Luận án tiến sĩ nghiên cứu ở mức độ phân tử khả năng kháng carbapenem của một số vi khuẩn gram âm phân lập từ bệnh nhân tại bệnh viện việt đức và bệnh viện trung ương quân đội 108

Luận án tiến sĩ y tế nghiên cứu nghiên cứu ở mức độ phân tử khả năng kháng carbapenem của một số vi khuẩn gram âm phân lập từ bệnh, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Vi sinh vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

201
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

1.1. CÁC TỪ VIẾT TẮT

1.2. DANH MỤC CÁC HÌNH

1.3. DANH MỤC CÁC BẢNG

2. MỞ ĐẦU

3. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Địa điểm nghiên cứu

3.2. Thiết kế nghiên cứu

3.3. Thời gian và địa điểm thực hiện nghiên cứu

3.3.1. Thời gian thực hiện

3.3.2. Địa điểm thực hiện

3.4. Đối tượng nghiên cứu

3.5. Cỡ mẫu nghiên cứu

3.5.1. Cỡ mẫu cho mục tiêu 1

3.5.2. Cỡ mẫu cho mục tiêu 2

3.6. Sơ đồ tóm tắt các bước nghiên cứu

3.6.1. Sơ đồ tóm tắt các bước nghiên cứu đáp ứng mục tiêu 1

3.6.2. Sơ đồ tóm tắt các bước nghiên cứu đáp ứng mục tiêu 2

3.7. Phương pháp nghiên cứu

3.8. Trang thiết bị chính

3.9. Nuôi cấy và định danh lại vi khuẩn

3.10. Tách chiết ADN

3.11. Phản ứng chuỗi polymerase (PCR)

3.12. Giải trình tự gen

3.13. Thử nghiệm khả năng sinh enzyme carbapenemase của các chủng mang gen kháng bằng phương pháp Carba NP cải tiến (Carba NP - direct)

3.14. Thử nghiệm xác định nồng độ kháng sinh tối thiểu ức chế sự phát triển của vi khuẩn (MIC)

3.15. Kỹ thuật điện di xung trường (PFGE)

3.16. Kỹ thuật giải trình tự toàn bộ hệ gen của vi khuẩn (WGS)

3.17. Kỹ thuật S1-PFGE và Southern blot

3.18. Kỹ thuật tiếp hợp vi khuẩn để truyền plasmid

3.19. Xử lý và phân tích số liệu

3.20. Kiểm soát tính chính xác và độ tin cậy của các kỹ thuật trong quá trình nghiên cứu

3.21. Đạo đức trong nghiên cứu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

4.1. Một số đặc điểm chung của các chủng vi khuẩn phân lập tại 2 bệnh viện

4.2. Phát hiện sự có mặt của các gen mã hoá carbapenemase ở các chủng vi khuẩn kháng carbapenem phân lập tại 2 bệnh viện

4.3. Xác định khả năng sinh enzyme carbapenemase và mức độ nhạy cảm kháng sinh của các chủng vi khuẩn mang gen mã hoá carbapenemase

4.3.1. Xác định khả năng sinh enzyme carbapenemase của các chủng vi khuẩn mang gen mã hoá carbapenemase

4.3.2. Xác định mức độ nhạy cảm kháng sinh của các chủng vi khuẩn mang gen mã hoá carbapenemase theo tiêu chuẩn lâm sàng

4.4. Xác định mối liên hệ về kiểu gen của các chủng vi khuẩn mang gen mã hoá carbapenemase phân lập tại Bệnh viện Việt Đức và Bệnh viện Trung ương quân đội 108

4.4.1. Xác định mối liên hệ về kiểu gen của các chủng vi khuẩn sinh enzyme carbapenemase trong nghiên cứu bằng kỹ thuật PFGE

4.4.2. Xác định mối liên hệ về kiểu gen và sequence type của các chủng vi khuẩn sinh enzyme carbapenemase tại Việt Nam và trên thế giới bằng kỹ thuật giải trình tự toàn bộ hệ gen của vi khuẩn

