mở đầu cho tiểu thuyết Cơ hội của chúa “sự cùng quẫn cuối cùng của con người đấy là cơ hội của Chúa”. Nguyễn Mộng Giác bắt đầu Sông Côn mùa lũ bằng lời đề tặng: “Tặng nhà tôi Nguyễn Khoa Diệu Chi và các con Đào Tiên, Thụy Vũ, Mai Tiên. Nguyễn Xuân Khánh bắt đầu tiểu thuyết Đội gạo lên chùa bằng việc trích dẫn (cả phiên âm và dịch thơ) bài thơ Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông,. Tất cả những nội dung trên, dù không phải là tình tiết, là chi tiết chính của truyện, nhưng nó mang âm hưởng, màu sắc, phong cách, kiểu tư duy,.
từ 18 đó tác động và định hướng tâm thế ban đầu của độc giả trong hành trình tìm ra những mã của tác phẩm. - Quan hệ siêu văn bản (Métatextualité) Siêu văn bản đề cập đến hiện tượng một VB bình luận rõ ràng hoặc không rõ ràng về một VB khác. Sự bình luận này thể hiện quan điểm, sự đánh giá đối với nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống. Thao tác này làm cho tiểu thuyết gắn với phê bình, mang màu sắc của khoa học, của tư duy phản biện.
Tiểu thuyết giờ đây không phải chỉ là địa hạt của các sự việc, của các tình tiết gây cấn, hồi hộp. Mà là sự đan xen của quy luật tư duy phân tích, đánh giá, nhìn nhận. Sự bình luận có thể thể hiện sự đồng tình hay không đồng tình, ca ngợi hay phê phán, có khi là giải thiêng lại những vấn đề từng được xem là thiêng liêng, là chuẩn mực đối với xã hội. Điều này có thể nhận thấy ở nhiều nhà văn Việt Nam đương đại.
Họ bình luận VB thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và có khi bình luận luôn ngay cả tác phẩm của chính mình. Hồ Anh Thái có những thao tác đề cập đến những VB khác từ đó đưa ra những bình luận. Trong tiểu thuyết Năm lá quốc thư, tác giả đã bình luận về câu chuyện của một nhà văn Pháp thể kỉ XIX: Alfred de Musset “Đồng thời ở đây, còn có thể thấy một câu chuyện khác, từ hình ảnh những cái mỏ háu đói của đàn con sục vào chén sạch tim gan lòng ruột của cha chúng. Câu chuyện về đức hy sinh của người cha, cũng là chuyện về sự háu đói vô tình của đàn con.
Ta nhìn thấy trong ấy câu chuyện chén bằng sạch, moi bằng sạch, rút ruột bằng sạch. Mà rút ruột của ai? Của chính người cha mình, người lẽ ra có thể tồn tại lâu dài để tiếp tục nuôi ta. Và câu chuyện ấy chính là hình ảnh ẩn dụ và là cái cớ cho sự bình luận câu chuyện của hiện tại: “những con bồ nông của Alfred de Musset đã vô tư hồn nhiên được một bữa no. Thảo nào ta có thể gọi tắt vô tư hồn nhiên là vô hồn.
Chúng đã mở đại tiệc trên cái bụng phanh ra của người cha mà không biết rằng một khi người cha đã chết rồi, đại tiệc ấy là sự hủy diệt của chính chúng. Siêu VB trong tiểu thuyết đã trở thành đối tượng cho nhiều nhà văn giải thiêng nhiều vấn đề thiêng liêng 19 nhằm nhạo báng các hiện tượng trong cuộc sống hiện đại. Vậy là biên độ của một VB được mở rộng, thế giới không chỉ là một VB mà còn là một siêu VB để nhà văn có thể hoạt tác bằng nhiều cách thức và con đường khác nhau. - Quan hệ thậm phồn văn bản (Hypertextualité) Thậm phồn VB là thuật ngữ Genette “dùng để chỉ hiện tượng một văn bản B nào đó (được ông gọi là hypertext/thượng VB hoặc hậu bản) phát sinh từ một văn bản A nào đó đã tồn tại trước đó (được gọi là hypotext/hạ bản hoặc tiền bản) bởi sự cải biến (transformation) hoặc bởi sự bắt chước (imitation).
