Chương 1: VÀI NÉT KHÁI QUÁT CÔNG GIÁO NAM BỘ 1. Lược sử quá trình hình thành cộng đồng Công giáo tại Nam Bộ Thừa sai Labbé, thuộc Hội Thừa sai Paris, trong thư viết cho chủng viện của Hội, đề ngày 04/09/1710, cho biết là có khoảng 2.000 người theo đạo Công giáo trong số 20.000 cư dân Đàng Trong tới lập nghiệp tại Đồng Nai từ 35 đến 40 năm trước đó. Như thế, theo như đoạn thư này viết thì người Công giáo đã có mặt tại Đồng Nai ít nhất từ năm 1670.[53; 43] Theo Trần Phổ thì vào năm 1720, tại Sài Gòn, một nhóm lưu dân Công giáo đã qui tụ lại với nhau, góp tiền của để xây dựng một ngôi nhà thờ nhỏ. Số tín đồ Công giáo này đã tập hợp nhau tại xóm Nhân Giang, gần một nơi họp chợ, sau này được gọi là Chợ Quán.
Năm 1725, họ đạo Chợ Quán đã có 300 bổn đạo. Số người theo đạo kéo tới vùng Sài Gòn mỗi lúc một đông. Vào năm 1730, một ngôi nhà thờ khác đã được cất lên tại “một trung tâm buôn bán cũng ở trong vùng và không cách xa lắm, tức nhà thờ Chợ Lớn”. Vào năm 1740, họ đạo này đã có khoảng 1.000 tín đồ và lần lượt các nhà thờ khác đã được cất lên tại Rạch Cát, vùng ngoại ô nhưng có thuyền bè ra vào tấp nập, tại Bến Nghé, nay là Cầu Kho.
Vào thời điểm 1744 số tín đồ Công giáo tại Sài Gòn là khoảng 5.500, nửa ở thành phố, nửa ở vùng ruộng xa.[94; 48-49] Lần theo các địa danh được ghi trong phúc trình, ký sự hay thư từ còn lưu lại được về sinh hoạt của linh mục Jose Garcia, thừa sai dòng Phanxicô, tới Việt Nam và hoạt động tại Quảng Ngãi từ 1719, được phái tới vùng Nam Bộ từ cuối năm 1722 và hoạt động tại đây cho đến năm 1759, tác giả Trần Phổ đã thiết lập 7 khu vực có người Công giáo lưu trú tại Nam Bộ vào những thập niên đầu của thế kỷ XVIII như sau: Khu vực thứ nhất, là Sài Gòn, gồm nhà thờ Kính Thánh Giuse ở Chợ Quán, nhà thờ Kính Đức Mẹ Mai Khôi ở Chợ Lớn, nhà thờ Kính Thánh Giá ở Bến Nghé và một nhà nguyện ở Rạch Cát. Khu vực thứ hai, về phía Bắc thành phố, dọc theo sông Sài Gòn, có một vài họ đạo và họ lớn hơn hết là Lái Thiêu. Năm 1739, họ Lái Thiêu đã có một ngôi nhà thờ rộng và gần 400 bổn đạo. Về phía Tây Bắc cũng có một vài nhóm nhỏ lẻ tẻ ở vùng Trảng Bàng.
Khu vực thứ ba, khu vực này ở về phía Nam Sài Gòn, giữa ba con sông: Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Sài Gòn, ở giữa lại có 2 đường thuỷ: sông 10 z Rạch Cát và sông Chợ Đệm. Ở khu vực này có nhiều họ nhỏ như Rạch Dừa, Rạch Núi, Rạch Nhà Rầm, Cần Đước, Khúc Răng ở Nhà Bè, Rạch Chanh ở Cần Đước và một họ ở gần Nhà Bè. Vì gần Sài Gòn, nên tất cả đều thuộc về trung tâm Chợ Quán, chỉ có “bàn thờ” thôi. Tuy nhiên trước năm 1750 đã có một nhà thờ ở Ba Cụm và một nhà nguyện ở Gò Đen.