4.5. Xác định cơ chế lan truyền qua trung gian plasmid của các chủng vi khuẩn mang gen mã hoá carbapenemase

4.5.1. Xác định đặc điểm của các plasmid mang gen mã hoá carbapenemase

4.5.2. Xác định khả năng lan truyền gen kháng qua trung gian plasmid giữa các chủng vi khuẩn

4.6. Xác định cấu trúc của các yếu tố di truyền di động mang gen mã hoá carbapenemase

4.6.1. Cấu trúc của các yếu tố di truyền di động mang gen blaKPC-2

4.6.2. Cấu trúc của các yếu tố di truyền di động mang gen blaNDM-1

4.6.3. Cấu trúc của các yếu tố di truyền di động mang gen blaOXA-48

4.6.4. Cấu trúc của yếu tố di truyền di động mang gen blaIMP-1

4.6.5. Cấu trúc của yếu tố di truyền di động mang gen blaOXA-23

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ XUẤT BẢN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC TÀI LIỆU

PHỤ LỤC 1. DANH SÁCH MẪU NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ THEO MỘT SỐ NỘI DUNG CỦA MỤC TIÊU 1

PHỤ LỤC 2. DANH SÁCH MẪU NGHIÊN CỨU ĐƯỢC GIẢI TRÌNH TỰ TOÀN BỘ HỆ GEN CỦA MỤC TIÊU 2

PHỤ LỤC 3. BẢNG PHIÊN GIẢI KẾT QUẢ MIC THEO TIÊU CHUẨN CLSI 2017

Tóm tắt

I. Tổng quan về kháng carbapenem ở vi khuẩn gram âm tại Việt Đức và 108

Kháng carbapenem là một trong những thách thức lớn trong điều trị nhiễm khuẩn do vi khuẩn gram âm. Tại Việt Đức và Bệnh viện 108, tình trạng này đang gia tăng đáng kể. Vi khuẩn gram âm, như Escherichia coli và Klebsiella pneumoniae, đã phát triển khả năng kháng lại nhóm kháng sinh này, vốn được coi là lựa chọn cuối cùng trong điều trị. Việc hiểu rõ về tình hình kháng carbapenem tại hai bệnh viện này là rất cần thiết để có những biện pháp can thiệp kịp thời.

1.1. Định nghĩa và tầm quan trọng của kháng carbapenem

Kháng carbapenem là hiện tượng vi khuẩn phát triển khả năng kháng lại các kháng sinh thuộc nhóm carbapenem. Nhóm kháng sinh này thường được sử dụng để điều trị các nhiễm khuẩn nặng do vi khuẩn đa kháng thuốc. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng mà còn gây áp lực lớn lên hệ thống y tế.

1.2. Tình hình kháng carbapenem tại Việt Đức và Bệnh viện 108

Tại Bệnh viện Việt Đức và Bệnh viện 108, các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vi khuẩn gram âm kháng carbapenem đang gia tăng. Các chủng vi khuẩn như Acinetobacter baumannii và Klebsiella pneumoniae đã được phát hiện với tỷ lệ kháng thuốc cao, gây khó khăn trong điều trị và kiểm soát nhiễm khuẩn.

II. Vấn đề và thách thức trong việc kiểm soát kháng carbapenem

Kháng carbapenem không chỉ là một vấn đề y tế mà còn là một thách thức lớn đối với các cơ sở y tế. Việc kiểm soát sự lây lan của các chủng vi khuẩn kháng thuốc là rất khó khăn do nhiều yếu tố như điều kiện vệ sinh kém, lạm dụng kháng sinh và sự di chuyển của bệnh nhân.

2.1. Nguyên nhân dẫn đến kháng carbapenem

Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến kháng carbapenem là việc lạm dụng kháng sinh trong điều trị. Việc sử dụng không đúng cách và không đủ liều lượng đã tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển khả năng kháng thuốc.

2.2. Hệ quả của kháng carbapenem đối với sức khỏe cộng đồng

Kháng carbapenem dẫn đến việc điều trị nhiễm khuẩn trở nên khó khăn hơn, làm tăng tỷ lệ tử vong và chi phí điều trị. Điều này cũng gây áp lực lên hệ thống y tế, đặc biệt là trong bối cảnh dịch bệnh gia tăng.

III. Phương pháp nghiên cứu kháng carbapenem ở vi khuẩn gram âm

Để hiểu rõ hơn về cơ chế kháng carbapenem, nhiều phương pháp nghiên cứu hiện đại đã được áp dụng. Các phương pháp này không chỉ giúp xác định khả năng kháng thuốc mà còn tìm hiểu cơ chế di truyền của vi khuẩn.

