Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Thơ khuê phụ đời Đường" do nghiên cứu sinh Lương Huyền Thanh thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào năm 2014, thuộc chuyên ngành Văn học Trung Quốc (mã số: 62.0246).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong kho tàng Đường thi, bên cạnh các mảng đề tài quen thuộc như biên tái, sơn thủy, điền viên, tống biệt hay vịnh vật, mảng thơ viết về người khuê phụ phản ánh cuộc sống của nhóm phụ nữ sống trong cảnh tương tư ly biệt với chồng giữ một vị trí đáng kể. Tại Trung Quốc, mảng thơ này đã được quan tâm nhưng chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như nội hàm khái niệm khoa học (thường bị phân tán dưới các định danh như khuê oán, khuê tình, tư phụ). Tại Việt Nam, thơ viết về người khuê phụ với tư cách một mảng đề tài độc lập của thơ Đường chưa được đầu tư nghiên cứu thích đáng. Ngoài ra, việc nghiên cứu mảng thơ này còn tạo cơ sở khoa học để tìm hiểu sâu hơn sự tiếp nhận và ảnh hưởng của Đường thi đối với văn học trung đại Việt Nam, tiêu biểu là tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, đồng thời bổ sung kiến thức phục vụ thực tiễn giảng dạy thơ Đường trong hệ thống giáo dục đại học và phổ thông.
Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định theo 3 nội dung cụ thể:
- Kiến giải những nhân tố đặc thù tạo nên sự hưng thịnh của thơ khuê phụ đời Đường.
- Nghiên cứu những đặc trưng nổi bật về nội dung và nghệ thuật của mảng thơ khuê phụ để khẳng định vị trí và dấu ấn đặc biệt của mảng thơ này trong toàn cảnh thơ Đường.
- Khẳng định sự trưởng thành và tiến bộ trong nhận thức và tình cảm của thi nhân đời Đường về con người và cuộc đời qua việc khám phá thế giới nội tâm với nhiều khát vọng và ẩn ức của những người khuê phụ.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hình tượng "khuê phụ" (闺妇). Theo nguyên nghĩa, "khuê" chỉ phòng ở của con gái, biểu tượng cho giới hạn không gian sống và quan hệ vợ chồng; "phụ" chỉ người con gái đã lấy chồng. Luận án xác định đối tượng miêu tả là những người phụ nữ đã kết hôn nhưng phải sống cô đơn nơi phòng vắng do hoàn cảnh vợ chồng ly biệt hoặc bị chồng ruồng bỏ. Nhân vật khuê phụ được phân lập thành 5 nhóm cụ thể:
- Chinh phụ (征妇): Vợ của người lính đi làm binh dịch nơi biên ải.
- Thương nhân phụ (商人妇): Vợ của người buôn bán xa nhà.
- Hoạn phụ (宦妇): Vợ của người làm quan phải đi nhậm chức hoặc bị biếm trích xa xôi.
- Du tử phụ (遊子妇): Vợ của người thích ngao du sơn thủy, kết giao bạn bè, theo đuổi lý tưởng.
- Khí phụ (弃妇): Người vợ bị chồng bội bạc, bỏ rơi trong cô đơn và tủi sầu.
Luận án phân biệt rạch ròi khái niệm "thơ khuê phụ" với các khái niệm lân cận:
- Khác với "khuê oán" (chủ thể bao gồm cả thiếu nữ chưa chồng như trong Xuân nữ oán của Tưởng Duy Hàn; nguyên cớ oán đa dạng).
- Khác với "khuê tình" (miêu tả tình cảm chốn khuê phòng của cả thiếu nữ lẫn phụ nữ có chồng).
- Khác với "tư phụ thi" (chỉ giới hạn ở tâm trạng nhớ nhung chồng đi xa).
