Tổng quan luận án
Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Ngữ văn của tác giả Kiều Thu Hoạch với đề tài "Truyện Nôm bình dân của người Việt - Lịch sử hình thành và bản chất thể loại", thuộc chuyên ngành Văn học dân gian (mã số: 50407), được bảo vệ năm 1996 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án chỉ ra rằng trước Cách mạng tháng Tám, nhiều truyện Nôm bình dân của người Việt như Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Công Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa đã được phiên âm và xuất bản, nhưng giới nghiên cứu chưa thực sự chú ý khảo sát. Giai đoạn sau năm 1945, đặc biệt từ sau năm 1954, thể loại này được quan tâm nhiều hơn nhưng phần lớn các bài viết chỉ tập trung bình giá ý nghĩa tư tưởng của từng tác phẩm cụ thể. Việc nghiên cứu truyện Nôm bình dân một cách tổng thể trên bình diện thể loại vẫn chưa có công trình chuyên khảo độc lập. Tình trạng thiếu thống nhất kéo dài nhiều thập kỷ từ cách định danh thể loại ("bình dân" hay "khuyết danh") cho đến việc xác định bản chất thể loại thuộc văn học viết hay văn học dân gian.
Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu lịch sử hình thành và bản chất thể loại của truyện Nôm bình dân, từ đó làm sáng tỏ câu hỏi truyện Nôm bình dân là sáng tác văn học hay sáng tác folklore (văn học dân gian).
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận án xác định hai nhiệm vụ cụ thể:
- Khảo sát xem truyện Nôm bình dân đã được hình thành và phát triển như thế nào trong bối cảnh lịch sử - xã hội và văn hóa - nghệ thuật thời trung đại.
- Nghiên cứu trực tiếp các văn bản truyện Nôm bình dân hiện còn, tìm ra các đặc trưng thi pháp, cấu trúc thể loại cùng chức năng tư tưởng - thẩm mỹ, nhằm xác định rõ bản chất thể loại là sáng tác folklore hay sáng tác văn học.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là toàn bộ kho tàng truyện Nôm bình dân của người Việt. Về phạm vi thời gian, luận án xác lập tiến trình lịch sử của thể loại kéo dài từ thế kỷ 17 cho đến những năm đầu thế kỷ 20, tập trung khảo sát trọng tâm vào các văn bản truyện Nôm cổ xuất hiện từ cuối thế kỷ 17 trở đi.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trước đó về truyện Nôm bình dân, chia thành hai nhánh tiếp cận chính:
Nhánh các công trình nghiên cứu chuyên đề và bài báo khoa học:
- Bùi Văn Nguyên với bài viết "Truyện Nôm khuyết danh, một hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam" (Tập san Nghiên cứu văn học, số 7 - 1960).
- Đặng Thanh Lê với bài viết "Nhân vật phụ nữ qua một số truyện Nôm" (Tạp chí Văn học, số 2-3 - 1968) và công trình "Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm" (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1979) có chương bàn về "Truyện Nôm, thể loại tiểu thuyết cổ điển Việt Nam".
- Nguyễn Lộc với bài viết "Những vấn đề xã hội trong truyện Nôm bình dân" (Tạp chí Văn học, số 4 - 1969).
- Vũ Tố Hảo với bài viết "Mối quan hệ giữa truyện Nôm bình dân và văn học dân gian" (Tạp chí Văn học, số 4 - 1980).
Nhánh các công trình văn học sử và giáo trình:
- Bộ Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957) của nhóm Lê Quý Đôn: Xếp các tác phẩm Vương Tường, Trê Cóc, Trinh Thử, Thạch Sanh vào nhóm "tác phẩm vô danh" từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 15.
- Bộ Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, Tập III (1965) của Lê Trí Viễn, Phan Côn, Đặng Thanh Lê, Phạm Văn Luận, Lê Hoài Nam: Bố trí truyện Nôm vào giai đoạn giữa thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19 với chương khái quát "Truyện Nôm khuyết danh".
