếu. Do đó việc chú trọng về khâu quản lý chất lượng cho in kĩ thuật số cũng đóng vai trò nâng cao chất lượng. Tuy nhiên trên thực tế ở Việt Nam đa số các doanh nghiệp đều cải thiện chất lượng sản phẩm in bằng cách giảm gia tăng tầng thứ, thiết lập các điều kiện chuẩn để in… Việc thay thế loại tram cũng làm tăng chất lượng sản phẩm in nhưng đa số các nhà in đều sử dụng tram AM trên máy in truyền thống do các ưu điểm của nó như ít bị bay bản trong quá trình in, không bị mất chi tiết… Nên khi chuyển đổi sang in kĩ thuật số người ta vẫn quen sử dụng tram AM.
Mặt khác tram FM cũng có nhiều ưu điểm vượt trội như không có hiện tượng moire, đễ dàng tái tạo các chi tiết nhỏ, căn chỉnh chồng màu dễ dàng hơn so với tram AM… Vì vậy để khẳng định về khả năng phục chế của phương pháp in kĩ thuật số khi áp dụng tram FM nhóm đã quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu khả áp dụng của tram FM cho in kĩ thuật số”, đồng thời thông qua đề tài này cũng đưa ra được một số tiêu chuẩn khi áp dụng tram FM trên máy in kĩ thuật số. Mục tiêu nghiên cứu • Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng trong quá trình phục chế tầng thứ đố i với tram FM trên máy in kĩ thuật số trên cơ sở đố i chiế u với chất lượng tái ta ̣o hình ảnh khi in với tram FM khi phu ̣c chế bằ ng các phương pháp kĩ thuật số với tiêu chuẩn in offset. • Tìm hiểu các tiêu chuẩn kĩ thuật áp dụng cho in kĩ thuật số nhằ m quản lý chất lượng cho tờ in kĩ thuật số 1. Khách thể và đối tượng nghiên cứu • Đối tượng nghiên cứu: khả năng phục chế tram FM trên máy in kĩ thuật số • Khách thể nghiên cứu: Các tiêu chuẩn áp dụng về xử lý dữ liệu, sử dụng ICC profile, chuyển đổi không gian màu, cách đo và kiểm soát quá trình.
Giới hạn đề tài 2 do an Vì thời gian cũng như các cơ sở vật chất, điều kiện thực nghiệm, các nguồn tài liệu về lĩnh vực nghiên cứu có hạn và khả năng cũng như kinh nghiệm thực tế của nhóm không nhiều nên nhóm nghiên cứu chỉ nghiên cứu khả năng áp dụng của tram FM trên in máy in kĩ thuật số (Konica Minolta Bizhub PRESS C7000) • Tram FM: loại 1 • Phương pháp in: in tĩnh điện (Konica Minolta Bizhub PRESS C7000) • Giấy couche định lượng 200gsm 1. Phương pháp nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu bao gồm: • Nghiên cứu các tài liệu chuyên nghành liên quan đến tram FM và các phương pháp in kĩ thuật số, các tiêu chuẩn dành cho tram FM nhằm xây dựng cơ sở lý thuyết trong việc phục chế hình ảnh • Tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong ngành, lĩnh vực in ấn. • Thực nghiệm: khảo sát khả năng phu ̣c chế tram FM trên 1 máy in kỹ thuật số. Trên cơ sở lý thuyết phu ̣c chế tram FM nhóm sẽ xây dựng test form phù hợp và đánh giá khả năng tái tạo tram FM tùy thuộc vào điều kiện in thực tế.
Nhóm nghiên cứu hy vọng với đề tài này có thể đưa ra các thông số để khẳng định khả năng phục chế của máy in kĩ thuật số khi áp dụng tram FM đồng thời cũng đưa ra được các tiêu chí và kinh nghiệm khi sử dụng tram FM trên máy in kĩ thuật số. 3 do an CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Lý thuyết về phục chế tầng thứ 2. Lịch sử tram hóa hình ảnh Kể từ khi con người có nhu cầu in và sao chép hình ảnh, người ta đã cố nghĩ ra cách để tái hiện lại tông màu, độ sáng tối của bài mẫu.
Nhưng trong nhiều trường hợp thì sự nhận biết về độ sáng tối là đủ cho mắt người cảm nhận được thông tin của thế giới xung quanh, chính vì vậy trong tất cả các phương pháp in khác nhau, để tái hiện được tầng thứ bao giờ người ta cũng cố gắng phân chia cường độ sáng giữa nơi sáng và nơi tối trên bài in thành từng bậc. Lịch sử phát triển của việc này được chia thành bốn giai đoạn: • Chế tạo bản in thủ công để tái tạo tầng thứ • Ứng dụng kĩ thuật sao chép • Kĩ thuật tạo lưới tram • Kĩ thuật tạo tram điện tử 2. Chế tạo bản in thủ công để tái tạo tầng thứ hình ảnh Từ thế kỷ 15 thì kỹ thuật khắc gỗ hay khắc trên đồng đã được phát triển thành kỹ thuật chế bản, mặc dù chưa hoàn thiện nhưng nó là phương pháp đầu tiên cho phép việc tái tạo tầng thứ. Đầu tiên thì độ rộng của các đường gạch và sự cắt nhau giữa các đường gạch cho một khả năng để tái tạo tầng thứ.
Phương pháp này do Luduig Von Siegen người Hà Lan tìm ra vào năm 1642, trong phương pháp này ông dùng một bản đồng có bề mặt nhám đồng đều, nếu chà lên bề mặt bản đồng một lớp mực đều thì khi in lên giấy ta sẽ có một diện tích màu đều đặn, nếu muốn phần diện tích nào đó trên bản đồng sáng hơn (mực dính vào ít hơn) ông dùng một cái đũa bằng thép mài lên bản đồng làm cho nó bớt nhám thì chỗ đó sẽ nhận mực ít hơn. Bản in kiểu này có đặc trưng của phương pháp in Ống Đồng với sự thay đổi cả chiều sâu lẫn diện tích, phương pháp này phát triển nhất vào khoảng thế kỉ thứ 17 – 18. Cũng tạo nên một hiệu quả như phương pháp của Luduig Von Siegen là phương pháp của Jean Baptista Leprince người Pháp phát minh năm 1760, trong phương pháp 4 do an này người ta phủ lên bề mặt đồng một lớp nhựa được nung chảy một cách đều đặn, lớp nhựa này được tạo bởi các hạt nhựa nhỏ khi ta ăn mòn bản đồng thì hóa chất sẽ ăn mòn phần đồng lộ ra giữa các hạt nhựa. Sau khi ăn mòn xong lần thứ nhất nếu muốn ăn mòn phần nào nữa thì ta chỉ cần phủ một lớp bảo vệ lên phần nào không cần ăn mòn nữa và tiếp tục ăn mòn cứ nhiều lần như vậy ta sẽ tạo được bản đồng có tầng thứ.
Phương pháp này giống như phương pháp in Ống Đồng với độ sâu thay đổi như ngày nay trong đó nhiệm vụ của các hạt nhựa có tác dụng như bờ của hạt tram ống đồng, và màu in hay mực in sẽ nằm ở các chỗ trũng.1: Bản khắc đồng “Kỵ sỹ, cái chết và quỷ dữ” của Albrecht hình bên phải là hình phóng lớn mặt người minh họa cho kĩ thuật của Luduig Von Siegen 2. Ứng dụng kĩ thuật sao chép Năm 1820, Joseph Nicéphore Niépce (Pháp) đã sử dụng những vật liệu nhạy sáng để tạo nên lớp bảo vệ trên bề mặt đồng, ông phát hiện ra rằng dung dịch Asphalt được phủ một lớp mỏng trên bề mặt đồng dưới tác dụng của nguồn sáng sẽ bị oxi hóa và không tan. Bằng phương pháp này ta có thể tạo được bản in có tên gọi “Cardinal d’Amboise”. Trong những năm 1853 đến 1858 William Henry Fox Talbot (Dorset, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland) đã phát triển kỹ thuật khắc đồng.
Bằng phương pháp này ta chỉ có thể chế bản phục vụ cho in số lượng nhỏ vì các bản in bằng 5 do an đồng không chịu được áp lực lớn khi in và chóng bị mòn. Với sự phát triển của kỹ thuật nhiếp ảnh (Photographic) và khả năng sao truyền qua nhiều vật liệu mang khác nhau Gustav Le Graye (Pháp) và Fred- Eric Scott Archer (Bishop's Stortford, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland) vào năm 1851 đã nghiên cứu khả năng truyền hình ảnh sang bản in, bản đá hay các dạng in khác bằng việc ứng dụng lớp crôm gelatine, cùng lúc đó thì phương pháp ăn mòn cho bản in nổi cũng được phát triển.2: Bản in đầu tiên được chế bản bằng phương pháp sao chụp do NICÉPHORE NIÉPCE thực hiện, bài mẫu là một bản khắc đồng. Đầu tiên nó được phủ một lớp parafin trong suốt trước khi nó được sao chụp sang lớp Asphalt trên bản đồng rồi được ăn mòn 2. Kĩ thuật tạo lưới tram Từ năm 1852 William Henry Fox Talbot đã trình bày phát minh về việc tạo bản tram trong đó ông sử dụng một bản lụa được nhuộm đen, ngay trong giai đoạn đầu tiên này ông đã có ý tưởng để giữa bản nửa tông negative và vật liệu nhạy sáng một tấm lưới để phân tích hình ảnh nửa tông thành những đường gạch hay điểm.
Vào năm 1877, tại Wiene, Max Jaffé (Đức) đã thực hiện thí nghiệm tram hóa hình ảnh bằng cách đặt giữa vật liệu nhạy sáng và bài mẫu một cái khăn vải được kéo căng, kết quả ông tạo được một loại tram còn tương đối thô.