- Khác với "cung oán thi" (nhân vật là cung nữ, hoàng hậu; không gian cung cấm khép kín vĩnh viễn; nguyên nhân bi kịch xuất phát từ việc tranh đoạt sự sủng ái của duy nhất một đối tượng là hoàng đế).
Về phạm vi văn bản khảo sát, luận án thu thập và khảo cứu 234 bài thơ về hình tượng khuê phụ từ các tuyển tập thơ Đường dịch sang tiếng Việt (như của Nam Trân, Trần Trọng San, Lê Nguyễn Lưu, Đỗ Bằng Đoàn, Bùi Khánh Đản, Ngô Văn Phú) cùng các tài liệu nguyên tác chữ Hán trong Toàn Đường thi (Bành Định Cầu chủ biên, 1960) và Đường thi giám thưởng từ điển (Lưu Học Khải, Viên Hành Bái bổ sung, sửa chữa năm 2007).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Vấn đề thơ khuê phụ đời Đường được luận án điểm lại qua các giai đoạn nghiên cứu tại Trung Quốc và Việt Nam.
Tại Trung Quốc, nghiên cứu manh nha từ thời Đường thông qua hoạt động tuyển thơ, mở đầu với bản Dao trì tân vịnh của Sái Tỉnh Phượng ghi chép thơ của phụ nữ. Thời Tống có Nhạc phủ thi tập của Quách Mậu Sảnh (tuyển Trường tương tư của Lý Bạch). Thời Thanh có Đường thi tam bách thủ do Hoành Đường Thoái Sĩ tuyển chọn, Trần Uyển Tuấn bổ chú (tuyển 19 bài thơ khuê phụ). Ở thời hiện đại, các từ điển và tổng tập tiếp tục tuyển chọn mảng đề tài này dưới các tên gọi khác nhau: Đường thi giám thưởng từ điển (Lưu Học Khải, Viên Hành Bái, 2007) tuyển khoảng 30 bài; cuốn cùng tên do Tôn Dục Hoa chủ biên (1996) xếp các bài như Trường tương tư, Trường Can hành của Lý Bạch, Giang lâu khúc của Lý Hạ, Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị vào đề tài khuê tình và khuê oán; bộ Trung Quốc lịch đại danh thi phân loại đại điển (tập 3, 4) của Hồ Quang Chu và Chu Mãn Giang phân chia thành các đề tài nhỏ: Khuê tình, Tư phụ, Phu phụ, Khí phụ.
Về mặt danh xưng học thuật, Đường Nhữ Tuần thời Minh trong cuốn Đường thi giải (tập 26) là người đầu tiên bàn đến mảng thơ này với nhận định: "Đường nhân khuê oán, đại để giai chinh phụ chi từ". Từ sau phong trào Ngũ Tứ và đặc biệt từ thập niên 1980 trở lại đây, nhiều công trình đi sâu nghiên cứu:
- Nghiên cứu về khuê oán và bối cảnh: Lưu Hồng Kỳ (1986, 2009) khảo sát quỹ đạo truyền bá và nội dung khuê oán thi; Từ Úy (1996, 2003) nêu ba vấn đề của thơ khuê oán và tính chất "bi mỹ"; Lưu Khiết (2001, 2005) khảo sát vẻ đẹp u oán và phân loại các đối tượng miêu tả trong Luận về các loại đề tài trong thơ Đường; Lý Hồng (2002) tìm hiểu thủ pháp sáng tạo và hình tượng biên tái, chinh y; Cổ Phi và Thẩm Văn Phàm (2010) bàn về thơ khuê oán biên tái của Lý Bạch.
- Nghiên cứu về tư phụ và phụ nữ: Trương Văn Sinh (1992) nghiên cứu hình tượng phụ nữ; Chu Trường Chi (1988) nghiên cứu tư phụ thi của Lý Bạch; Chu Đại Ngân (2001) khảo sát hình tượng "đảo y" (đập áo); Tư Hải Địch (2010) phân tích hình tượng tư phụ qua các thời kỳ Sơ, Thịnh, Trung, Vãn Đường; Triệu Hân (2010) khảo cứu cuộc sống người chinh phụ; La Gia Tuệ (2006) nghiên cứu tâm sinh lý phụ nữ cổ đại; Điền Miêu (2005) nghiên cứu động tác soi gương ("lãm kính").