- Bộ Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, Tập II (1978) của Nguyễn Lộc: Trình bày tương đối toàn diện về nguồn gốc, phân loại, nội dung và nghệ thuật trong chương "Truyện Nôm bình dân".
- Các công trình văn học dân gian gồm Văn học dân gian, Tập I (1972) của Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên; Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam (1974) của Cao Huy Đỉnh; Nghiên cứu tiến trình lịch sử của văn học dân gian Việt Nam (1978) của Đỗ Bình Trị: Các tác giả chỉ đề cập truyện Nôm như một thể loại gần gũi với văn học dân gian mà chưa dành chương mục riêng để phân tích độc lập.
Tác giả luận án chỉ ra các hạn chế của giai đoạn nghiên cứu trước: việc giới văn học sử dồn toàn bộ truyện Nôm khuyết danh vào khung thời gian giữa thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 19, hoặc đẩy lùi về thế kỷ 13 - 15 là không phù hợp với thực tế phát triển ngôn ngữ và thể thơ lục bát. Đồng thời, việc thiếu phương pháp tiếp cận từ góc độ folklore học đã dẫn đến hệ quả lưỡng phân: không công nhận truyện Nôm là văn học dân gian nhưng cũng không thể phủ nhận các phẩm chất dân gian rõ nét của thể loại. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách khảo sát toàn diện truyện Nôm bình dân dưới góc nhìn folklore học trên cơ sở văn bản lịch sử.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết và phương pháp nghiên cứu liên ngành để xử lý đối tượng:
- Khung lý thuyết: Sử dụng lý thuyết folklore học, lý thuyết loại hình học lịch sử văn học và thi pháp học. Luận án tiếp thu quan niệm về "thực tại cổ tích" của nhà nghiên cứu thi pháp folklore Vladimir Propp khi khảo sát không gian, thời gian nghệ thuật và cách thức phản ánh đời sống của truyện Nôm bình dân.
- Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp tiếp cận folklore học: Xem xét truyện Nôm bình dân trong môi trường vận động và sinh hoạt văn hóa dân gian, không chỉ dừng lại ở văn bản tĩnh tại.
- Phương pháp so sánh loại hình lịch sử: Đối chiếu truyện Nôm bình dân với truyện cổ tích dân gian; đối chiếu truyện Nôm bình dân với truyện Nôm bác học.
- Phương pháp văn bản học Hán Nôm và ngôn ngữ học lịch sử: Nghiên cứu tự dạng chữ Nôm theo lịch đại, phân tích cấu trúc ngữ âm, quy luật hiệp vần và luật bằng trắc của thể thơ lục bát cổ qua từng thế kỷ.
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp văn học, sử học và dân tộc học (sử dụng tư liệu so sánh thể lục bát người Việt với dân ca Chăm của nhà nghiên cứu Lê Văn Hảo).
- Nguồn tư liệu: Luận án tiến hành điều tra, khảo sát trực tiếp trên 100 văn bản truyện Nôm gốc, đặc biệt chú trọng các văn bản chữ Nôm cổ xuất hiện từ cuối thế kỷ 17 trở đi.
Nội dung chính theo từng chương
Chương Một: Lịch sử hình thành và quá trình phát triển thể loại truyện Nôm bình dân
Chương Một phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội, tiền đề văn hóa nghệ thuật và sự phát triển của văn học chữ Nôm từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18 để xác định niên đại hình thành thể loại.