Khu vực thứ bốn, về phía Nam sông Vàm Cỏ Tây, dọc theo những rạch nối liền sông này với sông Cửu Long, miền này ngày nay là kênh Chợ Gạo, đã có hai nhóm giáo dân khá đông. Một nhóm ở phía Bắc, một nhóm ở phía Đông dọc theo sông Trà và sông Rạch Lá. Ở chợ Rạch Lá, trước năm 1739 đã có hơn 300 giáo dân và một nhà thờ. Về phía Tây Chợ Gạo, cách sông Cửu Long chừng một dặm, có một ấp gọi là Cà Bon, nay là Thủ Ngữ, năm 1739 đã có trên 200 giáo dân và linh mục José đã cất cho họ một nhà thờ.
Khu vực thứ năm, là bên kia bờ sông Cửu Long, ngày nay là sông Mỹ Tho. Ở đây có những họ đạo rất xưa. Người có đạo đã đến ở Cái Mơn và Cái Nhum từ năm 1700. Hai nơi này đều có nhà thờ.
Theo một ký sự viết năm 1751, số giáo dân ở Cái Mơn lên tới 900, ở Cái Nhum 600. Một số giáo dân khác đi xuôi xuống miền biển, dọc theo hai bên bờ sống Hàm Luông, nhất là ở vùng Ba Tri, ở đó trước năm 1730 đã có nhà thờ Cái Bông. Khu vực thứ sáu, dọc theo phía Bắc bờ sông Mỹ Tho là một vùng hình tam giác, đỉnh Nam là Mỹ Tho, đỉnh Bắc là Vũng Ngữ hoặc Tân An, đỉnh Tây là Cái Bè. Điều là ta ngạc nhiên là tại đây lại có nhiều nhóm giáo dân đến ở, nhất là dọc theo kinh rạch nối liền Tân An, Mỹ Tho.
Giáo dân ở Vũng Ngữ (Tân An) có 100 người ở Thân Trong, Bến Tranh, Mỹ Tho, Rạch Nam có nhà nguyện, Xoài Mục có nhà thờ và ở Cái Bè cũng có nhà nguyện. Ký sự có nói đến một nhà nguyện ở Bưng Dung gần sống Ba Thắc và cha José Garcia thường đi ghe qua lại trên sông Ba Thắc trong các chuyến đi thăm bổn đạo. Nhưng số người Việt đến định cư trên phần đất hiện nay là hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh thì chưa có bao nhiêu. Khu vực thứ bảy, là một địa điểm rất xa về phía Tây, nơi đây có tên là Mang Khảm hoặc Cảng Khẩu; người Tây phương viết là Ham Kao, Kang Kao hay Can Cao.
Cuối thế kỷ XVII, một nhóm người Hoa ở Quảng Đông, do Mạc Cửu dẫn đầu, kéo sang nơi đây, chiêu mộ lưu dân lập ra 7 xã. Tương truyền thấy tiên hiện ra trên sông, nên đổi tên là Hà Tiên. Từ năm 1550 đã có một giáo sĩ dòng Đa Minh, tên là Gaspar de Santa Cruz ở Malacca đáp tàu đến Hà Tiên nhưng không ở lại. Đầu thế 11 z kỷ XVIII, trong số người Việt đến lập nghiệp với người Hoa ở Hà Tiên có vài giáo dân.
Lại có một số người Bồ Đào Nha ở Cao Miên sang đúc tiền, đúc súng cho họ Mạc. Hai nhóm Công giáo này cất chung một nhà nguyện nhỏ. Linh mục José Garcia đến Hà Tiên lần thứ nhất vào năm 1735. Có một người Công giáo Việt Nam, là tay chân đắc lực tín nhiệm của Mạc Thiên Tứ xin phép ông cho cất một nhà thờ mới.
Mạc Thiên Tứ tán thành việc truyền giáo. Ông cho phép cất nhà thờ mới và mời linh mục José lưu lại. Họ đạo Hà Tiên phát triển mau lẹ. Năm 1745 linh mục José cất một ngôi nhà thờ mới tại đất Hà Tiên.[94; 52-53] Vào thời điểm 1724, dưới thời chúa Minh, Nguyễn Phúc Chu, toàn giáo phận Đàng Trong có khoảng 300 nhà thờ với hơn 70.