- Đánh giá tác giả tiêu biểu: Cố Lân (Phê điểm Đường âm), Chương Bồi Hoàn và Lạc Ngọc Minh (Trung Quốc văn học sử), Dư Quan Anh, Tiền Chung Thư, Phạm Ninh (Lịch sử văn học Trung Quốc, 1988) đã phân tích thơ viết về phụ nữ của Vương Xương Linh, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương Kiến, Trương Tịch, Lưu Hy Di, Vương Bột.
Tại Việt Nam, chưa có tuyển tập chuyên biệt về thơ khuê phụ, song có 95 bài về hình tượng này đã được dịch và giới thiệu. Cuốn Phiên dịch và khảo cứu thơ Đường của Ngô Tất Tố (1940) dịch và giải nghĩa 12 bài. Các học giả và dịch giả như Nam Trân, Trần Trọng San, Trần Trọng Kim, Khương Hữu Dụng, Ngô Văn Phú, Lê Nguyễn Lưu, Đỗ Bằng Đoàn, Bùi Khánh Đản, Nguyễn Hà, Tản Đà, Trương Đình Tín đều có tuyển chọn thơ khuê phụ.
Sự tương quan về số lượng bài thơ giữa các đề tài trong một số tuyển tập tại Việt Nam được luận án thống kê như sau:
| Tên sách / Tuyển tập |
Đề tài Tống biệt |
Đề tài Biên tái |
Đề tài Khuê phụ |
| Đường thi tuyển dịch (Lê Nguyễn Lưu) |
115 bài |
32 bài |
45 bài |
| Đường thi trích dịch (Đỗ Bằng Đoàn, Bùi Khánh Đản) |
70 bài |
28 bài |
36 bài |
| Đường thi (Trần Trọng Kim) |
27 bài |
8 bài |
18 bài |
| Đường thi tứ tuyệt (Nguyễn Hà) |
19 bài |
14 bài |
13 bài |
Về mặt nghiên cứu nội dung và ảnh hưởng, dấu ấn thơ khuê phụ đã xuất hiện từ văn học trung đại qua sáng tác của Trần Nhân Tông (Khuê oán), Nguyễn Bỉnh Khiêm (Thu thanh), Nguyễn Du (Truyện Kiều), đặc biệt là Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn (bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm). Các nhà nghiên cứu Phan Huy Chú, Lại Ngọc Cang, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, và nhất là Nguyễn Khắc Phi đã chỉ ra mối liên hệ thi pháp giữa Chinh phụ ngâm và thơ ca cổ Trung Quốc, trong đó có thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ. Lê Thị Anh (Thơ Mới với Thơ Đường) khảo sát sự tiếp thu hình ảnh thơ khuê phụ trong phong trào Thơ Mới. Các công trình của Nguyễn Sĩ Đại, Nguyễn Hiến Lê, Trương Đình Tín, Trần Trọng San, Mai Thị Thanh Loan (2006, đề tài Biệt ly trong thơ Đường), Nông Thị Nhâm (2009, luận văn Thơ khuê oán đời Đường, khảo sát 45 bài) đã đề cập đến các khía cạnh bi thương, ly biệt và biểu tượng nghệ thuật.
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là: hệ thống hóa toàn diện mảng thơ khuê phụ đời Đường từ góc độ thể loại và thi pháp học; khắc phục sự phân tán, chồng chéo trong việc định danh (khuê oán, khuê tình, tư phụ); mở rộng quy mô tư liệu khảo sát lên 234 bài thơ; đi sâu phân tích cơ chế chủ thể trữ tình nhập vai ("nam tử tác khuê âm") và thi pháp xây dựng nhân vật.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án phối hợp hai hướng tiếp cận chủ đạo:
- Cách tiếp cận thi pháp học (chủ đạo): Miêu tả đặc điểm của các phương thức, phương tiện biểu hiện nhân vật, thấu thị hình tượng nghệ thuật nhằm nhận diện tư tưởng, cảm xúc của thi nhân.