Về bối cảnh kinh tế - xã hội, từ thế kỷ 16 sang thế kỷ 18, chế độ quân chủ chuyên chế nhà Lê rơi vào khủng hoảng sâu sắc, nội chiến phong kiến kéo dài (Trịnh - Mạc, Trịnh - Nguyễn), phong trào nông dân khởi nghĩa bùng nổ liên tục. Nền kinh tế hàng hóa, thủ công nghiệp phát triển mạnh với sự hưng thịnh của các làng nghề làm giấy (phường Yên Thái) và nghề khắc ván in (làng Liễu Tràng - Hải Dương), thúc đẩy việc truyền bá văn bản Nôm. Sự ra đời của các đô thị, thương cảng sầm uất (Thăng Long - Kẻ Chợ, Phố Hiến, Hội An, Nước Mặn, Thanh Hà, Gia Định) và giao lưu thương mại quốc tế đã tác động đến ý thức hệ, làm nảy sinh tư tưởng nhân văn, dân chủ phản kháng lễ giáo phong kiến, đòi tự do hôn nhân và quyền sống cho người phụ nữ trong truyện Nôm bình dân.
Về nghệ thuật dân gian, nghệ thuật khắc gỗ dân gian phát triển rực rỡ tại các làng tranh Đông Hồ, Hàng Trống, Kim Hoàng (Hoài Đức). Các bức tranh dân gian như "Hứng dừa", "Đánh ghen" đều có đề thơ Nôm lục bát mộc mạc, thể hiện sự tương đồng với văn phong truyện Nôm bình dân.
Về tiến trình văn học Nôm và sự xuất hiện của thể thơ lục bát kể chuyện:
- Thế kỷ 13 - 14 (thời Trần): Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên), Nguyễn Sĩ Cố, Chu Văn An, Hồ Quý Ly khởi phát sáng tác thơ Nôm Đường luật.
- Thế kỷ 15 (thời Lê): Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông đặt dấu mốc quan trọng trong việc khai triển dòng thơ tiếng Việt giải phóng khỏi niêm luật gò bó của Đường luật.
- Thế kỷ 16 - 17: Văn học Nôm phát triển phong phú về thể loại với các tác giả và tác phẩm: Nguyễn Bỉnh Khiêm (Bạch Vân quốc ngữ thi), Nguyễn Thế Nghi (Truyền kỳ mạn lục giải âm), Phùng Khắc Khoan (Lâm tuyền vãn - gần 230 câu lục bát), Lê Đức Mao (Bát giáp thưởng đào văn / Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng hát ả đào - 128 câu), Nguyễn Giản Thạch (Phụng thành xuân sắc phú), Bùi Vịnh (Cung trung bảo huấn phú), Hoàng Sĩ Khải (Tứ thời khúc - trên 300 câu song thất lục bát), Đào Duy Từ (Ngoạ Long cương vãn - 136 câu lục bát, Tư Dung vãn - 236 câu lục bát), Trịnh Căn (Ngự ức Thiền Nôm doanh bách vịnh - 100 bài).
- Cuối thế kỷ 17: Bản diễn ca lịch sử Thiên Nam ngữ lục ra đời với dung lượng 8.136 câu thơ Nôm lục bát, chứng minh khả năng tự sự hoàn thiện của thể thơ này.
Tác giả luận án phát hiện mô hình "lục bát biến thể cổ" thế kỷ 17 qua khảo sát văn bản Thiên Nam ngữ lục, ca dao trong Nam phong giải trào (Trần Danh Án), Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ) và các nghiên cứu của Dương Quảng Hàm (1941), Nguyễn Tài Cẩn - Võ Bình (1985). Đặc điểm của mô hình lục bát cổ này là: tiếng thứ 6 của câu lục hiệp vần với tiếng thứ 4 của câu bát (thay vì tiếng thứ 6 như thể lục bát chính thức); luật bằng trắc câu bát đổi thành t t b b t t b b và câu lục có dạng t t t b b t b.
