PHẦN MỞ ĐẦU 1 Luan van I. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỘC LĨNH VỰC CỦA ĐỀ TÀI Ở TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 1. Ngoài nước (phân tích, đánh giá tình hình nghin cứu thuộc lĩnh vực của đề tài trên thế giới, liệt kê danh mục các công trình nghin cứu, tài liệu có liên quan đến đề tài được trích dẫn khi đánh giá tổng quan) Đứng trước tình trạng sản phẩm giả mạo tràn lan trên thị trường, ngành in cũng không ngừng phát triển nhằm mang lại sự an toàn cho sản phẩm. Với những sản phẩm khác nhau đòi hỏi công nghệ chống giả hoàn toàn khác nhau.
Bên cạnh các công nghệ chống giả mạo được sử dụng như: mã vạch (barcode), công nghệ làm trầy xước sử dụng cho các thẻ cào (scratching technology), in bằng giấy nhiệt (thermal paper), hiệu ứng thể hiện ánh sáng 3 chiều ( hologram effects), logo thiết kế, đánh dấu số (tracing numbers), sử dụng các loại mực in có tính chất hóa học đặc biệt, in với nhiều thông tin khác nhau… Việc ứng dụng Prinect screening family vào chế bản cho in chống giả với nhiều loại tram khác nhau trên cùng 1 ấn phẩm (variable screen printed, silk-screen) đã và đang được các nước trên thế giới sử dụng rất phổ biến. Trong nước (phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở Việt Nam, liệt kê danh mục các công trình nghin cứu, tài liệu có liênn quan đến đề tài được trích dẫn khi đánh giá tổng quan) Hòa cùng quá trình đổi mới, hội nhập nền kinh tế Việt Nam với các nước trên thế giới, lượng hàng hóa tiêu dùng nội địa và xuất khẩu không ngừng phát triển với uy tín và chất lượng cao. Tuy nhiên mặt trái của sự phát triển là các hoạt động bất hợp pháp của một số tổ chức cá nhân kinh doanh không lành mạnh đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng. Nhà sản xuất đã và đang có những biện pháp, phương tiện rất cụ thể để tự bảo vệ sản phẩm của mình bên cạnh những chính sách quản lý của nhà nước.
Vì thế, việc ứng dụng Prinect screening family vào chế bản cho in chống giả là rất cần thiết cho nhu cầu bảo đảm sự an toàn cho sản phẩm. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 2 Luan van Việc ứng dụng Prinect screening family vào chế bản cho in chống giả là một trong những biện pháp rất cần thiết cho nhu cầu bảo đảm sự an toàn cho sản phẩm. Bảo vệ được uy tín cho nhà sản xuất chân chính cũng như quyền lợi của người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm. Nâng cao chất lượng giảng dạy môn thực tập chuyên ngành trước in tại Khoa In và Truyền thông.
MỤC TIÊU ĐỀ TÀI - Nghiên cứu ứng dụng Prinect screening family vào chế bản cho in chống giả. - Tiến hành thực nghiệm và phân tích tính khả thi trong ứng dụng sản xuất. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4.1 Đối tượng nghiên cứu - Phần mềm Prinnect MetaDemention. - Prinect screening family - Phần mềm Acrobat Professional với tính năng Screening selection 4.2 Phạm vi nghiên cứu - Khả năng ứng dụng Prinect screening family vào chế bản cho in chống giả.
- Những ấn phẩm là tài liệu đơn giản, các loại vé có giả trị sử dụng trong khoảng thời gian ngắn. CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5.1 Cách tiếp cận Tìm hiểu Prinect screening family và phần mềm Prinnect MetaDemention với tính năng Object Screening để đạt đến mục đích là ứng dụng Prinect screening family vào chế bản cho in chống giả 5.2 Phương pháp nghiên cứu - Tham khảo tài liệu liên quan đến ứng dụng Prinect screening family vào chế bản cho in chống giả. 3 Luan van NỘI DUNG 4 Luan van PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT I. LƯỢC KHẢO CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRAM HÓA Kỹ thuật tram hóa hình ảnh từ khi ra đời vào năm 1852 cho đến nay đã được gần 150 năm, hơn một thế kỷ cho việc tái tạo tông màu thật của hình ảnh thành tông màu ảo của bản in quả là một sự phát triển bền bỉ và đầy sáng tạo.
Cho đến nay, trong thời đại “Tin học” của chúng ta, kỹ thuât tram hóa hình ảnh vẫn tiếp tục phát triển và ngày càng khẳng định được vai trò của nó trong việc tái tạo lại tầng thứ của hình ảnh cũng như ứng dụng của nó trong việc tạo những hiệu ứng cho sản phẩm. Ý nghĩa của việc tram hóa hình ảnh Nhiệm vụ của tram hóa hình ảnh : “ Một bài mẫu với đường biểu diễn mật độ liên tục sẽ được biến đổi thành đường biểu diễn mật độ chỉ có hai cấp độ sáng và tối phục vụ cho việc in ấn.” • Với các phương pháp in nổi, in phẳng và in lưới ta chỉ có khả năng truyền một tông màu (toàn bộ diện tích trên bản in được phủ một lớp mực đều nhau). Chính vì vậy, nên đầu tiên bài mẫu phải được phân tích thành những điểm rất nhỏ có diện tích khác nhau tùy thuộc vào mât độ tương ứng của chúng trên bài mẫu. Những điểm này có tính chất in hay không in và không nhận thấy bằng mắt thường khi quan sát, với phương thức như vậy hình ảnh demitone đã được phân tích thành hình ảnh tram (Hình).