- Cách tiếp cận văn hóa: Giải mã các hình tượng và tâm thức nghệ thuật trong thơ khuê phụ từ các mã văn hóa truyền thống Trung Hoa.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức của văn hóa học, sử học, tâm lý học và xã hội học để phân tích sâu nguyên nhân lịch sử, bối cảnh thời đại và tâm lý xã hội đời Đường chi phối số phận người khuê phụ.
- Phương pháp thống kê, phân loại: Tập hợp, phân loại 234 bài thơ theo hệ thống hình tượng nhân vật (chinh phụ, thương nhân phụ, hoạn phụ, du tử phụ, khí phụ), các mô thức tâm trạng và hệ thống thi ảnh, biểu tượng nghệ thuật.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích các văn bản thơ Hán văn và bản dịch, kết hợp tổng hợp các nguồn tư liệu lịch sử, văn học sử để hình thành các nhận định khoa học.
- Phương pháp so sánh: So sánh lịch đại giữa thơ khuê phụ đời Đường với cội nguồn Kinh thi, Nhạc phủ thời Tần Hán, văn học Ngụy Tấn Nam Bắc triều; so sánh đồng đại giữa các tác giả trong thời Đường; so sánh liên văn học với sự tiếp nhận thơ khuê phụ trong văn học trung đại Việt Nam.
Nguồn tư liệu nghiên cứu: Văn bản 234 bài thơ khuê phụ được rút từ các tổng tập Toàn Đường thi, Đường thi giám thưởng từ điển, cùng các công trình tuyển dịch Đường thi uy tín tại Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương này dành toàn bộ dung lượng để tổng thuật lịch sử nghiên cứu thơ khuê phụ tại Trung Quốc và Việt Nam. Tác giả chỉ ra tiến trình chuyển biến từ việc tuyển thơ mang tính ấn tượng, cảm tính thời cổ trung đại sang việc nghiên cứu khoa học chuyên sâu từ thế kỷ XX đến nay. Tác giả luận giải cơ sở lý luận để sử dụng định danh "thơ khuê phụ" thay cho các khái niệm có nội hàm chưa bao quát hoặc mang tính bộ phận như "khuê oán", "khuê tình", "tư phụ", đồng thời xác lập vị trí của đề tài trong mối quan hệ với toàn bộ diện mạo Đường thi và văn học trung đại Việt Nam.
Chương 2: Sự hưng thịnh của thơ khuê phụ đời Đường
Chương 2 luận giải các tiền đề lịch sử, xã hội, văn hóa và văn học dẫn đến sự phát triển của mảng thơ khuê phụ:
- Hoàn cảnh thời đại và các nhân tố tạo nên cảnh ngộ ly biệt:
- Chế độ khoa cử và con đường sĩ hoạn: Nhà Đường dùng khoa cử kén chọn kẻ sĩ, mở ra cơ hội tiến thân ngoài quý tộc địa phương (Đường Thái Tông từng đắc ý: "Thiên hạ anh hùng, tận nhập ngô cấu trung hĩ"). Tuy nhiên, con đường này buộc sĩ tử trải qua lộ trình "khổ học - mãn du - lập công", phiêu dạt xa nhà nhiều năm, đẩy người vợ trẻ vào cảnh cô độc.
- Chiến tranh biên ải và tâm lý lập công: Phong khí chuộng công danh thúc đẩy nam giới ra trận (Sầm Tham viết: "Công danh chỉ hướng mã thượng thủ, Chân chính anh hùng nhất trượng phu"). Chiến tranh triền miên biến nhiều người vợ thành chinh phụ mòn mỏi ngóng trông.