3.1. Phương pháp nuôi cấy và định danh vi khuẩn

Việc nuôi cấy và định danh vi khuẩn là bước đầu tiên trong nghiên cứu kháng carbapenem. Các mẫu vi khuẩn được thu thập từ bệnh nhân và nuôi cấy trong môi trường thích hợp để xác định loại vi khuẩn và khả năng kháng thuốc.

3.2. Phân tích gen và cơ chế kháng thuốc

Phân tích gen giúp xác định các gen mã hóa enzyme kháng thuốc. Các kỹ thuật như PCR và giải trình tự gen được sử dụng để phát hiện các gen kháng carbapenem, từ đó hiểu rõ hơn về cơ chế kháng thuốc của vi khuẩn.

IV. Kết quả nghiên cứu về kháng carbapenem tại Việt Đức và 108

Nghiên cứu tại Bệnh viện Việt Đức và Bệnh viện 108 đã chỉ ra rằng tỷ lệ vi khuẩn gram âm kháng carbapenem đang gia tăng. Các chủng vi khuẩn như Klebsiella pneumoniae và Acinetobacter baumannii đã được phát hiện với tỷ lệ kháng thuốc cao, cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp can thiệp kịp thời.

4.1. Tỷ lệ vi khuẩn kháng carbapenem

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vi khuẩn gram âm kháng carbapenem tại Bệnh viện Việt Đức và Bệnh viện 108 là rất cao. Điều này cho thấy sự cần thiết phải theo dõi và kiểm soát tình trạng kháng thuốc trong các cơ sở y tế.

4.2. Đặc điểm di truyền của các chủng vi khuẩn kháng thuốc

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các chủng vi khuẩn kháng carbapenem có đặc điểm di truyền đa dạng. Việc hiểu rõ về các đặc điểm này sẽ giúp phát triển các biện pháp điều trị hiệu quả hơn.

V. Giải pháp và ứng dụng thực tiễn trong việc kiểm soát kháng carbapenem

Để kiểm soát tình trạng kháng carbapenem, cần có các giải pháp đồng bộ từ việc nâng cao nhận thức đến cải thiện điều kiện vệ sinh trong bệnh viện. Các biện pháp này sẽ giúp giảm thiểu sự lây lan của vi khuẩn kháng thuốc.

5.1. Nâng cao nhận thức về kháng sinh

Cần tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức về việc sử dụng kháng sinh đúng cách. Điều này sẽ giúp giảm thiểu tình trạng lạm dụng kháng sinh và từ đó hạn chế sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc.

5.2. Cải thiện điều kiện vệ sinh trong bệnh viện

Cải thiện điều kiện vệ sinh và kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện là rất cần thiết. Việc này không chỉ giúp bảo vệ bệnh nhân mà còn giảm thiểu nguy cơ lây lan của vi khuẩn kháng thuốc.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai về kháng carbapenem

Kháng carbapenem là một vấn đề nghiêm trọng và đang gia tăng tại Việt Đức và Bệnh viện 108. Cần có các biện pháp can thiệp kịp thời để kiểm soát tình trạng này. Tương lai của việc điều trị nhiễm khuẩn sẽ phụ thuộc vào khả năng phát triển các phương pháp điều trị mới và cải thiện việc sử dụng kháng sinh.

6.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu liên tục

Nghiên cứu liên tục về kháng carbapenem là rất cần thiết để hiểu rõ hơn về cơ chế kháng thuốc và phát triển các biện pháp điều trị hiệu quả. Việc này sẽ giúp bảo vệ sức khỏe cộng đồng và giảm thiểu tác động của kháng thuốc.

6.2. Hướng đi tương lai trong điều trị nhiễm khuẩn

Tương lai của điều trị nhiễm khuẩn sẽ phụ thuộc vào việc phát triển các loại kháng sinh mới và cải thiện các phương pháp điều trị hiện có. Cần có sự hợp tác giữa các nhà khoa học, bác sĩ và các cơ sở y tế để đạt được mục tiêu này.