Theo đó những hình thức như giễu nhại (parody), chế nhạo (travesty) và chuyển vị (transposition) thuộc về quan hệ cải biến hạ VB; trong khi phỏng nhại (pastiche), châm biếm (caricature) và giả mạo (forgery) là những hình thức bắt chước. Cải biến và bắt chước có thể xem là quan hệ điển hình cho việc nối kết nhiều VB thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống bằng nghệ thuật xử lý của nhà văn đối với tiền VB. Phần này chúng tôi sẽ đi sâu hơn ở chương ba của luận án. Thuật ngữ giễu nhại (tiếng Anh: parody, tiếng Pháp: parodie) có gốc từ tiếng Hi Lạp cổ đại là parodia.
Từ này gồm có hai phần kết hợp lại: tiền tố para (vừa có ý nghĩa là đối lại vừa có ý nghĩa là bên cạnh) và danh từ ode (có nghĩa là bài hát). Giễu nhại vừa được hiểu là một bài hát “chống lại” bài hát khác, vừa đồng thời được hiểu là bài hát được hát bên cạnh bài hát khác mà không chống lại nó. Chính những cách hiểu này đã dẫn đến tính chất lưỡng nghĩa của từ nguyên mà cho đến nay, việc đưa ra một giới thuyết duy nhất về nội hàm của khái niệm giễu nhại là chưa đi đến thống nhất. Vẫn còn đó những quan niệm và cách tiếp cận khác nhau.
Trong phạm vi của luận án, chúng tôi quan tâm đến một số quan niệm về parody/nhại phổ biến của các nhà lập thuyết tiêu biểu từ thế kỉ XX đến những năm đầu của thế kỉ XXI. Từ đó gắn với thực tiễn của tiểu thuyết Việt Nam đương đại. - Quan hệ kiến tạo văn bản (Architextualité) 20 Thuật ngữ Architextualité được hiểu là “toàn bộ các yếu tố xác định quan hệ về mặt thể loại của các VB. Điều đáng chú ý là “bản thân kiến trúc VB không phải là phạm trù riêng biệt và thuần túy mà là sự va chạm, tương tác và chồng lấn lên nhau giữa các thể loại.
Va chạm, tương tác không phải là sự dịch chuyển cơ học các yếu tố thể loại trong hệ thống văn học mà là sự tương sinh và biến đổi địa vị, chức năng của mỗi yếu tố khi chúng tham sự vào tấn kịch văn học” [125, tr. Trong quan hệ kiến tạo VB, Genette một mặt phân loại và một mặt chú ý đến các kiểu tương tác LVB. Theo quan niệm của Genette, tính LVB tự xác định qua “sự hiện diện của một hoặc nhiều VB trong một VB và mối quan hệ giữa chúng”. Quan niệm này gần với quan niệm của Bakhtin về sự tương tác giữa các thể loại văn học.
Bakhtin quan niệm: “Tiểu thuyết cho phép đưa vào, lắp ghép vào trong nó nhiều thể loại khác nhau, cả những thể loại nghệ thuật (những truyện ngắn, những bài thơ trữ tình, những trường ca, những màn kịch nói,.) lẫn những thể loại phi nghệ thuật (các thể văn đời sống hàng ngày, văn hùng biện, khoa học, tôn giáo,.), về nguyên tắc bất cứ thể loại nào cũng có thể được đưa vào cấu trúc tiểu thuyết và trên thực tế rất khó tìm được một thể loại nào chưa bao giờ và chưa được ai đưa vào tiểu thuyết” [9, tr. Theo đó, tiểu thuyết có thể thu nạp nhiều thể loại, nhiều VB khác nhau trong một chỉnh thể tác phẩm. Ví dụ như sự xâm nhập của truyện ngắn trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã tham gia vào kiến trúc của VB, tạo cho VB nhiều không gian nhỏ làm nên tiểu tự sự, góp phần cho bức tranh đời sống hiện lên đa chiều kích, bao quát được nhiều vấn đề của cuộc sống đương đại. Trong phạm vi của luận án, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các kĩ thuật giễu nhại, tương tác thể loại và viết lại.