- Phong khí du ngoạn thịnh hành: Quan niệm "tứ hải giai huynh đệ", ảnh hưởng của Đạo giáo cùng quy chế thi cử đời Đường đòi hỏi kẻ sĩ phải du ngoạn khắp nơi kết giao danh sĩ để tạo lập thanh danh trước khi vào trường thi. Lý Bạch từng nuôi chí "tang bồng hồ thỉ", Đỗ Phủ từng ngao du vùng Tề Triệu suốt 8-9 năm, khiến gia đình luôn chịu cảnh phân ly.
- Hoạt động thương nghiệp phát triển: Giao thương mở rộng khiến giới thương nhân bôn tẩu khắp chốn phồn hoa, để lại người vợ đơn độc nơi quê nhà.
- Địa vị xã hội của phụ nữ và thực trạng người phụ nữ bị ruồng bỏ: Phụ nữ chịu sự ràng buộc nghiêm ngặt của "tam tòng, tứ đức", hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới trong chế độ đa thê. Văn bản Đường luật sơ nghị phản ánh sự bất bình đẳng sâu sắc qua các điều luật: quyển 14 quy định thê thiếp tự ý bỏ đi bị phạt tù 2 năm, nếu tái giá phạt tù thêm 2 năm; quyển 22 quy định chồng đánh vợ được giảm án 2 cấp so với đánh người thông thường, nhưng vợ đánh chồng bị phạt tù 1 năm, đánh trọng thương bị tăng án 2 cấp. Thực trạng đàn ông thay lòng đổi dạ khi đi xa tạo nên nhóm "khí phụ" ngày càng đông đảo.
- Điều kiện thúc đẩy: Xã hội cởi mở, dung hợp tam giáo Nho - Phật - Đạo; chức năng thơ ca chuyển biến thành phương thức giao tiếp rộng rãi trong đời sống; hiện tượng "trực từ vịnh kí, lược vô tị ẩn" (Hồng Mại ghi nhận trong Dung trai tùy bút) cho phép thi nhân thẳng thắn phơi bày những ẩn ức riêng tư chốn khuê phòng; cơ sở quần chúng thưởng thức thơ ca mở rộng (Bạch Cư Dị thuật lại trong Dữ nguyên cửu thư về việc thơ ông được ngâm vịnh khắp nơi từ sư sãi đến phụ nữ).
- Sự trưởng thành về nhận thức và tình cảm của thi nhân: Phần lớn thi nhân xuất thân từ tầng lớp trung và hạ lưu, có vốn sống thực tế phong phú (Đỗ Phủ trải qua 10 năm lưu lạc; Lý Bạch từng đến vùng biên ải U Châu năm 752; Thẩm Thuyên Kỳ nếm trải cảnh lưu đày). Thi nhân đồng cảm sâu sắc với thân phận phụ nữ, cất lên tiếng nói tố cáo bất công qua những câu thơ đầy trăn trở: Bạch Cư Dị viết: "Nhân sinh mạc tác phụ nhân thân, bách niên khổ lạc do tha nhân" (Thái Hàng lộ); Kiều Tri Chi viết: "Nhân gian trượng phu dị, thế lộ phụ nan vi" (Định tình thiên); Trương Tịch viết: "Vi nhân mạc tác nữ, tác nữ thực nan vi" (Li phụ).
- Dòng chảy tiếp nối truyền thống: Thơ khuê phụ kế thừa mạch nguồn từ Kinh thi (với 18 bài trong Quốc phong và 3 bài trong Tiểu nhã, tiêu biểu như Bá hề, Quân tử vu dịch, Cốc phong, Manh), qua dân ca Nhạc phủ thời Tần Hán (tiêu biểu như Oán ca hành), phát triển qua thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều và đạt đến sự phong phú toàn diện ở đời Đường.
