Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ KHÁNG CÁO THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM 1. Khái niệm kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm. Theo Từ điển tiếng Việt, “kháng cáo là chống án lên Tòa án cấp trên yêu cầu xét xử lại” [38, tr. Khái niệm trên chỉ nêu một cách chung chung, cho ta một khái niệm khái quát và mang tính hình thức mà chưa đề cập đến những vấn đề cơ bản của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm như: chủ thể, đối tượng… Theo cách định nghĩa này thì khái niệm “kháng cáo” đồng nghĩa với “chống án” mà trước đây một số người thường dùng.
Pháp luật TTHS nước ta hiện nay không dùng thuật ngữ này mà thống nhất dùng thuật ngữ “kháng cáo”. Trong khoa học pháp lý hiện nay, còn có những khái niệm khác nhau về kháng cáo. Trong cuốn “Từ điển giải thích luật học” của Trường Đại học Luật Hà Nội có đưa ra khái niệm kháng cáo “Người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích trong vụ án yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại bản án hoặc quyết định sơ thẩm” [31, tr. Khái niệm trên đã nêu được đối tượng, chủ thể, mục đích của kháng cáo nhưng chưa chỉ rõ được đối tượng là bản án có hiệu lực hay chưa có hiệu lực pháp luật.
Nên định nghĩa này cũng chưa đầy đủ. Tác giả Đinh Văn Quế trong cuốn “Thủ tục phúc thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” đã đưa ra khái niệm “Kháng cáo là biểu thị sự bất đồng của mình đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử lại” [15, tr. Đây là một khái niệm khá đầy đủ đã nêu được chủ thể, đối tượng và Tòa án có thẩm quyền xét xử, nhưng chưa chính xác ở điểm “tòa án cấp trên”. Theo Điều 230 BLTTHS 2003 thì chỉ có “Tòa án cấp trên trực tiếp” mới có quyền xét xử lại bản án, quyết định theo thủ tục phúc thẩm khi có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Mặt 8 z khác, định nghĩa trên đã nêu được đối tượng của kháng cáo nhưng chưa chỉ rõ đối tượng của kháng cáo phúc thẩm. Kháng cáo “là quyền theo luật định của những người tham gia tố tụng được đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đang còn trong thời gian kháng cáo” [1, tr. Đây là một khái niệm khá hợp lý, đã nêu được chủ thể có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là những người theo luật định mà không phải là bất cứ người tham gia tố tụng nào cũng có quyền kháng cáo như: Người bị tạm giữ, người làm chứng. Ngoài ra, khái niệm này còn nêu được Tòa án có thẩm quyền xét xử, thời hạn kháng cáo.
Tuy nhiên, khái niệm trên chưa chỉ rõ được đối tượng của kháng cáo. Nhìn chung, các khái niệm nêu trên đều chưa đưa ra được một khái niệm chính xác về kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm. Theo chúng tôi, để có được khái niệm đầy đủ và hoàn chỉnh về kháng cáo, chúng ta cần làm rõ những vấn đề sau: Thứ nhất, đối tượng của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là các bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Trong thời hạn luật định (hoặc ngoài thời hạn luật định nhưng có lý do chính đáng), nếu bản án hoặc quyết định bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì Tòa án cấp trên của Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải xét xử lại bản án theo thủ tục phúc thẩm.
Thứ hai, chủ thể có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là những người tham gia tố tụng, nhưng không phải tất cả người tham gia tố tụng đều có quyền kháng cáo mà chỉ những người được pháp luật quy định cụ thể mới có quyền kháng cáo. Chủ thể của quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm có thể là những người có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án, bản án và quyết định của Tòa án đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Chủ thể của quyền kháng cáo còn có thể là những người không có quyền và lợi ích pháp lý 9 z liên quan đến vụ án nhưng họ tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho những người khác. Đó là người mà họ đại diện hợp pháp hoặc là người họ nhận bào chữa, bảo vệ quyền lợi trong trường hợp những người này chưa thành niên hoặc có nhược điểm về thể chất, tâm thần.