Riêng kinh đô Phú Xuân có 29 thừa sai ngoại quốc; 12 linh mục dòng Tên, 9 linh mục dòng Phanxicô, 6 thừa sai Pháp và 2 thừa sai Ý. [46; 236] Tuy nhiên, hoạt động truyền giáo ở vùng đất Nam Bộ, thì linh mục José Garcia là nhà truyền giáo duy nhất tại phía Nam Sài Gòn Theo tác giả Trần Phổ thì một hoạt động quan trọng của linh mục José Garcia là: “ Tìm người lưu dân có đạo phân tán lẻ tẻ khắp nơi. Và để tìm, cha có thói quen đi bộ một mình, vai mạng bị, tay cầm gậy, qua các xóm, các ấp, các trại, các thuộc, các nậu hẻo lánh xa xôi, ẩn khuất…Khi đến gần một xóm hẻo lánh xa xôi kia, cha nghe có tiếng đọc kinh. Vui mừng và ngạc nhiên, cha khám phá ra một nhóm người có đạo.Cha ở lại với họ nhiều ngày, thường trở lại thăm viếng và chỉ ít lâu sau một ngôi nhà nguyện nhỏ được cất lên, những người có đạo đơn chiếc lẻ tẻ quanh vùng tập trung về đó”[94; 55].
Đó cũng chính là cách thức hình thành các họ đạo Công giáo vùng đồng bằng Nam Bộ vào thời kỳ vùng đất mới này đang được khai mở. Những di dân người Việt có đạo Công giáo tới khẩn hoang và khai thác vùng đất Nam Bộ. Các di dân người Việt có đạo Công giáo này là những nông dân, ngư dân hay thương nhân của các tỉnh phía bác đã bỏ làng mạc ra đi, phần vì trốn lính, phần để thử vận hội mới, hoặc vì không trả nổi thuế hay để tránh các thiên tai hay nạn đói thường xuyên xảy ra tại các tỉnh phía Bắc Đàng Trong. Các di dân Công giáo tới lập nghiệp tại vùng đất mới này còn là để tránh các vụ cấm đạo thường được thi hành một cách gắt gao tại kinh đô và các tỉnh gần kinh đô.
Trong khi đó tại vùng đất Nam Bộ, 12 z ngay cả sau khi nhà Nguyễn đã tổ chức được nền cai trị tại đây, việc thi hành mệnh lệnh cấm đạo công giáo của triều đình vẫn có phần lỏng lẻo. Mạc Thiên Tứ, Lê Văn Duyệt hay dưới thời Tự Đức, các quan kinh lược Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản vẫn tỏ ra khoan dung, đại lượng đối với tín đồ theo đạo Công giáo ngay cả khi triều đình đã ra sắc chỉ cấm đạo. Tuy nhiên, việc định cư của các di dân Công giáo tại Nam Bộ vào buổi đầu không ổn định lắm. Các cuộc chiến tranh xảy ra giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn từ 1771, đã phân tán các di dân theo đạo Công giáo cũng như các di dân khác tại Nam Bộ và đẩy họ vào sâu trong các vùng hẻo lánh và hoang vắng.
Tình hình của một số họ đạo trong thời kỳ này được phản ánh là: nhiều họ đạo trước đây được cho là khá đông nay chỉ còn một nửa, vì người thì chết vì gươm đạo, người thì chết vì đói khát, người thì đi chinh chiến, người thì chạy sang các tỉnh khác. Mặt khác, các cuộc cấm đạo, tuy không diễn ra một cách gắt gao tại Nam Bộ trong thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, nhưng cũng tạo ra bất ổn nơi các họ đạo. Một số tín đồ Công giáo đã vào sâu trong các vùng hoang vắng như qua bên kia sông Hậu thành lập những họ đạp mới như Cù Lao Giêng, Bó Ót, Cái Đôi, Năng Gù, Mỹ Luông…Hoặc sang tả ngạn sông Cổ Chiên như Cái Bông, Bãi San. Thừa sai Arif viết về họ đạo Cái Nhum như sau: “Họ đạo được thành lập vào cái thời người ta chọn những nơi hẻo lánh nhất để làm nơi quy tụ người Công Giáo.
Đó là thời người ta ghê sợ những kẻ phản bội, những người anh em giả, thời người tín hữu nhận ra nhau nhờ những từ, những dấu bí mật, thời các linh mục, ban ngày phải ẩn lánh còn ban đêm thì đi ban phép bí tích và thăm viếng kẻ ốm đau”.