Tổng quan luận án
Đề tài luận án: Tiểu thuyết Việt Nam đương đại nhìn từ lý thuyết liên văn bản. Luận án thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, triển khai nghiên cứu theo hướng định tính chuyên sâu về thi pháp học và lý luận văn học.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Khái niệm tính liên văn bản (intertextualité / intertextuality) được nhà nghiên cứu văn học Julia Kristeva đề xuất lần đầu tiên vào năm 1967 trên cơ sở kế thừa quan điểm ngôn ngữ học của Ferdinand de Saussure, tư tưởng đối thoại của Mikhail Bakhtin và các nhà Hình thức luận Nga. Sau đó, lý thuyết này được phát triển bởi các đại biểu của chủ nghĩa hậu cấu trúc, trần thuật học và ký hiệu học như Roland Barthes, Harold Bloom, Michael Riffaterre, Gérard Genette.
Ở Việt Nam, lý thuyết liên văn bản cho đến thời điểm tác giả triển khai nghiên cứu vẫn chưa được khảo sát và hệ thống hóa một cách toàn diện; các công trình nghiên cứu trong nước chủ yếu dừng lại ở các bài dịch, bài giới thiệu lý thuyết chung hoặc vận dụng vào một vài tác phẩm, một tác giả cụ thể, chưa có công trình nào bao quát diện mạo của cả một giai đoạn văn học.
Trong khi đó, sau năm 1986, tiểu thuyết Việt Nam bước vào quá trình hiện đại hóa mạnh mẽ, tiếp thu tinh thần hậu hiện đại và xuất hiện hàng loạt tìm tòi mới về hình thức: đối thoại với văn bản xã hội và diễn ngôn tập thể; vay mượn, giễu nhại huyền thoại và cổ tích; trích dẫn, viết lại, viết tiếp các văn bản cũ; pha trộn thể loại và hư cấu lịch sử. Những biểu hiện nghệ thuật đó thể hiện rõ tính liên văn bản. Luận án xác định vấn đề trung tâm không chỉ dừng lại ở việc khảo sát các biểu hiện của liên văn bản trong tiểu thuyết sau đổi mới, mà còn tập trung lý giải sự tồn tại của nó như một lựa chọn tất yếu trong quan niệm sáng tạo gắn liền với hoàn cảnh xã hội - văn hóa, đồng thời đánh giá sự biến đổi trong thẩm mỹ văn chương như một nỗ lực đổi mới thể loại.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Về mục tiêu, luận án hướng tới việc vận dụng lý thuyết liên văn bản như một công cụ phương pháp luận để tìm hiểu tiểu thuyết Việt Nam đương đại; qua đó chỉ ra sự vận động của thể loại tiểu thuyết trong tiến trình phát triển chung của văn học Việt Nam đương đại, đồng thời đóng góp về mặt phương pháp luận nghiên cứu và làm rõ trạng thái vận động trong thực tiễn văn học nước nhà.
Để đạt được mục tiêu trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu những lý thuyết về liên văn bản như những công cụ nền tảng làm cơ sở phương pháp luận cho luận án; đồng thời tìm hiểu các vấn đề về sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại, đặc biệt là các xu hướng phát triển chính.
- Phân tích, lý giải các hiện tượng của tiểu thuyết đương đại Việt Nam biểu hiện tính liên văn bản (đây là nhiệm vụ trọng tâm của luận án).
- Chỉ ra những thay đổi trong nghệ thuật tiểu thuyết so với giai đoạn trước đổi mới từ góc nhìn liên văn bản (nhiệm vụ này được thực hiện lồng ghép thông qua các chương cụ thể).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tiểu thuyết Việt Nam đương đại xét ở phương diện tính liên văn bản và hệ thống lý thuyết về tính liên văn bản nhằm hướng tới mục tiêu "nội địa hóa" một lý thuyết văn học phương Tây vào thực tiễn văn học dân tộc.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian và không gian: Giai đoạn văn học Việt Nam đương đại (từ sau năm 1986 đến những năm đầu thế kỷ XXI).
- Về tác giả và tác phẩm: Luận án tập trung khảo sát hai khuynh hướng chính: khuynh hướng hậu hiện đại (với các tác giả tiêu biểu như Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Thuận) và khuynh hướng theo lối viết truyền thống với đề tài lịch sử (với các tác giả tiêu biểu như Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Mộng Giác, Võ Thị Hảo). Bên cạnh đó, luận án khảo sát mở rộng tác phẩm của Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Phạm Thị Hoài, Châu Diên, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Dương Hướng, Bùi Anh Tấn, Đoàn Minh Phượng, Phong Điệp để làm sáng tỏ các luận điểm.
- Về bình diện văn bản nghệ thuật: Luận án tập trung khảo sát các bình diện diễn ngôn tư tưởng, ngôn ngữ và thể loại; các bình diện như hình tượng hay cổ mẫu ít được đề cập.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu lý thuyết trên thế giới
Tác giả điểm lại tiến trình hình thành và phát triển của lý thuyết liên văn bản qua các cột mốc học thuật:
- Khởi nguồn và định hình: Đặt nền móng từ công trình ngôn ngữ học của Ferdinand de Saussure và các công trình của Mikhail Bakhtin như Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepski (1929), Sáng tác của Phrăngxoa Rabơle và văn hóa dân gian thời Trung đại và Phục hưng (1965), Những vấn đề văn học và mĩ học (1975). Bakhtin xác lập các khái niệm về tính đối thoại, tiểu thuyết đa thanh, nguyên lý carnaval và tiếng cười nghịch dị. Đến năm 1967, trong bài viết Từ, đối thoại, tiểu thuyết, Julia Kristeva chính thức đề xuất thuật ngữ tính liên văn bản thay thế cho tính liên chủ thể của Bakhtin; tiếp đó phát triển khái niệm trong công trình Kí hiệu học – Sémiotiké (1969) với các phạm trù genotext (cận văn bản/văn bản tương đương), fenotext (văn bản hiện tượng) và idéologème (chức năng phối kết).
- Phát triển hậu cấu trúc và ký hiệu học: Roland Barthes mở rộng nội hàm lý thuyết qua bài viết Cái chết của tác giả, công trình S/Z (1970) và Từ tác phẩm đến văn bản (1971), nhấn mạnh bản chất văn bản là mạng lưới đa trị, người đọc là nơi sản xuất ý nghĩa. Gérard Genette trong Palimpsests: văn chương ở độ hai đã chuẩn hóa thi pháp liên văn bản dưới khái niệm xuyên văn bản (transtextualité) với năm cấp độ tương tác. Ngoài ra, luận án điểm qua quan điểm của Michael Riffaterre, Marko Juvan (Lịch sử và thi pháp của tính Liên văn bản, 2000), Linda Hutcheon và Stephen Greenblatt (Chủ nghĩa lịch sử mới).
Tình hình dịch thuật và nghiên cứu ứng dụng tại Việt Nam
- Dịch thuật: Luận án ghi nhận sự du nhập qua các bản dịch bài báo của L. Rjanskaya do Ngân Xuyên dịch (2007); từ điển thuật ngữ do I. Tzurganova chủ biên; bài viết của Pierre-Marc de Biasi do Bửu Nam và Phạm Thị Anh Nga dịch; bài nghiên cứu của Andrea Del Lungo và bản dịch cuốn Lý thuyết Liên văn bản của Graham Allen do Nguyễn Văn Thuấn thực hiện; bài dịch Một nền thi pháp học sụp đổ của Julia Kristeva do Lã Nguyên dịch (2011); công trình Thi pháp chủ nghĩa hậu hiện đại của Liviu Petrescu do Lê Nguyên Cẩn dịch (2013); cùng các bản dịch công trình nền tảng của Saussure, Bakhtin, Derrida, Eco.
- Nghiên cứu trong nước:
- Hoàng Trinh là người giới thiệu thuật ngữ sớm nhất qua công trình Từ kí hiệu học đến thi pháp học (1993), phân biệt tính đối thoại thuộc phạm trù vi mô trong một văn bản và tính liên văn bản thuộc phạm trù vĩ mô giữa các văn bản.
- Trần Đình Sử giới thiệu tư tưởng đối thoại của Bakhtin (1993, 1995) và đưa lý thuyết liên văn bản vào giáo trình Lí luận văn học (Tập 2) (2008).
- Đỗ Đức Hiểu trong Thi pháp hiện đại và mục từ Tính liên văn bản trong Từ điển văn học (Bộ mới) đã vận dụng lý thuyết liên văn bản vào phân tích các tác phẩm Số đỏ, Phiên chợ Giát, sáng tác của Phạm Thị Hoài và Bảo Ninh.
- Các nghiên cứu chuyên sâu khác: Nguyễn Minh Quân (2001) phân biệt liên văn bản kinh điển và liên văn bản hậu hiện đại; Nguyễn Hưng Quốc (2005, 2007) phân tích nội hàm văn bản và liên văn bản; Nguyễn Nam (2004, 2006, 2009, 2011, 2012) khảo sát liên văn bản qua Chuyện người con gái Nam Xương, Chùa Đàn, phim Mê Thảo, chuyển thể Rashomon; Trương Đăng Dung với các nghiên cứu tiếp nhận văn học như một quá trình liên văn bản; Thái Phan Vàng Anh khảo sát tính liên văn bản và tính đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn
Các công trình đi trước ở Việt Nam chủ yếu dừng ở mức giới thiệu lý thuyết hoặc phân tích đơn lẻ trên từng trường hợp tác giả, tác phẩm cụ thể; chưa có công trình nào đặt tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 vào một cái nhìn hệ thống, toàn diện dưới giác độ lý thuyết liên văn bản. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách khảo sát quy luật vận động nội tại của thể loại, chỉ ra các thủ pháp liên văn bản đặc trưng gắn với hai khuynh hướng tiểu thuyết chính và đề xuất một phương thức "đọc liên văn bản".
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Hệ thống lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
Luận án phân biệt rõ hai khái niệm công cụ:
- Tính liên văn bản: Là thuộc tính bản thể, là kết quả khách quan hiện diện ở mọi văn bản nghệ thuật; văn bản được xem như một đơn vị liên ký hiệu, dệt nên từ những trích dẫn và mã văn hóa có trước.
- Liên văn bản: Là mối quan hệ cụ thể giữa các văn bản, là phương thức và thủ pháp tổ chức văn bản của nhà văn.
Khung phân tích của luận án dựa trên hệ thống phân loại năm loại hình quan hệ xuyên văn bản của Gérard Genette:
| Loại hình quan hệ |
Thuật ngữ nguyên bản |
Bản chất và phương thức biểu hiện theo luận án |
| Liên văn bản |
Intertextualité |
Quan hệ đồng hiện diện giữa hai hay nhiều văn bản trong một văn bản cụ thể; biểu hiện qua ba hình thức: trích dẫn (citation), ám chỉ (allusion), và đạo văn (plagiarism - hiểu theo nghĩa khai thác tiền văn bản để tạo nghĩa mới). |
| Cận văn bản |
Paratextualité |
Mối quan hệ giữa văn bản chính với các yếu tố bên lề văn bản: nhan đề, phụ đề, lời đề tặng, lời nói đầu, lời bạt, tên chương, đề từ, chú thích. |
| Siêu văn bản |
Métatextualité |
Hiện tượng văn bản này bình luận, chú giải hoặc phê phán một văn bản khác một cách tường minh hoặc ẩn tàng, đưa tư duy phản biện khoa học vào cấu trúc văn chương. |
| Thậm phồn văn bản |
Hypertextualité |
Mối quan hệ trong đó văn bản B (hậu bản/thượng văn bản) bắt nguồn từ văn bản A (tiền bản/hạ văn bản) qua hai phương thức: cải biến (transformation: giễu nhại, chế nhạo, chuyển vị) hoặc bắt chước (imitation: phỏng nhại, châm biếm, giả mạo). |
| Kiến tạo văn bản |
Architextualité |
Quan hệ thể loại giữa các văn bản; sự thâm nhập, va chạm và phối kết các thể loại văn học và phi văn học khác nhau vào cấu trúc thể loại tiểu thuyết. |
Bên cạnh khung của Genette, luận án tích hợp mô hình biểu đồ hai trục của Julia Kristeva: trục ngang (mối liên hệ giữa tác giả và người đọc) và trục dọc (sự kết nối giữa văn bản với hệ thống văn bản bao quanh), cùng nguyên lý tiểu thuyết đa thanh và carnaval hóa của Mikhail Bakhtin.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng thuần túy các phương pháp nghiên cứu định tính của chuyên ngành văn học:
- Phương pháp phân tích thi pháp văn bản: Khảo sát các dấu hiệu hình thức mang tính nội dung của văn bản (thủ pháp giễu nhại, tương tác thể loại, viết lại, các yếu tố cận văn bản) nhằm cụ thể hóa ý nghĩa thẩm mỹ của tác phẩm.
- Phương pháp cấu trúc hệ thống: Hệ thống hóa các yếu tố liên văn bản trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, đặt mỗi tác phẩm vào mạng lưới liên văn bản đồng đại (cùng thời kỳ) và lịch đại (xuyên thời gian, xuyên quốc gia).
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh tiểu thuyết sau năm 1986 với tiểu thuyết giai đoạn 1945-1975; so sánh giữa các tác giả cùng thời kỳ hoặc giữa các tác phẩm của cùng một tác giả để nhận diện nét riêng biệt của thủ pháp liên văn bản.
- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Đặt văn bản văn học trong mối quan hệ tương hỗ với mạng lưới văn hóa (chính trị, đạo đức, tôn giáo, phong tục) để xem xét tính liên văn hóa (interculturality).
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn tư liệu của luận án bao gồm các văn bản lý thuyết văn học của phương Tây và Việt Nam; hệ thống tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam xuất bản từ sau năm 1986 đến những năm đầu thế kỷ XXI, trọng tâm là các sáng tác của Nguyễn Việt Hà (Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn, Ba ngôi của người), Hồ Anh Thái (Năm lá quốc thư, Mười lẻ một đêm, Đức Phật, nàng Savitri và tôi, SBC là săn bắt chuột), Thuận (Chinatown, Pari 11 tháng 8, T mất tích), Nguyễn Xuân Khánh (Hồ Quý Ly, Đội gạo lên chùa, Mẫu Thượng ngàn), Nguyễn Mộng Giác (Sông Côn mùa lũ), Võ Thị Hảo (Giàn thiêu), Bảo Ninh (Nỗi buồn chiến tranh), Tạ Duy Anh (Thiên thần sám hối, Đi tìm nhân vật), Nguyễn Bình Phương (Người đi vắng, Thoạt kỳ thủy, Ngồi, Trí nhớ suy tàn).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 tập trung hệ thống hóa lịch sử hình thành và diễn giải các luận điểm cốt lõi của lý thuyết liên văn bản trên thế giới, bao gồm quan niệm của Julia Kristeva về văn bản như một bức tranh khảm trích dẫn; tư tưởng đối thoại, đa thanh và nguyên lý carnaval của Mikhail Bakhtin; quan niệm giải trung tâm tác giả và tính đa trị của Roland Barthes; cùng hệ thống thi pháp năm dạng thức xuyên văn bản của Gérard Genette.
Tiếp đó, chương này khảo sát toàn diện tình hình dịch thuật và tiếp nhận lý thuyết liên văn bản tại Việt Nam từ năm 1993 đến nay qua các công trình của Hoàng Trinh, Trần Đình Sử, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Minh Quân, Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Nam, Trương Đăng Dung, Thái Phan Vàng Anh. Qua việc chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở các bài viết đơn lẻ hoặc tiểu luận phân tích tác phẩm cụ thể, tác giả khẳng định tính tất yếu của việc thực hiện một công trình bao quát toàn diện về tiểu thuyết Việt Nam đương đại từ lý thuyết này.
Chương 2: Sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Chương 2 mô tả tiểu thuyết đương đại như một hệ hình thể loại mới được định hình trong ngữ cảnh văn hóa - xã hội sau năm 1986:
- Ngữ cảnh văn hóa mới: Tác động của chính sách Đổi mới, cơ chế kinh tế thị trường, quá trình hội nhập quốc tế và đặc biệt là sự bùng nổ của Internet cùng văn học mạng (thông qua blog cá nhân, mạng xã hội, các trang web học thuật độc lập). Văn học mạng thiết lập môi trường dân chủ hóa, biến văn bản thành một cấu trúc siêu văn bản luôn mở, xóa nhòa ranh giới giữa sáng tác và tiếp nhận.
- Kiến tạo hiện thực mới: Văn học dịch chuyển từ phản ánh hiện thực sử thi, lý tưởng hóa của giai đoạn 1945-1975 sang kiến tạo thực tại đa chiều. Nhà văn tiếp cận các vấn đề thế sự, đời tư, mặt trái xã hội (tham nhũng, cải cách ruộng đất, chấn thương chiến tranh). Hiện thực được mở rộng sang cõi tiềm thức, vô thức, thế giới giả định, kỳ ảo và tâm linh (tiêu biểu như các chi tiết kỳ ảo, ám ảnh chiến tranh trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh; không gian tín ngưỡng Đạo Mẫu và ma trùng trong Mẫu Thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh; yếu tố luân hồi tiền kiếp trong Đức Phật, nàng Savitri và tôi của Hồ Anh Thái).
- Cá thể hóa nhân vật: Con người cộng đồng sử thi đơn ngã trước đây được thay thế bằng con người cá nhân đa ngã, phức hợp, không trùng khít với chính mình:
- Con người tha hóa, lệch lạc nhân cách trong nền kinh tế thị trường (hình ảnh người nông dân mất phương hướng trong tác phẩm của Dương Hướng, Lê Lựu).
- Tầng lớp trí thức mang dằn vặt nội tâm, bế tắc hiện sinh (trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Thuận, Đoàn Minh Phượng).
- Khai thác con người ở chiều kích bản năng, vô thức và tính dục (kể cả đề tài đồng tính) như một phương tiện giải phóng nhân bản (trong tác phẩm của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Bình Phương, Ma Văn Kháng, Bùi Anh Tấn).
- Con người tâm linh và con người lịch sử được tái tạo thông qua hư cấu tâm lý (như trong Sông Côn mùa lũ, Giàn thiêu, Hồ Quý Ly).
- Đổi mới bút pháp nghệ thuật: Luận án chỉ ra sự chuyển biến từ lối kể chuyện tuyến tính sang kỹ thuật dòng ý thức, đa điểm nhìn trần thuật đan xen và cấu trúc phi tuyến tính, giải cấu trúc mô hình phản ánh truyền thống.
Chương 3: Giễu nhại trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Chương 3 đi sâu phân tích thủ pháp giễu nhại (parody) - một biểu hiện nổi bật của quan hệ thậm phồn văn bản (hypertextualité) và nguyên lý carnaval hóa của Bakhtin trong tiểu thuyết sau năm 1986. Tác giả phân tích cách thức các nhà văn đương đại (đặc biệt là Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Thuận, Tạ Duy Anh) sử dụng tiếng cười nghịch dị, cải biến các tiền văn bản (văn bản huyền thoại, cổ tích, các khuôn mẫu diễn ngôn chính thống, văn hóa giáo điều).
Thao tác giễu nhại được vận dụng không nhằm mục đích phủ định sạch trơn quá khứ mà nhằm tước bỏ tính chất nghiêm chỉnh giáo điều, giải thiêng các chuẩn mực cũ và mở ra khả năng đối thoại đa thanh với thực tại đời sống.
Chương 4: Viết lại lịch sử và tương tác thể loại trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Chương 4 khảo sát hai phương diện nghệ thuật đặc thù gắn với tính liên văn bản:
- Viết lại lịch sử: Khảo sát các sáng tác tiểu thuyết đề tài lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh (Hồ Quý Ly, Đội gạo lên chùa, Mẫu Thượng ngàn), Nguyễn Mộng Giác (Sông Côn mùa lũ), Võ Thị Hảo (Giàn thiêu). Luận án phân tích thao tác nhà văn nhìn nhận lịch sử như một văn bản mở; sử dụng hư cấu nghệ thuật để đối thoại, lấp đầy các khoảng trống của chính sử, giải thiêng các thần tượng lịch sử và kết nối các vấn đề của quá khứ với nhận thức xã hội đương đại.
- Tương tác thể loại (Architextualité): Phân tích sự thâm nhập của các thể loại nghệ thuật khác (truyện ngắn, thơ, trường ca, kịch) và các dạng thức phi nghệ thuật (nhật ký, thư từ, văn bản hành chính, phóng sự, báo chí, triết học, tôn giáo) vào cấu trúc tiểu thuyết. Điển hình là sự xâm nhập của kết cấu truyện ngắn tạo thành các tiểu tự sự, mang lại tính phân mảnh và cấu trúc đa tầng cho tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án hệ thống hóa một cách tương đối toàn diện lý thuyết liên văn bản từ các cội nguồn ngôn ngữ học, hậu cấu trúc và ký hiệu học phương Tây (Saussure, Bakhtin, Kristeva, Barthes, Genette); làm rõ sự khác biệt giữa hai phạm trù "tính liên văn bản" và "liên văn bản".
- Góp phần bổ sung, hoàn thiện khung lý thuyết liên văn bản trong bối cảnh học thuật Việt Nam, đóng vai trò như một thao tác "nội địa hóa" lý thuyết văn học phương Tây để ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn phân tích văn xuôi tiếng Việt.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên khảo sát tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn sau năm 1986 dưới góc nhìn lý thuyết liên văn bản trên quy mô toàn diện của một hệ hình thể loại.
- Nhận diện và làm sáng tỏ quy luật vận động nội tại của tiểu thuyết đương đại qua các thủ pháp liên văn bản đặc thù: trích dẫn, khai thác yếu tố cận văn bản, giễu nhại giải thiêng, tương tác thể loại và viết lại lịch sử.
- Đánh giá khách quan những đóng góp cách tân của các nhà văn tiêu biểu (Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Thuận, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Bình Phương, Bảo Ninh) trong nỗ lực đổi mới tư duy tiểu thuyết, chuyển dịch từ mô hình sử thi độc thoại sang mô hình phức điệu, đa thanh và mở rộng biên độ tiếp nhận cho người đọc.
Kiến nghị và đề xuất
- Đề xuất mở rộng việc vận dụng lý thuyết liên văn bản trong nghiên cứu và phê bình các thể loại văn học khác như thơ ca, kịch bản văn học, cũng như trong việc nghiên cứu các giai đoạn văn học trung đại và hiện đại Việt Nam.
- Khuyến nghị giới nghiên cứu tiếp tục đẩy mạnh công tác dịch thuật đầy đủ các chuyên luận kinh điển về liên văn bản (như công trình nguyên bản của Julia Kristeva, Gérard Genette, Graham Allen) để cung cấp cơ sở lý thuyết chuẩn xác cho việc giảng dạy và nghiên cứu ngữ văn tại các trường đại học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do số lượng tác phẩm và tác giả của tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 rất lớn, luận án chỉ tập trung khảo sát sâu hai khuynh hướng chính (tiểu thuyết hậu hiện đại và tiểu thuyết lịch sử truyền thống) qua một số tác giả tiêu biểu. Về phương diện văn bản nghệ thuật, tác giả chỉ tập trung vào ba bình diện: diễn ngôn tư tưởng, ngôn ngữ và thể loại; các bình diện khác như thế giới hình tượng nghệ thuật hay hệ thống cổ mẫu (archetype) chưa được khai thác sâu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng việc khảo sát tính liên văn bản trên bình diện cổ mẫu và biểu tượng văn hóa; tiếp tục nghiên cứu sự tương tác liên văn bản trong các dòng tiểu thuyết khác như tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết đô thị, tiểu thuyết tư liệu hoặc văn xuôi phi hư cấu (non-fiction).
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Văn học, Lý luận văn học, Sư phạm Ngữ văn; các giảng viên đại học, các nhà phê bình văn học và biên tập viên nhà xuất bản.
- Các nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Phần tổng quan lý thuyết liên văn bản và khung năm loại hình quan hệ xuyên văn bản của Gérard Genette ở Chương 1 có giá trị phương pháp luận chuẩn xác cho các nghiên cứu tiếp cận văn bản nghệ thuật.
- Các phân tích về sự đổi mới hiện thực và quan niệm nghệ thuật về con người ở Chương 2 cung cấp bức tranh toàn cảnh về tiến trình hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam sau năm 1986.
- Kỹ thuật phân tích văn bản về thủ pháp giễu nhại và viết lại lịch sử ở Chương 3 và Chương 4 là tài liệu tham khảo cho việc phân tích tác phẩm cụ thể của các nhà văn đương đại.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khái niệm "tính liên văn bản" và "liên văn bản" như thế nào?