Bởi đây là các vấn đề tiêu biểu, đặc trưng nhất của tính LVB gắn với hai khuynh hướng chính của tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Vấn đề nghiên cứu lý thuyết Liên văn bản Những công trình nghiên cứu lý thuyết LVB hiện có trên thế giới số lượng rất lớn, rất đa dạng, khó có thể mô tả đầy đủ. Vì thế ở đây chúng tôi chỉ nêu một số đường hướng chính. Nhiệm vụ trọng tâm của luận án là phân tích văn học Việt Nam, cụ thể là tiểu thuyết đương đại Việt Nam.
Vì vậy, ở chương này, luận án tập trung vào một số tư tưởng về tính LVB, các nghiên cứu LVB của các nhà lý luận thế giới và tổng thuật vận dụng lý thuyết LVB ở Việt Nam trong mấy thập niên gần đây. Tình hình dịch thuật lý thuyết liên văn bản Hiện nay, rất nhiều công trình trực tiếp đặt ra vấn đề tính LVB và ứng dụng nó trong nghiên cứu văn học vẫn chưa được giới thiệu chu đáo ở Việt Nam chẳng hạn như công trình quan trọng hàng đầu của Kristeva – Từ, Đối thoại và Tiểu thuyết – nơi thuật ngữ LVB lần đầu tiên xuất hiện vẫn chưa được dịch. Các công trình quan trọng khác có bàn trực tiếp đến thuyết LVB của R. cũng ít được giới thiệu, tìm hiểu.
Với nỗ lực của một số nhà nghiên cứu, dịch thuật, hiện chúng ta có một số bản dịch sau đây giới thiệu và phân tích một vài điểm lí thuyết LVB. Đầu tiên, có thể kể đến bài nghiên cứu của tác giả người Nga do Ngân Xuyên dịch – L. Rjanskaya, LVB – sự xuất hiện của khái niệm về lịch sử và lí thuyết của vấn đề (Nghiên cứu văn học, số 11/2007). Bài nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề nguồn gốc và những cách hiểu về khái niệm LVB: khái niệm LVB là môt khái niệm “động”, nội hàm của khái niệm có thể biến đổi tùy thuộc vào “các lập trường triết học và nghiên cứu của các nhà khoa học.
Có hai quan niệm về tính LVB: LVB được xem như là một thủ pháp văn học, và LVB được xem như là “thuộc tính bản thể của mọi VB”, cách hiểu thứ hai này là cách hiểu gắn liền với Kristéva trong công trình Từ, Đối thoại và Tiểu thuyết. Quan niệm về tính LVB gắn liền với quan niệm về VB và vai trò của độc giả bởi “LVB nhằm tới sự tương đối hóa các mã văn hóa, tương đối hóa tính thống nhất và toàn vẹn của chúng, và tới sự tước bỏ ý nghĩa tuyệt đối của chúng… Ý nghĩa là linh 22 hoạt, sự tương tác sống động của các VB sinh ra những nghĩa mới của chúng. Người viết đã đưa ra dẫn chứng các VB văn học Anh và có sự minh giải để cho thấy “sự tương quan giữa VB của mình và VB của người khác” [106, tr.199] trong một số sáng tác của Magaret Dabble, Anita Brookner, A.S Byett, Bayette, Emma Tennant, W. Golding, Graham Swift,… Từ đó người viết khẳng định rằng: “Việc hiểu hạn hẹp thuật ngữ chỉ như là mối tương quan cấu trúc của hai hay một số VB có tác giả hoặc việc chuyển dịch tư tưởng LVB như là hình ảnh thế giới sang các thời đại khác sẽ gây khó khăn cho việc sử dụng và tiếp nhận khái niệm” [106, tr.