| Đặc điểm thi pháp lục bát | Mô hình lục bát biến thể cổ (Thế kỷ 17) | Mô hình lục bát chính thức (Từ thế kỷ 18) |
|---|---|---|
| Vị trí hiệp vần (yêu vận) | Chữ thứ 6 câu lục vần với chữ thứ 4 câu bát | Chữ thứ 6 câu lục vần với chữ thứ 6 câu bát |
| Luật bằng trắc câu bát | t t b b t t b b (chữ thứ 4 là thanh bằng hiệp vần) |
b b t t b b t b |
| Đặc tính văn học | Thơ ứng tác, thơ kể chuyện mộc mạc dân gian | Thơ quy chuẩn, điền nhã, thanh thoát |
| Văn bản tiêu biểu | Lâm tuyền vãn, Thiên Nam ngữ lục, Quan Âm tống tử bản hạnh | Quan Âm Thị Kính, Truyện Kiều, các truyện Nôm giai đoạn sau |
Luận án chỉ ra nguồn gốc hình thành của truyện Nôm bình dân bắt nguồn từ hai dòng chính:
- Dòng diễn ca tôn giáo - lịch sử: Bắt nguồn từ các bài "kể hạnh" dân gian, diễn ca Phật giáo như Minh Không thiền sư diễn âm (chuyển thể từ tích sư Không Lộ chùa Keo, Thái Bình), Quan Âm tống tử bản hạnh, Địa Tạng bản hạnh, Liễu Hạnh công chúa diễn âm. Từ dạng bản hạnh cổ dùng lục bát biến thể, truyện dần được chỉnh lý thành truyện thơ Nôm như Quan Âm Thị Kính.
- Dòng truyện Nôm xã hội sớm: Tiêu biểu là Hữu Kính truyện, Lý Công truyện, Thoại Khanh - Châu Tuấn.
Sự phát triển mạnh mẽ của truyện thơ Nôm bình dân ở thế kỷ 17 được chứng minh gián tiếp qua các văn bản pháp luật cấm đoán của chính quyền Đàng Ngoài:
- Năm Cảnh Trị thứ 1 (1663 - đời Lê Huyền Tông, chúa Trịnh Tạc, do Tham tụng Phạm Công Trứ soạn): Điều 35 trong 47 điều giáo hóa ghi trong Lê triều chiếu lệnh thiện chính cấm khắc in, lưu hành "Đạo, Thích dị đoan tà thuyết chư thư, tịnh quốc ngữ chư truyện cập thi ca thiệp ư dâm đãng giả".
- Năm Vĩnh Thịnh thứ 14 (1718 - đời Lê Dụ Tông, chúa Trịnh Cương): Lệnh cấm khắc in, tịch thu và tiêu hủy ván in "các tập truyện và bỉ ngữ bằng quốc âm".
- Năm Cảnh Hưng thứ 12 (1751) và Cảnh Hưng thứ 21 (1760 - đời Lê Hiển Tông, chúa Trịnh Doanh): Chúa Trịnh sai Bồi tụng Nhữ Đình Toản diễn Nôm 47 điều lệ giáo hóa ra thơ lục bát để răn đe nhân dân không in ấn, truyền bá truyện Nôm tà dâm, truyện ngoa ngôn.
Chương Hai: Thi pháp truyện Nôm bình dân
Chương Hai đi sâu khảo sát hệ thống thi pháp thể loại, cấu trúc tác phẩm, kiểu cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật và ngôn ngữ tự sự.
Về mối quan hệ cốt truyện giữa truyện Nôm bình dân và kho tàng truyện dân gian:
- Truyện Tống Trân - Cúc Hoa bắt nguồn từ truyện cổ tích "Dã sử quan Trạng Gầu" (tác giả Nguyễn Thúc Khiêm công bố trên Nam Phong tạp chí năm 1931; được nhà thơ Đoàn Nguyễn Tuấn nhắc tới trong bài thơ "Vịnh Trạng nguyên Tống Trân thi").
- Truyện Mộng Hiền truyện được cải biên từ truyện cổ tích "Anh chàng họ Đào" (ghi trong Đại Nam kỳ nhĩ liệt truyện). Tác phẩm giữ nguyên cốt lõi về việc người con gái vì thủy chung mà chết, sau được cứu sống lại và sum họp, nhưng điều chỉnh chi tiết bọn cướp đào mả thay vì người yêu cũ đào mộ.