16/08/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu ở mức độ phân tử khả năng kháng carbapenem của một số vi khuẩn gram âm phân lập từ bệnh nhân tại bệnh viện việt đức và bệnh viện trung ương quân đội 108

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. VI KHUẨN GRAM ÂM VÀ TÍNH KHÁNG KHÁNG SINH 1. Vi khuẩn Gram âm Vi khuẩn Gram âm là một nhóm vi khuẩn có lớp màng kép: trong cùng là màng sinh chất, tiếp theo là một lớp peptidoglycan mỏng nằm trong khoang chu chất và sau đó tới màng ngoài. Lớp màng ngoài là phức hợp lipidpolysaccharide nội độc tố gồm lipoprotein và lipopolysaccharide.

Màng ngoài có cấu trúc gần giống màng tế bào chất nhưng phospholipid hầu như chỉ gặp ở lớp trong, còn ở lớp ngoài là lipopolysaccharide dày khoảng 8-10 nm gồm 3 thành phần: Lipid A, Polysaccharide lõi và kháng nguyên O [2]. Màng ngoài còn có thêm các protein: Protein cơ chất: porin ở vi khuẩn còn gọi là protein lỗ xuyên màng với chức năng cho phép một số loại phân tử đi qua chúng như dipeptide, disaccharide, các ion vô cơ…; - Protein màng ngoài: chức năng vận chuyển một số phân tử riêng biệt và đưa qua màng ngoài như: nucleotide, vitamin B12…; - Lipoprotein: đóng vai trò liên kết lớp peptidoglycan bên trong với lớp màng ngoài. Ở mặt ngoài của một số vi khuẩn Gram âm có những sợi nhỏ và ngắn gọi là pili, được chia thành 2 loại là pili chung và pili giới tính. Pili chung giúp vi khuẩn bám lên các bề mặt qua đó quyết định tính chất ngưng kết hồng cầu của vi khuẩn.

Pili giới tính lại đóng vai trò quan trọng là cầu nối truyền ADN từ tế bào vi khuẩn cho sang tế bào vi khuẩn nhận trong quá trình tiếp hợp [2]. Cũng như nhiều loại sinh vật, trong hệ gen của vi khuẩn có nhiều gen chịu trách nhiệm tổng hợp nhiều loại sản phẩm khác nhau cho quá trình sống, sinh trưởng và phát triển của chúng. Điều đặc biệt là có nhiều gen cực kỳ quan trọng của vi khuẩn lại không nằm trong hệ gen của chúng mà định vị trên những ADN vòng tách biệt, nằm rải rác trong nguyên sinh chất của vi khuẩn gọi là các plasmid. Plasmid là một phân tử ADN, có cấu trúc khép lại thành vòng tròn độc lập, có khả năng tồn tại và nhân lên một cách độc lập với hệ gen của tế bào chủ và tương tác, 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoạt động vững bền với tế bào chủ.

Giữa chúng và hệ gen của tế bào vật chủ có sự tương tác cộng sinh và chi phối lẫn nhau. Do vậy plasmid của loại vi khuẩn nào thường chỉ thích nghi với loại vi khuẩn đó. Tương tự, vi khuẩn chỉ tiếp nhận những plasmid mà chúng là tế bào vật chủ của các loại plasmid đó [2]. Plasmid thường chứa các gen mã hoá khả năng sinh tổng hợp kháng sinh, đồng thời cũng mang các gen sinh tổng hợp sản phẩm kháng lại kháng sinh.

Ở một số vi sinh vật gây bệnh cho người và động vật, chúng còn là chủ nhân của một số gen sinh tổng hợp các loại độc tố và các protein có hoạt tính cao có chức năng tăng cường độc lực cho vi khuẩn. Do plasmid là một công cụ giúp vận chuyển ADN từ cá thể này sang cá thể khác thông qua hiện tượng truyền gen ngang nên chúng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong lĩnh vực y, sinh, nông, dược và môi trường. Tuy nhiên vi khuẩn Gram âm cũng là căn nguyên phổ biến của các bệnh nhiễm trùng phổ biến trong cộng đồng và trong môi trường bệnh viện, gây ra những tổn thất to lớn cả về sức khỏe, kinh tế và xã hội. Tính kháng kháng sinh của vi khuẩn Gram âm Cho đến nay biện pháp điều trị chủ yếu cho các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn gây ra là sử dụng kháng sinh.

