phần mở đầu, kết luận, thƣ mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung chính của Luận án đƣợc trình bày trong 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Sự hƣng thịnh của thơ khuê phụ đời Đƣờng 10 Chƣơng 3: Chủ thể trữ tình trong thơ khuê phụ đời Đƣờng Chƣơng 4: Nghệ thuật thể hiện nhân vật trong thơ khuê phụ đời Đƣờng Quy ước trong luận án: - Trích dẫn tài liệu tham khảo: Trong ngoặc vuông, đứng đầu là số thứ tự tài liệu tham khảo trong Thƣ mục tài liệu tham khảo của luận án, sau là số trang đƣợc trích dẫn, ví dụ [2. - Phụ lục luận án: Những bài thơ đã đƣợc dịch và giới thiệu ở Việt Nam chúng tôi chỉ thống kê tên bài và tác giả, những bài chƣa dịch sang tiếng Việt chúng tôi trích nguyên văn chữ Hán và phần Tạm dịch do tác giả luận án thu thập và tham khảo, phiên dịch sang tiếng Việt. Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu thơ khuê phụ ở Trung Quốc 1.
Về tuyển thơ Việc nghiên cứu thơ khuê phụ đã bắt đầu manh nha từ thời Đƣờng, thông qua việc tuyển thơ – phƣơng pháp nghiên cứu nguyên thủy nhất của Đƣờng thi học. Tuyển tập thơ đầu tiên có liên quan đến thơ khuê phụ là bản Dao trì tân vịnh của Sái Tỉnh Phƣợng ghi chép lại thơ của phụ nữ. Về sau trong các tuyển tập thơ Đƣờng dù lớn hay nhỏ đều ít nhiều có tuyển thơ khuê phụ, cố nhiên chỉ là những bài thơ riêng lẻ nhƣ là dẫn chứng tiêu biểu cho một thể thơ, một giai đoạn hay một nhà thơ cụ thể nào đó, chẳng hạn nhƣ Tập thơ Nhạc phủ của Quách Mậu Sảnh đời nhà Tống có tuyển bài thơ Trường tương tư của Lý Bạch, Đường thi tam bách thủ, Hoành Đƣờng Thoái Sĩ tuyển chọn, Trần Uyển Tuấn bổ chú tuyển 19 bài thơ khuê phụ (theo thể thơ)… Đây đều là những bài thơ nổi tiếng, không chỉ là đại diện tiêu biểu cho mảng thơ khuê phụ mà còn là đại diện tiêu biểu của Toàn Đường thi và cũng là những tác phẩm có giá trị trong sự nghiệp sáng tác của nhà thơ. Sau này việc biên tuyển càng cụ thể, phong phú hơn, hoặc theo thể thơ nhƣ cuốn Đường thi giám thưởng từ điển, Lƣu Học Khải, Viên Hành Bái (刘学凱, 袁行霈 , 唐诗 鉴赏辞书, 2007 ) có khoảng 30 bài thơ khuê phụ; hoặc theo đề tài, giai đoạn phát triển, 11 theo nội dung, theo tác giả…Chẳng hạn, cuốn Đường thi giám thưởng từ điển do tác giả Tôn Dục Hoa chủ biên năm 1996 (孙育华 (1996), 唐诗鉴赏辞书),dù không có tên đề tài thơ khuê phụ nhƣng có thể tìm thấy một số bài thơ khuê phụ dƣới tên đề tài khuê tình và khuê oán.
Trong Khuê tình, các tác giả dẫn bài Trường tương tư của Lý Bạch; Giang lâu khúc của Lý Hạ, đồng thời cũng cho rằng những bài thơ thể hiện tình cảm thƣơng nhớ của những ngƣời vợ ngƣời buôn bán nhƣ Trường Can hành của Lý Bạch; La cống khúc tam thủ của Lƣu Thái Xuân; Tỳ bà hành của Bạch Cƣ Dị; Nam Lăng đạo trung của Đỗ Phủ…cũng là thơ tình khuê phụ. Thơ Khuê oán các tác giả giới thiệu bài Khuê oán của Vƣơng Xƣơng Linh; Giang Nam khúc của Vu Cô.Trong bộ Trung Quốc lịch đại danh thi phân loại đại điển tập 3, tập 4, các tác giả Hồ Quang Chu, Chu Mãn Giang (胡光舟, 周滿江,中国历代名诗分类大典) cũng tuyển thơ của các nhà thơ nổi tiếng theo đề tài qua các triều đại, trong đó có mảng thơ tống biệt, biên tái, vịnh vật…, không có tên mảng thơ khuê phụ. Những bài thơ về hình tƣợng khuê phụ lại xuất hiện trong các mảng đề tài nhỏ nhƣ: Tư phụ; Khuê tình; Phu phụ; Khí phụ. Mỗi đề tài giới thiệu khoảng trên dƣới mƣời bài thơ của các triều đại.
Ở đề tài Khuê tình tác giả tuyển chọn những bài thơ nói về tình cảm nơi khuê phòng: tâm trạng nhớ nhung, oán hờn…của những ngƣời phụ nữ (thiếu nữ chƣa lấy chồng và cả phụ nữ đã có chồng). Ở đề tài Phu phụ (vợ chồng), có tuyển những bài nhƣ Trường Can hành nhị thủ của Lý Bạch, Nguyệt Dạ của Đỗ Phủ (là những bài thơ đã khắc họa rất thành công hình tƣợng nhân vật khuê phụ). Còn ở đề tài Tư phụ (những ngƣời phụ nữ nhớ nhung) có thể thấy nhiều bài thơ về hình tƣợng khuê phụ không chỉ có tâm trạng tư (nhớ) mà còn có cả sầu, oán, nhƣ: Xuân oán của Kim Xƣơng Tự; Tử Dạ thu ca, Ô dạ đề của Lý Bạch; Giang Nam khúc của Lý Ích; La Cống khúc tam thủ của Lƣu Thái Xuân…Cách phân chia này, thực ra mới chỉ căn cứ sự liên kết mặt ngoài chứ chƣa dựa vào sự thống nhất, tƣơng đồng bên trong, bề sâu nội dung tƣ tƣởng giữa các bài thơ. Tuy vậy, các biên tuyển vẫn có thể tạo “hạ tầng cơ sở” cho việc nghiên cứu nội dung và nghệ thuật thơ.
Về tên gọi Ngay từ giai đoạn sơ khai nhất của Đường thi học, các nhà nghiên cứu đời Đƣờng đã chú ý đến những bài thơ miêu tả hình tƣợng nhân vật khuê phụ khi lựa chọn 12 cho những tuyển thơ hoặc những tác phẩm chuyên ghi chép các tích, bình thơ, phẩm vựng. Tuy có nhiều tuyển thơ, bình thơ, chú giải về thơ Đƣờng nhƣng ở giai đoạn này vẫn chƣa có tác phẩm nào gọi tên mảng thơ này, việc tuyển chọn chủ yếu theo kiểu ấn tƣợng, cảm tính về những bài thơ riêng lẻ. Trên cơ sở khảo cứu những tƣ liệu hiện có, chúng tôi cho rằng, những bài thơ miêu tả tâm tư tình cảm của những người phụ nữ sống trong cảnh tương tư sầu khổ, một mình nơi phòng vắng đƣợc bàn đến lần đầu tiên với tƣ cách là một mảng thơ của thơ Đƣờng là trong cuốn Đường thi giải của tác giả Đƣờng Nhữ Tuần đời nhà Minh. Đây là tác phẩm phân tích, lý giải, hƣớng dẫn thƣởng thức nhiều bài thơ Đƣờng khá lý thú, làm cơ sở cho nhiều chuyên luận nghiên cứu sâu về thơ Đƣờng sau này.
Trong tập 26, tác giả nhận định: ―Đường nhân khuê oán, đại để giai chinh phụ chi từ‖ (thơ khuê oán của ngƣời đời Đƣờng chủ yếu là về lời của ngƣời chinh phụ) [Dẫn 129. Trƣớc đó, hai từ khuê oán (闺怨) đã xuất hiện lần đầu tiên trong các nhan đề thơ của văn nhân Nam triều nhƣ Khuê oán thi của Giang Yêm hoặc trong câu nói của Võ Tắc Thiên ở Tô Thị chức cẩm hồi văn kí (Toàn Đường văn): “Cẩm tự hồi văn, thịnh kiến truyền tả, thị cận đại khuê oán chi tông chỉ, thuộc văn chi sĩ giảm quy kính yên” (Hồi văn chữ gấm, lƣu truyền rộng rãi, nay thay lời oán than của ngƣời khuê phòng, phó thác vào chữ nhà thơ, bớt đi vẻ sáng đẹp). Nhƣ vậy, có thể khuê oán đã là một khái niệm quen thuộc của ngƣời Trung Quốc cổ đại. Mảng thơ đời Đƣờng có tên gọi khuê oán tiếp tục đƣợc nhắc đến nhiều trong các chuyên luận nghiên cứu chuyên sâu về thơ Đƣờng từ sau Ngũ tứ, nhất là thời gian gần đây.
Năm 1986, tác giả Lƣu Hồng Kì có bài viết Lược luận quỹ đạo phát triển của việc truyền bá khuê oán thi thời Đường (刘红旗 (1986), 唐代闺怨诗传播发展轨迹略 论, 东南传播); Từ Úy với bài viết Ba vấn đề của thơ khuê oán đời Đường (1996); (徐 蔚, 唐代闺怨诗三题, 福建师范大福清分校学报); Từ Úy, Thơ khuê oán tình ý rung động lòng người(2003)(徐蔚, 情意动人的闺怨诗语文世界, 高中版); Lƣu Khiết bàn đến khuê oán thi trong bài Vẻ đẹp u oán của cung oán thi và khuê oán thi thời Đường 13 (刘洁 (2001), 唐代宫怨诗和闺怨诗的幽怨美, 西南师范大学报第 38 卷). Các bài viết này đều khẳng định thơ khuê oán (闺怨诗) đã có từ thời đại Kinh thi, thịnh hành trong thời Nam Bắc triều với những thành tựu sáng tác của văn nhân và đặc biệt hƣng thịnh ở thời Đƣờng. Tuy nhiên, vì số lƣợng dẫn chứng thơ không nhiều (chủ yếu là về hình tƣợng ngƣời chinh phụ) nên chúng tôi chƣa xác định đƣợc hết các đối tƣợng mà các tác giả đƣa vào phạm vi miêu tả của thơ khuê oán. Đến cuốn Luận về các loại đề tài trong thơ Đường (2005)(刘洁, 唐诗中题材类论, 北京民族出版社)tác giả Lƣu Khiết đã chỉ rõ đối tƣợng miêu tả của thơ khuê oán là: chinh nhân phụ (征人妇)(vợ của những ngƣời lính đi chinh chiến xa), thƣơng nhân phụ (商人妇)(vợ của ngƣời buôn bán), hoạn phụ (宦妇)(vợ của ngƣời làm quan), du tử phụ (遊子妇)(vợ của ngƣời đi chơi xa, du ngoạn đó đây) và khí phụ (弃妇)(ngƣời vợ bị ruồng bỏ).
Cuốn Văn học sử Trung Quốc do Viên Hành Bái chủ biên (2006) (袁行霈, 中国文学史)cũng nhiều lần nhắc đến khuê oán song song cùng các mảng đề tài khác nhƣ tống biệt, biên tái, sơn thủy điền viên…Các tác giả cũng khẳng định mảng thơ này không phải mới xuất hiện ở thời Đƣờng, nó đã bắt đầu thịnh hành từ thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều. Chẳng hạn nhƣ khi xem xét thành tựu văn học của Tào Thực, đƣợc phân chia thành bốn loại đề tài, trong đó có một loại là “khuê oán thi” [159. Mã Duệ trong bài Vô ngã – Chi ngã, Suy nghĩ về chủ nghĩa nữ tính trong hiện tượng nói hộ ở thơ trữ tình cổ điển Trung Quốc (1999)(马睿, 无成之成 - 对中国古典抒情诗中代言体现象的女性主义思考 ) cũng nhắc đến một mảng thơ rất quan trọng là khuê oán thi. Tác giả Cổ Phi, Thẩm Văn Phàm trong bài Lược bàn thơ khuê oán biên tái Đông Bắc thời Đường từ một số sáng tác của Lý Bạch (2010)(鼓飞, 沈文凡 , 略论唐代东北边塞闺怨诗 -从李白的几首创 作谈起 ) lại cho rằng “có một phần tƣơng đối lớn thơ biên tái dụng ý miêu tả những tâm tƣ tình cảm của ngƣời tƣ phụ nơi khuê phòng nhớ nhung ngƣời nơi biên thùy, căm thù chiến tranh, phong cách thơ ai oán, uyển chuyển…”(Chẳng hạn nhƣ Bắc phong 14 hành, Đại tặng viễn của Lý Bạch) là “thơ khuê oán biên tái‖ nhƣ nhận định của tác giả Nhậm Văn Nguyên trong cuốn Giải thích văn hóa về thơ biên tái đời Đường [122.
Chúng tôi nhận thấy phần thơ gọi là khuê oán biên tái (边塞闺怨诗) này thƣờng chủ yếu miêu tả rất thành công hình tƣợng ngƣời vợ chinh nhân, vì vậy một số ngƣời đã xếp bộ phận thơ này vào mảng thơ khuê oán, có ngƣời lại xếp vào mảng thơ tư phụ hoặc chinh phụ. Tác giả Trƣơng Văn Sinh trong bài viết Hình tượng người phụ nữ trong thơ Đường (1992)(张文生 , 唐诗中的女性形象 , 錦州师院学报, 第 2 期)khi bàn về hình tƣợng ngƣời vợ nhớ chồng (tƣ phụ) cũng xếp những bài thơ miêu tả hình tƣợng nhân vật này vào mảng thơ khuê oán.