Theo luận án, "tính liên văn bản" (intertextuality) là thuộc tính bản thể khách quan có ở mọi văn bản nghệ thuật, xem văn bản là một đơn vị liên ký hiệu hình thành từ các mã văn hóa đi trước. Trong khi đó, "liên văn bản" chỉ mối quan hệ cụ thể giữa các văn bản với nhau, là thao tác và thủ pháp tổ chức văn bản mang tính thi pháp của người viết.
2. Hệ thống phân loại xuyên văn bản của Gérard Genette được luận án vận dụng gồm những dạng thức nào?
Luận án kế thừa năm dạng thức tương tác xuyên văn bản (transtextualité) của Gérard Genette:
- Liên văn bản (intertextualité): Quan hệ đồng hiện diện (trích dẫn, ám chỉ, đạo văn tạo nghĩa mới).
- Cận văn bản (paratextualité): Quan hệ giữa văn bản với các yếu tố bên lề (nhan đề, đề từ, lời tựa, lời bạt, chú thích).
- Siêu văn bản (métatextualité): Quan hệ bình luận, chú giải hoặc phê phán văn bản khác.
- Thậm phồn văn bản (hypertextualité): Quan hệ cải biến (giễu nhại) hoặc bắt chước (phỏng nhại) từ tiền bản sang hậu bản.
- Kiến tạo văn bản (architextualité): Quan hệ về mặt thể loại giữa các văn bản.
3. Vì sao luận án lựa chọn tập trung vào hai khuynh hướng: tiểu thuyết hậu hiện đại và tiểu thuyết lịch sử truyền thống?
Tác giả lý giải rằng số lượng tác giả tiểu thuyết đương đại rất lớn, trong đó hai khuynh hướng này thể hiện tập trung và rõ nét nhất các thủ pháp liên văn bản: khuynh hướng hậu hiện đại (Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Thuận) thể hiện đậm nét thủ pháp trích dẫn, giễu nhại và phân mảnh; trong khi khuynh hướng lịch sử truyền thống (Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Mộng Giác, Võ Thị Hảo) thể hiện tập trung thao tác viết lại lịch sử và tương tác giữa văn bản văn học với văn bản chính sử.
4. Luận án đánh giá vai trò của người đọc trong cơ chế liên văn bản như thế nào?
Dựa trên quan điểm của Roland Barthes và Julia Kristeva, luận án khẳng định ý nghĩa văn bản không cố định mà luôn ở dạng tiềm năng, chỉ được kích hoạt thông qua hoạt động đọc. Người đọc được xem là chủ thể đồng sáng tạo, tự thiết lập mạng lưới liên văn bản dựa trên phông văn hóa cá nhân để giải mã các tầng bậc ngữ nghĩa của tác phẩm.
5. Sự đổi mới quan niệm về con người trong tiểu thuyết đương đại được luận án chỉ ra ở những điểm nào?
Tiểu thuyết chuyển từ con người sử thi mang tính cộng đồng, đơn ngã sang con người cá nhân mang tính đa ngã và phức tạp. Con người được khảo sát ở trạng thái tha hóa, dằn vặt hiện sinh; được khai thác sâu ở chiều kích bản năng vô thức, tính dục và đời sống tâm linh bí ẩn, tạo nên tính đa trị trong cấu trúc nhân cách nhân vật.
Kết luận
Luận án Tiểu thuyết Việt Nam đương đại nhìn từ lý thuyết liên văn bản là một công trình nghiên cứu thi pháp học định tính có hệ thống về tiến trình đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam từ sau năm 1986 đến đầu thế kỷ XXI. Bằng việc tiếp thu khung lý thuyết liên văn bản của Bakhtin, Kristeva, Barthes và Genette, tác giả đã làm rõ các thủ pháp nghệ thuật nổi bật như trích dẫn, giễu nhại, tương tác thể loại và viết lại lịch sử trong sáng tác của các tác giả tiêu biểu. Công trình xác lập cơ sở khoa học khẳng định sự chuyển dịch hệ hình tiểu thuyết Việt Nam sang hướng đa thanh, phức điệu và hội nhập với tư duy văn học thế giới, đồng thời đem lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học đương đại.