Chương 3: Chủ thể trữ tình trong thơ khuê phụ đời Đường
Chương này tập trung nhận diện và phân tích đặc trưng của chủ thể trữ tình trong mối quan hệ với việc biểu hiện tư tưởng nghệ thuật:
- Hiện tượng "Nam tử tác khuê âm" (giả nữ âm): Đây là đặc điểm nổi bật nhất của thơ khuê phụ. Các nhà thơ nam giới hóa thân, nhập vai người phụ nữ nơi khuê phòng để cất lên tiếng nói tâm tình. Luận án phân tích cơ chế nhập vai: một mặt xuất phát từ sự đồng cảm chân thành đối với nỗi đau khổ của người phụ nữ; mặt khác, đây là phương thức nghệ thuật kín đáo để kẻ sĩ gửi gắm tâm sự thời cuộc, nỗi niềm bất đắc chí trên chốn quan trường hoặc tiếng nói phê phán hiện thực chiến tranh, chính trị.
- Bộ phận "Chân nữ âm": Khảo sát các sáng tác do chính phụ nữ thời Đường viết về nỗi lòng mình (như thơ của Ngư Huyền Cơ, Trần Ngọc Lan...). Luận án so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa cách thể hiện của nam thi nhân nhập vai và nữ thi nhân tự bộc lộ, từ đó làm rõ tính đa dạng của chủ thể trữ tình.
Chương 4: Nghệ thuật thể hiện nhân vật trong thơ khuê phụ đời Đường
Chương 4 phân tích các phương diện thi pháp xây dựng nhân vật khuê phụ:
- Miêu tả thế giới nội tâm với hệ thống cung bậc cảm xúc phong phú:
- Chữ "Tư" (思 - nhớ thương): Nỗi nhớ chồng da diết, triền miên gắn liền với sinh hoạt thường nhật.
- Chữ "Sầu" (愁 - buồn bã): Nỗi buồn thương cô quạnh, cảm nhận về sự trôi chảy của tuổi xuân.
- Chữ "Oán" (怨 - oán hận): Tiếng nói oán hờn kín đáo trước chiến tranh chia cắt, sự phụ bạc của nam giới và số phận bất công.
- Chữ "Hỉ" (喜 - vui mừng): Niềm vui sum họp hiếm hoi xuất hiện trong một số ít thi phẩm.
- Nghệ thuật tổ chức không gian và thời gian nghệ thuật:
- Không gian: Sự đối lập gay gắt giữa không gian hẹp, khép kín, tĩnh lặng nơi buồng khuê (khuê phòng, rèm châu, lầu cao) với không gian rộng lớn, xa xôi, đầy biến động nơi quan ải, sông nước (biên tái, Trường Giang, đường sá nghìn dặm).
- Thời gian: Thời gian tâm lý kéo dài dằng dặc; sự tương phản giữa thời gian tuần hoàn của tự nhiên (mùa xuân trở lại, lá thu rơi) với thời gian tuyến tính một đi không trở lại của tuổi thanh xuân người phụ nữ.
- Hệ thống thi ảnh và ý tượng nghệ thuật đặc trưng: Khảo sát các biểu tượng có tần suất xuất hiện cao như cây liễu (biểu tượng của ly biệt), ánh trăng (biểu tượng của tương tư, soi chiếu hai miền xa cách), tiếng đập áo trên phiến đá ("đảo y" / "châm" - biểu tượng cho công việc may áo gửi ra biên ải của người chinh phụ), gương soi ("lãm kính" - đối diện với dung nhan tàn phai), ngọn nến tàn, chim nhạn đưa thư.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận văn học:
- Luận án xác lập một hệ thống khái niệm khoa học chuẩn xác về "thơ khuê phụ", chỉ ra sự khác biệt về mặt loại hình giữa thơ khuê phụ với thơ khuê oán, thơ khuê tình, thơ tư phụ và thơ cung oán.