• Phương pháp in ống đồng cũng có tính chất này nhưng ngoài ra nó còn có nhiều khả năng khác nữa để tái tạo tầng thứ của hình ảnh. Ý nghĩa của khái niệm tram “Phương pháp tram hóa hình ảnh là phương pháp biến đổi tông màu thật của hình ảnh sang tông màu ảo để in”. Để tạo nên một hình ảnh có tông độ ảo (hình ảnh tram) ta có nhiều phương pháp để thực hiện. Vì vậy, ta phải giới hạn định nghĩa cho tram thuần túy trong lĩnh vực chế bản.
Tram trong chế bản được định nghĩa là một phương tiện giúp chúng ta phân tích năng lượng ánh sáng chiếu tới thành các điểm in hay không in khi tác dụng chung với vật liệu nhạy sáng. 5 Luan van Có thể kể ra đây chẳng hạn như: Tram contakt, tram distanznhư tram autotypisch, tram điện tử. Cơ sở lý thuyết về tram và các ảnh hưởng của nó trong quá trình chế bản Khi nghiên cứu về các loại tram người ta không thể bỏ qua các yếu tố cơ bản tạo thành cũng như các phương pháp tính toán về tram. Trong quá trình truyền tầng thứ bằng tram, các đặc trưng cơ bản của các loại tram sẽ đóng vai trò quyết định.
Ngày nay, theo sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin, tram điện tử ngày càng tỏ vẻ ưu điểm nổi bật của nó và cũng có nhiều phương pháp tạo tram điện tử khác biệt nhiều so với các phương pháp truyền thống. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA VIỆC TẠO TRAM TRÊN CÁC MÁY GHI 2.1 Các hạt tram nửa tông (Halftone Screening) Cũng như các phương pháp chế bản truyền thống, các sắc độ xám (hoặc màu) của hình ảnh sẽ được tạo ra thông qua sự biến đổi kích thước của hạt tram từ 0 --> 100%, các hạt tram có kích thước thay đổi như vậy được gọi là hạt tram nửa tông (halftone dot). Độ phân giải tram (Screen Frequency) Độ phân giải tram là khái niệm dùng để chỉ mật độ tram trên một đơn vị diện tích, thông thường người ta dùng đơn vị số lượng đường trên một đơn vị diện tích (cm hay inch). Số đường ở đây phải được hiểu là số đường cách đều nhau được gạch trên một hàng ngang, thí dụ số đường vạch theo một inch chiều ngang hay chiều dọc.1: Trong một inch vuông có 10 vạch theo chiều ngang và 10 vạch theo chiều dọc người ta gọi là có 10 đường trên một inch hay 10 lpi (line per inch).
6 Luan van Khái niệm số đường trên một đơn vị diện tích có liên quan đến mật độ tập trung của các hạt tram trên một đơn vị diện tích và như thế nó cũng được gọi là độ phân giải tram. Ngày nay người ta thường dùng các độ phân giải tram sau: Hình 1.2: Ảnh phóng to của một inch hình ảnh và các lưới tram phân tích ở 20lpi, 50lpi được áp đặt lên nó và cuối cùng cho ra hình ảnh với các độ phân giải khác nhau. Các máy ghi ảnh tạo nên hạt tram nửa tông bằng cách sử dụng một ma trận điểm đo bằng đơn vị số đường trên một inch (lpi). Ma trận điểm này có thể được đại diện bằng một lưới điểm (GRID) như hình vẽ dưới đây.
Nếu lưới điểm này càng dày đặc (số lpi càng lớn) thì hạt tram càng nhiều và có độ phân giải càng cao. Mỗi một ô vuông trong lưới điểm là một phần tử nửa tông (halftone cell) có khả năng chứa một hạt tram nửa tông (halftone dot).3: Lưới tram 7 Luan van Lưới điểm Grid dùng để định vị các tia laser sẽ được ghi lên film tạo nên các hạt tram nửa tông, lưới điểm này còn được gọi lưới điểm nửa tông (halftone grid). Trên lưới điểm grid này có rất nhiều các phần tử nửa tông là tập hợp của một số lượng các ô grid đều nhau.4: Phần tử nữa tông Độ phân giải ghi và hạt tram nửa tông. Kích thước của một phần tử nửa tông được quyết định bởi sự tương tác giữa độ phân giải tram và độ phân giải ghi.
Độ phân giải ghi phản ánh khả năng ghi các điểm laser sát nhau của thiết bị ghi. Các điểm ghi laser này được tạo bởi các tia laser của đầu ghi hướng tiêu cự vào một điểm trên vật liệu (film, bản) và luôn có độ lớn bằng nhau. Khi đem vật liệu đi hiện, những nơi nào được ghi bởi các tia laser này sẽ có màu đen. Các tia laser càng được ghi sát vào nhau thì độ phân giải của đầu ghi càng cao.
Để đạt được độ phân giải đủ cho việc in ấn thì các lưới điểm được tạo ra cực kỳ mịn và gọi là độ phân giải lưới điểm (resolution grid). Các điểm laser ghi lên trên các lưới điểm này được gọi là điểm ghi (dot) và trên thực tế độ phân giải của thiết bị ghi được tính bằng số điểm ghi trên một inch (dpi - dot per inch).5: Lưới điểm ghi. Khi một lưới điểm nửa tông (halftone grid) được đặt chồng lên trên một lưới điểm ghi (resolution grid) thì ta sẽ thấy các phần tử nửa tông (halftone cell) được tạo nên 8 Luan van bởi nhiều điểm ghi. Việc phối hợp các điểm ghi này sẽ tạo nên một hạt tram nửa tông.6: Lưới điểm nửa tông và lưới điểm ghi.
Lưới điểm nửa tông (đường kẻ đậm) được đặt chồng lên lưới điểm ghi. Lưới điểm nửa tông dùng để tạo nên các hạt tram nửa tông bên trong nó qua việc ghi lên các lưới điểm ghi.