Kháng sinh là những chất kháng khuẩn do các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm…) sản sinh ra hoặc được tổng hợp nhân tạo, có tác dụng ức chế sự phát triển hoặc tiêu diệt vi khuẩn ngay ở nồng độ thấp. Có thể phân loại kháng sinh theo cấu trúc phân tử hoặc hóa học (ví dụ: betalactam, macrolides, tetracycline, quinolones, aminoglycosides, sulphonamides…), theo cơ chế tác dụng (ví dụ: ức chế tổng hợp thành tế bào, ức chế tổng hợp protein…) hoặc theo phổ tác dụng (ví dụ: kháng sinh phổ hẹp, phổ rộng) [6]. Những chủng vi khuẩn kháng thuốc đầu tiên được phát hiện trong các bệnh viện là nơi sử dụng rất nhiều kháng sinh. Chủng vi khuẩn Streptoccoccus pyogenes kháng sulfonamide được phát hiện trong một bệnh viện quân đội vào những năm 1930.

Theo sau là chủng Staphylococcus aureus kháng penicillin hoành hành ở các bệnh viện London vào những năm 1940, không lâu sau khi đưa penicillin vào sử dụng trong điều trị. Các chủng đa kháng (kháng lại nhiều loại kháng sinh) được phát hiện đầu 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiên ở vi khuẩn đường ruột như Escherichia coli (E. coli), Shigella và Salmonella vào cuối những năm 1950 đến đầu những năm 1960 [109]. Từ đó, tình trạng kháng kháng sinh nhanh chóng lan rộng ra khắp các quốc gia trên thế giới, cho thấy một mối đe dọa nghiêm trọng với sức khỏe cộng đồng (với nhiều ca tử vong do điều trị thất bại các vi khuẩn kháng thuốc) và những phí tổn về mặt kinh tế và xã hội [47, 110].

Ở Mỹ, ước tính thiệt hại do các vi sinh vật kháng thuốc gây ra dao động trong khoảng $150 triệu tỉ đến $30 tỉ đô la mỗi năm nhưng con số thực tế còn gấp nhiều lần nếu tính cả mức độ ảnh hưởng tới cộng đồng [110]. Tính đề kháng của vi khuẩn có thể bắt nguồn từ hai yếu tố: yếu tố di truyền quy định tính đề kháng của vi sinh vật và hoạt tính của kháng sinh đã ức chế các vi khuẩn nhạy và chọn lọc những vi khuẩn kháng. Tính đề kháng sẽ phát triển khi có mặt đồng thời 2 yếu tố này trong môi trường hoặc vật chủ. Các gen quy định đặc tính kháng và tế bào vi khuẩn sẽ cùng nhân lên và lan rộng dưới áp lực chọn lọc của kháng sinh có trong môi trường [110].

Mặc dù có hơn 15 nhóm kháng sinh tác động vào tế bào vi khuẩn theo nhiều cơ chế khác nhau (Hình 1.1) nhưng tất cả đều không tránh khỏi các cơ chế kháng của vi khuẩn. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Đích tác động của các nhóm kháng sinh phổ biến ở tế bào vi khuẩn [121]. Cơ chế kháng kháng sinh của vi khuẩn Gram âm Nhìn chung, cơ chế kháng kháng sinh của vi khuẩn Gram âm khá đa dạng (Hình 1.2) và thường được phân chia thành 3 nhóm cơ chế chính: làm giảm sự hấp thụ kháng sinh vào bên trong tế bào vi khuẩn; thay đổi đích tác động của kháng sinh và sản sinh ra các enzyme để ức chế hoặc biến đổi kháng sinh [36].2: Các cơ chế kháng kháng sinh phổ biến của các vi khuẩn Gram âm [154]. Làm giảm sự hấp thụ kháng sinh Vi khuẩn Gram âm có thể làm giảm sự hấp thụ kháng sinh bằng cách hạn chế kháng sinh chui vào bên trong tế bào, tăng cường việc bơm đẩy kháng sinh ra ngoài tế bào hoặc kết hợp cả 2 phương thức này.