- Luận án phân loại và làm sáng tỏ diện mạo 5 nhóm đối tượng người vợ trong thơ khuê phụ đời Đường (chinh phụ, thương nhân phụ, hoạn phụ, du tử phụ, khí phụ), vượt qua cách tiếp cận đơn nhất trước đây vốn chỉ tập trung vào hình tượng người chinh phụ.
- Luận giải cơ chế thi pháp của hiện tượng "nam tử tác khuê âm", làm rõ mối liên hệ giữa việc nhập vai thể hiện tâm trạng phụ nữ với việc phản ánh các vấn đề hiện thực và tư tưởng của trí thức thời Đường.
Về mặt thực tiễn văn học sử:
- Luận án cung cấp một bức tranh toàn cảnh, có hệ thống về mảng thơ khuê phụ đời Đường qua việc khảo cứu 234 bài thơ, làm rõ các nhân tố lịch sử, xã hội, luật pháp và văn hóa tạo nên sự hưng thịnh của đề tài này.
- Luận án cung cấp căn cứ tư liệu và góc nhìn so sánh để nghiên cứu mảng đề tài phụ nữ, sự tiếp nhận thi pháp thơ Đường trong văn học trung đại Việt Nam, đặc biệt là kiệt tác Chinh phụ ngâm.
- Đóng góp nguồn tư liệu văn bản và các kiến giải chuyên sâu phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu, giảng dạy học phần Văn học Trung Quốc và văn học so sánh tại các trường đại học, cao đẳng.
Về kiến nghị và đề xuất:
- Luận án đề xuất việc đưa mảng thơ khuê phụ vào chương trình giảng dạy Đường thi như một bộ phận đề tài độc lập, bình đẳng với các mảng thơ biên tái, sơn thủy, điền viên.
- Đề xuất mở rộng các nghiên cứu liên ngành văn học - văn hóa - giới tính (gender studies) khi tiếp cận các hiện tượng văn học cổ điển phương Đông.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Do quy mô khổng lồ của Toàn Đường thi (gần 5 vạn bài thơ của hơn 2.000 tác giả), luận án chưa thể bao quát toàn bộ các sáng tác liên quan mà tập trung khảo cứu trên ngữ liệu đại diện gồm 234 bài thơ.
- Một số bài thơ tiếng Hán chưa có bản dịch chính thức tại Việt Nam, tác giả phải tự thu thập và tạm dịch, do đó mức độ phổ biến của ngữ liệu đối với độc giả trong nước còn có giới hạn nhất định.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng diện khảo sát ngữ liệu trên toàn bộ kho tàng Toàn Đường thi và từ khúc đời Đường - Ngũ Đại.
- Triển khai các công trình nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa thơ khuê phụ đời Đường với khúc ngâm phụ nữ trong văn học trung đại Việt Nam (Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc) và thơ từ viết về phụ nữ thời Tống.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học, Văn hóa học và Trung Quốc học: Cung cấp khung lý thuyết thi pháp học thể loại, phương pháp tiếp cận văn hóa và nguồn ngữ liệu 234 bài thơ được khảo cứu hệ thống.
- Giảng viên đại học, cao đẳng và giáo viên trung học phổ thông: Cung cấp kiến thức chuyên sâu và tư liệu phục vụ giảng dạy các tác phẩm Đường thi, các bài thơ tứ tuyệt viết về phụ nữ (Khuê oán của Vương Xương Linh, Xuân tứ của Lý Bạch) cũng như giảng dạy Chinh phụ ngâm.
- Các nhà nghiên cứu văn học so sánh: Cung cấp cơ sở đối sánh về loại hình nhân vật người vợ trong chế độ phong kiến phương Đông.
Câu hỏi thường gặp
-
Khái niệm "thơ khuê phụ" trong luận án được phân biệt với "thơ cung oán" như thế nào?