Do bản án, quyết định của Tòa án có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ hoặc của người mà họ đại diện, bảo vệ nên pháp luật quy định cho họ quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm, để họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Thứ ba, mục đích của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Khi xét xử Tòa án phải tuân theo pháp luật từ việc đánh giá chứng cứ đến việc đưa ra bản án, quyết định. Nhưng vì nhiều lý do khác nhau mà bản án có thể không đúng pháp luật, không đảm bảo sự chính xác.
Pháp luật quy định quyền kháng cáo phúc thẩm để Tòa án cấp trên trực tiếp phải xem xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật có sai sót, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, tạo cho công dân niềm tin vào sự công minh của pháp luật. Trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị và trong thời gian xét xử phúc thẩm, bản án sơ thẩm chưa được đưa ra thi hành. Cho nên, khi xét xử phúc thẩm bản án hoặc quyết định đó còn có thể được sửa theo hướng có lợi cho người tham gia tố tụng. Mặt khác, nếu họ bị xử oan sai ở giai đoạn sơ thẩm thì sẽ được sửa sai, minh oan và trả tự do ngay sau khi HĐXX phúc thẩm tuyên án.
Hay nếu bị cáo bị xử quá nhẹ so với hành vi phạm tội của mình thì sẽ phải chịu hình phạt thích đáng và tương ứng với thiệt hại mà mình gây ra. Quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm còn nhằm để thực hiện “nguyên tắc hai cấp xét xử”, một nguyên tắc đã có quá trình hình thành lâu dài và mới được quy định lại trong BLTTHS năm 2003. Theo đó, xét xử sơ thẩm là cấp xét xử thứ nhất, bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm 10 z sau khi tuyên thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trực tiếp yêu cầu xét xử lại. Phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai.
Thực hiện tốt “nguyên tắc hai cấp xét xử” là đảm bảo nền pháp chế XHCN. Thứ tư, quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm của những người tham gia tố tụng phải được thể hiện dưới hình thức nhất định và theo thời hạn được quy định trong luật TTHS mới được coi là hợp pháp. Thời hạn kháng cáo được quy định chung cho tất cả các chủ thể có quyền kháng cáo nhưng cách tính thời điểm bắt đầu khác nhau. Từ những điểm đã phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm như sau: “Kháng cáo là quyền của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật được yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật trong thời hạn và theo thủ tục luật định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.
Cơ sở của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm 1. Cơ sở lý luận Tư pháp hình sự là lĩnh vực hoạt động đặc thù của Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền của mình nhằm thực hiện quyền tư pháp. Lĩnh vực hoạt động này mang tính phức tạp và nhạy cảm, bởi nó động chạm trực tiếp đến các quyền và tự do dân chủ (kể cả tính mạng của công dân). Mọi sai lầm dù lớn hay nhỏ xảy ra trong quá trình xử lý tội phạm và người phạm tội đều dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, thậm chí không thể khắc phục được.
Bởi vậy, phải đề ra các hình thức, phương thức tối ưu để “phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” [24, Điều 1]. Một trong những phương thức như vậy là quy định và bảo đảm thực hiện có hiệu quả quyền của những người tham gia tố tụng hình sự được kháng cáo yêu cầu xét xử phúc thẩm tại Tòa án cấp cao hơn. 11 z Căn cứ pháp lý của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân.
BLTTHS 2003 đã quy định về tính chất của xét xử phúc thẩm là “việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị” [24, Điều 230]. Tiếp đó các Điều từ 231 đến 240 của BLTTHS 2003 đã quy định về chủ thể có quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo, thời hạn kháng cáo, kháng cáo quá hạn, thời hạn kháng cáo, thay đổi bổ sung kháng cáo, hậu quả của kháng cáo. Tại Điều 6 của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 cũng đã quy định Tòa án nhân dân đảm bảo chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm. - Việc quy định và thực hiện chế định kháng cáo phúc thẩm là cơ sở pháp lý làm phát sinh thủ tục phúc thẩm.
Khi có kháng cáo phúc thẩm Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm sẽ tiến hành mở phiên tòa phúc thẩm xét xử lại vụ án về nội dung. Tòa án cấp phúc thẩm khi xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo và trong quá trình xét xử lại vụ án có khả năng phát hiện những sai lầm, thiếu sót trong việc xét xử sơ thẩm và sửa chữa những sai lầm, thiếu sót đó một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Qua đó, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân.