Chương 1: Khái quát cơ sở lý thuyết hội thoại Bản chất của quá trình giao tiếp bao giờ cũng mang tính xã hội. Điều này được thể hiện trước hết ở chỗ con người là một thực thể xã hội. Chỉ khi con người giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ con người mới thực sự thoát khỏi cuộc sống mang tính bản năng động vật để trở thành con người có ý thức, con người với bản tính xã hội. Để quá trình giao tiếp đạt được kết quả mong đợi nhất đòi hỏi nội dung hội thoại phải đảm bảo được tính nhất quán, khoa học cũng như đảm bảo được tất cả các mục tiêu mà một quá trình giao tiếp hiệu quả hướng tới.
Bởi vậy, hội thoại không chỉ là sản phẩm của quá trình giao tiếp mà nó còn là cơ sở để hình thành và phát triển quá trình giao tiếp. Một số khái niệm cơ bản dưới đây sẽ phần nào cung cấp một số nội dung về lý thuyết hội thoại để có thể tiếp cận một cách khoa học vấn đề đặt ra : 1. Hội thoại là gì? Theo Đỗ Hữu Châu: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. 201] Còn theo Nguyễn Thiện Giáp: “Hội thoại là phương tiện phổ biến và cơ bản nhất để dẫn dắt công việc của con người.
Giao tiếp hội thoại là hoạt động cơ bản của ngôn ngữ. Trong giao tiếp hội thoại luôn có sự hồi đáp giữa người nói và người nghe, chẳng những người nói và người nghe tác động lẫn nhau mà lời nói của từng người cũng tác động lẫn nhau. 219] Mặt khác, theo Nguyễn Đức Dân: “Các hành vi ngôn ngữ không đứng độc lập, riêng lẻ. Chúng kế tiếp nhau thành chuỗi.
Sự kết thúc của hành vi này là tiền đề cho những hành vi tiếp theo, dù đó là lời của một người hay là lần lượt của hai người. Chuỗi các hành vi đó tạo thành một hội thoại. 233] Qua ba định nghĩa trên, có thể dễ dàng nhận thấy, “Hội thoại là hình thức giao tiếp phố biến của ngôn ngữ. Hội thoại không phải là các hành vi ngôn ngữ đứng độc lập mà chúng kế tiếp nhau thành chuỗi.
Sự kết thúc của hành vi này là tiền đề cho những hành vi tiếp theo.” 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, không phải mọi cuộc hội thoại đều giống nhau. “Các cuộc hội thoại có thể khác nhau ở một số đặc điểm như sau: 1. Chúng khác nhau về đặc điểm của thoại trường (không gian, thời gian) ở đó diễn ra cuộc hội thoại. Sự khác biệt về số lượng người tham gia.
“Số lượng nhân vật hội thoại hay còn gọi là đối tác hội thoại hay đối tác - thay đổi từ hai đến một số lượng lớn. Có những cuộc hội thoại tay đôi (song thoại), tay ba (tam thoại), tay tư hoặc nhiều hơn nữa (đa thoại). Các cuộc thoại còn khác nhau về cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại. Cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại rất khác nhau tùy theo các cuộc hội thoại, chẳng hạn như: tính chủ động hay thụ động của đối tác, vị thế giao tiếp mạnh hay vị thế giao tiếp yếu.
Sự khác nhau ở tính có đích hay không có đích. Những cuộc hội thoại như thương thuyết ngoại giao, hội thảo khoa học có đích được xác định trước rõ ràng. Những cuộc tán gẫu được xem là không có đích. Nói đến đích của hội thoại cũng là nói đến đặc tính nội dung của cuộc hội thoại.
Có những cuộc hội thoại ngẫu hứng, tự do và những cuộc hội thoại được định trước về nội dung. Có những cuộc hội thoại có nội dung nghiêm túc và có những cuộc hội thoại nói những chuyện “tào lao”. Và cuối cùng, là sự khác nhau về tính có hình thức hay không có hình thức. Những cuộc thương nghị, hội thảo là những cuộc hội thảo mà hình thức tổ chức khá chặt chẽ, trang trọng đến mức thành nghi lễ, còn những chuyện trò đời thường không cần một hình thức tổ chức nào cả.
Vận động hội thoại Trong bất cứ cuộc hội thoại nào cũng có ba vận động chủ yếu: trao lời, trao đáp và tương tác. Sự trao lời (allocution, allocution) Chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra, kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một lượt lời. Chúng ta đã dùng kí hiệu SP chỉ người tham gia vào hội thoại. SP1 là vai nói, SP2 là vai nghe.
SP1, SP2 và SPn là các đối tượng hội thoại. Trao lời là vận động mà SP1 nói lượt lời của mình ra và hướng lượt lời của mình về phía SP2 nhằm làm cho SP2 nhận biết được rằng lượt lời được nói ra đó là dành cho SP2. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong lời trao, sự có mặt của SP1 là điều tất yếu. Sự có mặt đó thể hiện ở từ xưng hô ngôi thứ nhất, ở tình cảm, thái độ, hiểu biết, ở quan điểm của SP1 trong nội dung của lượt lời trao.
Nói một cách tổng quát, ngay trước khi SP2 đáp lời, tức thực hiện sự trao lời của mình, người nghe đã được đưa vào lượt lời, cùng tồn tại với ngôi thứ nhất “ tôi” trong lượt lời, thường xuyên kiểm tra và điều hành sự trao lời của SP1. Trong hội thoại dù trong những cuộc đối thoại tùy ý, ngẫu hứng nhất, SP1 không hoàn toàn tự do, muốn nói gì, nói theo cách nào thì nói. SP2 luôn luôn theo dõi anh ta và SP2 sẽ có phản ứng nếu như lượt lời của SP1 có gì không phù hợp với SP2. Chính vì vậy, phía mình, SP1 người trao lời phải lấn trước (anticipation, anticipation) vào SP2 phải dự kiến trước, phải hình dung được SP2 về tâm lí, tình cảm, sở thích, hiểu biết tình trạng công việc v.
trước khi nói. Không những thế, SP1 còn phải dự đoán trước hiệu quả của lượt lời của mình, dự đoán cả cách đáp lời của SP2 nữa. Hình ảnh tâm lí, vật lí, xã hội về SP2 càng đúng với SP2 bao nhiêu thì khả năng thành công của sự trao lời và khả năng áp đặt điều SP1 muốn nói trong hội thoại càng lớn bấy nhiêu. Sự trao đáp (exchange, exchange) Cuộc hội thoại chính thức hình thành khi SP2 nói ra lượt lời đáp lại lượt lời của SP1.
Trong vận động trao đáp, cái lõi của hội thoại sẽ diễn ra liên tục, lúc nhịp nhàng, lúc khúc mắc, lúc nhanh, lúc chậm cùng với sự đổi thay liên tục vai nói, vai nghe. Cũng như sự trao lời, sự hồi đáp có thể thực hiện bằng các yếu tố phi lời hoặc bằng lời, thường thì hai loại yếu tố này đồng hành với nhau. Chúng ta đã biết diễn ngôn là sản phẩm của các hành vi ngôn ngữ. Tất cả các hành vi ngôn ngữ đều đòi hỏi sự hồi đáp.
Sự hồi đáp có thể bằng các hành vi ngôn ngữ tương thích với hành vi dẫn nhập lập thành cặp như hỏi/ trả lời, chào/ chào, cầu khiến/ nhận lời hoặc từ chối, cảm ơn/ đáp lời, xin lỗi/ đáp lời mà sau này sẽ gọi là cặp kế cận. Sự tương tác Trong hội thoại, các nhân vật hội thoại ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua lại với nhau biến đổi lẫn nhau. Trước cuộc hội thoại, giữa các nhân vật có sự khác biệt, đối lập, thậm chí trái ngược về các mặt (hiểu biết, tâm lí, tình cảm, ý muốn v. Không có sự khác biệt này thì giao tiếp thành thừa.
Trong hội thoại và qua 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hội thoại những khác biệt này giảm đi hoặc mở rộng ra, căng lên có khi thành xung đột. Hội thoại có thể ở hai cực: điều hòa, nhịp nhàng hoặc hỗn độn, vướng mắc mà tiêu biểu là những cuộc cãi lộn. Ở những cuộc cãi lộn ngoài cử chỉ, điệu bộ và ngữ điệu, sự trùng lời, dẫm đạp lên lượt lời của nhau, cướp lời của nhau là dấu hiệu của cuộc chiến bằng lời này. Như vậy có nghĩa là trong các cuộc đối thoại đều phải có sự hòa phối (synchronisation) các hoạt động của các đối tác về mọi mặt, trước hết là hòa phối của lượt lời.
Sự hòa phối nếu hoàn hảo thì cuộc hội thoại sẽ diễn ra nghiêng về cực thứ nhất, nếu không tốt thì cuộc đối thoại nghiêng về thế cực thứ hai. Ba vận động trao lời, trao đáp và tương tác là ba vận động đặc trưng cho hội thoại, trong đó hai vận động đầu do từng đối tác thực hiện nhằm phối hợp với nhau thành vận động thứ ba. Bằng vận động trao lời và trao đáp, các nhân vật hội thoại sẽ hòa phối để thực hiện sự liên hòa phối. Đó là cốt lõi của vận động tương tác.
Các yếu tố kèm lời và phi lời Trong những cuộc đối thoại, ngoài việc sử dụng những yếu tố ngôn ngữ - được hiểu theo nghĩa hẹp - bao gồm các đơn vị từ vựng và các đơn vị cú pháp, chúng ta còn sử dụng những yếu tố kèm lời và những yếu tố phi lời. Yếu tố kèm lời (paraverbal) là các yếu tố mặc dầu không có đoạn tính như âm vị và âm tiết nhưng đi kèm với các yếu tố đoạn tính. Không một yếu tố đoạn tính nào được phát âm ra mà không có yếu tố kèm lời đi theo. Những yếu tố kèm lời gồm có: ngữ điệu, trọng âm, cường độ, độ dài và đỉnh giọng (pitch).
Các yếu tố này có vai trò biểu nghĩa, đặc biệt biểu nghĩa ngữ dụng của các yếu tố kèm lời là hiển nhiên. Yếu tố phi lời (non verbal) là những yếu tố không phải là những yếu tố kèm lời được dùng trong đối thoại mặt đối mặt. Thuộc yếu tố phi lời là: cử chỉ, khoảng không gian, tiếp xúc cơ thể, tư thế cơ thể và định hướng cơ thể, vẻ mặt, ánh mắt (gesture, proxemics, body contact, posture and body orientation, facial expression, gaze). Cũng được tính là tín hiệu phi lời những tín hiệu âm thanh như tiếng gõ, tiếng kéo bàn, xô ghê, tiếng huýt sáo, tiếng còi v.
Nói một cách tổng quát, chúng ta không thể loại bỏ các tín hiệu kèm lời và phi lời khi giao tiếp bằng lời. Ngay cả khi chúng ta nói chuyện bằng điện thoại, nghĩa là không đương diện với người đối thoại, không ít người vẫn “hoa chân múa tay” với cái máy điện thoại kẹp ở cổ. Arbercrombie viết “chúng ta nói bằng các cơ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan cấu âm nhưng chúng ta hội thoại với cả cơ thể chúng ta” .