Nhân vật của thơ khuê phụ là những người phụ nữ đã có chồng trong xã hội (chồng là lính, thương nhân, quan lại, du tử), không gian buồng khuê tuy chật hẹp nhưng là không gian mở, vẫn có manh mối liên kết và hy vọng đoàn tụ với thế giới bên ngoài; nguyên nhân đau khổ là sự ly biệt lứa đôi hoặc bị chồng ruồng bỏ. Ngược lại, nhân vật của thơ cung oán là cung nữ, phi tần; không gian cung cấm là thế giới khép kín vĩnh viễn của thiên tử; bi kịch bắt nguồn từ việc tranh đoạt sự sủng ái của duy nhất một người là nhà vua.
-
Có bao nhiêu nhóm hình tượng nhân vật chính trong thơ khuê phụ được luận án xác định?
Luận án xác lập 5 nhóm hình tượng: Chinh phụ (vợ người lính biên ải), Thương nhân phụ (vợ người buôn bán xa), Hoạn phụ (vợ quan chức đi nhậm chức hoặc bị biếm trích), Du tử phụ (vợ người đi du ngoạn, kết giao bốn phương) và Khí phụ (người vợ bị chồng bỏ rơi, phụ bạc).
-
Theo văn bản luận án, các quy định nào trong Đường luật phản ánh sự bất bình đẳng đối với phụ nữ?
Luận án dẫn chứng văn bản Đường luật sơ nghị: tại quyển 14, luật không định tội chồng bỏ vợ nhưng cấm vợ bỏ chồng, quy định "thê thiếp tự ý bỏ đi, tù hai năm, vì thế mà tái giá, tù thêm hai năm nữa"; tại quyển 22, luật quy định chồng đánh vợ được giảm án 2 cấp so với đánh người thông thường, nhưng vợ đánh chồng bị xử tù 1 năm, nếu đánh trọng thương phải tăng án thêm 2 cấp.
-
Quy mô ngữ liệu khảo sát của luận án là bao nhiêu tác phẩm?
Luận án khảo cứu tổng cộng 234 bài thơ về hình tượng khuê phụ, trong đó có 95 bài đã được dịch và giới thiệu tại Việt Nam; phần còn lại được khảo sát trực tiếp từ các tổng tập chữ Hán như Toàn Đường thi và Đường thi giám thưởng từ điển.
-
Thuật ngữ "nam tử tác khuê âm" phản ánh đặc điểm thi pháp nào của thơ khuê phụ đời Đường?
Thuật ngữ này phản ánh hiện tượng chủ thể trữ tình nhập vai: các nhà thơ nam giới hóa thân thành người phụ nữ nơi khuê phòng để giãi bày tâm tư. Thủ pháp này vừa thể hiện sự đồng cảm nhân đạo sâu sắc của thi nhân trước nỗi đau của người phụ nữ, vừa là phương thức biểu đạt nghệ thuật gián tiếp để ký thác tâm sự bất đắc chí hoặc phê phán hiện thực chiến tranh, xã hội.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Thơ khuê phụ đời Đường" của tác giả Lương Huyền Thanh là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống về mảng thơ viết về người phụ nữ ly biệt chồng trong văn học cổ điển Trung Quốc. Dựa trên hướng tiếp cận thi pháp học kết hợp văn hóa học, luận án đã định danh khoa học, phân loại 5 nhóm hình tượng khuê phụ và phân tích sâu sắc cơ chế chủ thể trữ tình nhập vai trên ngữ liệu 234 bài thơ. Công trình đã luận giải thấu đáo các nguyên nhân lịch sử, luật pháp, văn hóa tạo nên sự hưng thịnh của đề tài, đồng thời khẳng định giá trị nhân đạo tiến bộ của các thi nhân đời Đường. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn ngữ liệu và kiến giải học thuật có giá trị cho việc nghiên cứu Đường thi cũng như việc tìm hiểu sự tiếp nhận văn học Trung Quốc trong văn học trung đại Việt Nam.