- Truyện Chàng Chuối là sự tích hợp mô-típ truyện cổ tích "Lấy chồng cá", "Lấy chồng dê", "Sọ Dừa" với truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh.
Luận án khẳng định các tác giả truyện Nôm bình dân luôn tuân thủ phương thức sáng tác dựa trên "truyện cũ", "tích cũ" dân gian (thể hiện qua lời mở đầu trong các truyện Tống Trân - Cúc Hoa, Chàng Chuối, Phương Hoa, Phan Trần). Do đó, hiện thực được phản ánh trong tác phẩm không phải là hiện thực trực tiếp đương thời mà là "thực tại cổ tích".
Về nghệ thuật xây dựng không gian, thời gian và nhân vật:
- Xu hướng phiếm chỉ hóa: Không gian, thời gian mang tính ước lệ, tượng trưng, phi không gian và phi thời gian cụ thể (ví dụ: Tống Trân - Cúc Hoa đặt vào đời vua Thái Tông và nước Tần mơ hồ; Thạch Sanh đặt vào đời vua Hùng / Triệu / Viễn Vương với 18 nước chư hầu Lương, Thục hư cấu; Lý Công xảy ra vào đời vua Bão Vương; Thoại Khanh - Châu Tuấn đặt ở nước Tề, nước Tống).
- Nhân vật mang tính loại hình: Nhân vật truyện Nôm bình dân chưa được cá tính hóa sâu sắc như tiểu thuyết hiện đại mà chủ yếu tồn tại dưới dạng loại tính dân gian (người nghèo khổ, người vợ tiết hạnh, kẻ phản bội, chàng trai tài giỏi có lốt xấu xí).
Chương Ba: Chức năng tư tưởng - thẩm mỹ của truyện Nôm bình dân
(Theo cấu trúc phân công nhiệm vụ và mục lục của luận án): Chương này đảm nhận nhiệm vụ làm sáng tỏ giá trị phản ánh hiện thực, giá trị nhận thức và giá trị thẩm mỹ của truyện Nôm bình dân; từ đó làm rõ vai trò, vị trí và sức ảnh hưởng của thể loại trong đời sống tinh thần của nhân dân lao động thời trung đại.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về mặt tư liệu: Luận án khảo sát trực tiếp hệ thống trên 100 văn bản truyện Nôm gốc, cung cấp cứ liệu khoa học tin cậy về các bản in, bản chép tay cổ từ cuối thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20.
- Về mặt lịch sử văn học: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu truyện Nôm bình dân một cách tập trung, toàn diện theo quy mô một thể loại độc lập; định vị chính xác thời điểm xuất hiện và phát triển liên tục của thể loại từ thế kỷ 17, bác bỏ các giả thuyết thiếu cơ sở xếp truyện Nôm lục bát vào thế kỷ 13 - 15 hoặc chỉ giới hạn từ giữa thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19.
- Về mặt phương pháp luận và thi pháp học: Luận án vận dụng phương pháp folklore học để chứng minh cội nguồn dân gian của truyện Nôm bình dân, chỉ ra mô hình lục bát biến thể cổ (hiệp vần chữ thứ 4 câu bát) và tính chất "thực tại cổ tích", từ đó xác lập bản chất thể loại của truyện Nôm bình dân là sáng tác thuộc phạm trù folklore học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do nguồn tư liệu truyện Nôm cổ thế kỷ 17 còn lại không nhiều và phần lớn tản mác, các cứ liệu văn bản phục vụ việc phân lập niên đại tuyệt đối giữa truyện Nôm lịch sử và truyện Nôm xã hội thời kỳ đầu chủ yếu dựa trên phỏng đoán qua tự dạng chữ Nôm và niên đại khắc in gián tiếp.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục sưu tầm, khảo dị và phiên âm các dị bản truyện Nôm cổ bản khắc gỗ, nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giao lưu thể loại giữa truyện Nôm bình dân của người Việt với truyện thơ dân gian của các dân tộc thiểu số và truyện thơ các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Văn học dân gian, Văn học trung đại Việt Nam, Hán Nôm học: Cung cấp phương pháp tiếp cận liên ngành giữa văn học sử, folklore học và văn bản học ngữ âm lịch sử.