So với vi khuẩn Gram dương, lớp màng ngoài của vi khuẩn Gram âm tạo nên một lớp hàng rào bảo vệ cho tế bào vi khuẩn. Vì vậy đa số các nhóm kháng sinh kỵ nước như aminoglycosides, rifamycins và macrolides sẽ khuếch tán qua màng lipid kép của tế bào vi khuẩn còn nhóm β-lactams sẽ đi vào bên trong qua protein lỗ màng 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bằng việc thay đổi cấu trúc của lỗ màng hoặc loại bỏ lỗ màng, vi khuẩn Gram âm sẽ hạn chế được kháng sinh đi vào bên trong tế bào. Ví dụ việc mất lỗ màng ở A.

baumannii được cho là căn nguyên của tính đề kháng với imipenem and meropenem [82]. Kết quả một nghiên cứu khác cũng chỉ ra tính kháng carbapenem của Enterobacteriaceae tăng đáng kể do xuất hiện đột biến làm giảm quá trình tổng hợp lỗ màng hoặc thay đổi sang loại lỗ màng khác [220]. Cơ chế chủ động bơm đẩy kháng sinh ra ngoài tế bào giúp vi khuẩn Gram âm đề kháng với hầu hết các loại kháng sinh (trừ polymyxin). Một số loại bơm đẩy đặc hiệu với một nhóm kháng sinh (ví dụ bơm Tet đặc hiệu với tetracycline), nhưng đa số các loại bơm đẩy có tác dụng với nhiều nhóm kháng sinh (bơm đẩy đa kháng) khác nhau như bơm AcrB-TolC ở E.

coli có thể đẩy fluoroquinolones, β-lactams, tetracycline, chloramphenicol, acriflavine, trimethoprim ra ngoài tế bào vi khuẩn [82]. Mặc dù ban đầu các gen mã hóa bơm đẩy đa kháng đều nằm trên nhiễm sắc thể của vi khuẩn nhưng gần đây đã có bằng chứng khoa học cho thấy các gen này di chuyển sang plasmid, qua đó có thể lan truyền sang các cá thể cùng loài hay thậm chí khác loài [64]. Thay đổi đích tác động Thành tế bào đóng một vai trò quan trọng trong sự tồn tại và sinh trưởng của vi khuẩn, vì thế các enzyme tham gia vào quá trình tổng hợp thành tế bào trở thành đích tác động của nhiều loại kháng sinh. Thay đổi phổ biến nhất trong kiểu kháng này là đột biến ở protein gắn penicillin (Penicillin-Binding Proteins - PBP), làm giảm ái lực với kháng sinh β-lactam.

Hoặc để hạn chế nhóm kháng sinh polymyxin gắn vào màng, vi khuẩn, đặc biệt là họ Acinetobacter spp., có thể thay đổi cấu trúc lipid A của màng ngoài tế bào vi khuẩn [154]. Đối với quá trình tổng hợp protein, các đột biến ở rARN 23S của tiểu phần ribosome 50S đã làm giảm ái lực gắn với các kháng sinh nhóm macrolides, lincosamides và streptogramin B [82]. Nếu đột biến ở gen mã hóa rARN 16S giúp vi khuẩn kháng lại aminoglycosides thì các đột biến ở gen gyrA và parC (mã hóa ADN 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gyrase và topoisomerase IV) lại khiến kháng sinh nhóm quinolones/ fluoroquinolones không thể gắn vào vị trí này [70]. Trong một số trường hợp, vi khuẩn sẽ kháng lại tác động của kháng sinh bằng cách thay đổi con đường trao đổi chất vốn bị kháng sinh tác động sang phương thức mới.

Ví dụ vi khuẩn có thể sinh tổng hợp loại PBP mới thay cho PBP đã bị kháng sinh tác động hoặc sản suất ra các enzyme dihydropteroate synthetase và dihydropteroate reductase khác thay thế các enzyme cũ giúp làm giảm độ nhạy và ái lực với trimethoprim và sulphonamides [82]. Sinh tổng hợp enzyme ức chế hoặc biến đổi kháng sinh Vi khuẩn có thể sinh tổng hợp các enzyme nhằm biến đổi kháng sinh thông qua 3 hình thức: ly giải, chuyển nhóm và oxi-hóa khử. Các enzyme ly giải kháng sinh Nhiều loại kháng sinh thông dụng có các liên kết hóa học ở dạng ester hay amide, dễ dàng bị ly giải dưới tác dụng của các enzyme làm đứt gẫy các liên kết này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