- Giảng viên đại học: Cung cấp tư liệu chi tiết và hệ thống dẫn chứng văn bản để biên soạn bài giảng về tiến trình văn học Nôm, thi pháp thể loại truyện thơ và cấu trúc thể lục bát cổ.
- Các nhà nghiên cứu văn bản cổ: Phần khảo sát các chỉ dụ cấm đoán thời Lê - Trịnh và dấu vết lục bát biến thể là căn cứ quan trọng để giám định niên đại văn bản Hán Nôm.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định niên đại ra đời của truyện Nôm bình dân vào khoảng thời gian nào?
Căn cứ vào tư liệu lịch sử, diễn biến chữ Nôm và đặc điểm thể thơ lục bát, luận án khẳng định hầu hết truyện Nôm bình dân ra đời trong khoảng thời gian dài từ thế kỷ 17 đến những năm đầu thế kỷ 20, chứ không phải từ thế kỷ 13 - 15 hay bị khoanh vùng hạn hẹp giữa thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19.
2. Đặc điểm nổi bật của mô hình lục bát cổ thế kỷ 17 trong truyện Nôm bình dân là gì?
Mô hình lục bát biến thể thế kỷ 17 có đặc trưng: tiếng thứ 6 của câu lục hiệp vần với tiếng thứ 4 của câu bát (thay vì tiếng thứ 6 như luật lục bát chính thức); luật bằng trắc câu bát biến đổi thành t t b b t t b b để bảo đảm chữ thứ 4 là thanh bằng.
3. Cơ sở lịch sử nào chứng minh sự phổ biến rộng rãi của truyện Nôm trong thế kỷ 17 - 18?
Đó là hệ thống các điều lệnh cấm khắc in và lưu hành truyện Nôm của chính quyền Lê - Trịnh, bao gồm: Điều 35 trong 47 điều giáo hóa năm Cảnh Trị 1 (1663), lệnh chỉ năm Vĩnh Thịnh 14 (1718), lệnh chỉ năm Cảnh Hưng 12 (1751) và lệnh diễn Nôm điều lệ giáo hóa năm Cảnh Hưng 21 (1760).
4. Mối quan hệ giữa cốt truyện Nôm bình dân với truyện cổ tích dân gian được thể hiện ra sao?
Cốt truyện Nôm bình dân chủ yếu bắt nguồn từ "truyện cũ", "tích cũ" dân gian (như Tống Trân - Cúc Hoa từ tích Trạng Gầu, Mộng Hiền truyện từ tích Anh chàng họ Đào, Chàng Chuối từ mô-típ Lấy chồng cá/Sọ Dừa). Không gian, thời gian và nhân vật trong truyện Nôm bình dân mang đậm tính "thực tại cổ tích" và xu hướng phiếm chỉ hóa.
Kết luận
Luận án "Truyện Nôm bình dân của người Việt - Lịch sử hình thành và bản chất thể loại" của Kiều Thu Hoạch đã giải quyết vấn đề phân loại và xác định bản chất thể loại của truyện Nôm bình dân bằng phương pháp tiếp cận folklore học. Công trình đã khảo sát trên 100 văn bản Nôm gốc, chứng minh thể loại này hình thành và phát triển từ thế kỷ 17 thông qua các dòng diễn ca tôn giáo và truyện Nôm xã hội sơ kỳ. Kết quả nghiên cứu khẳng định truyện Nôm bình dân phản ánh "thực tại cổ tích" thông qua thi pháp phiếm chỉ hóa và kết cấu lục bát dân gian, xác lập vị trí bản chất của thể loại thuộc về sáng tác văn học dân gian của người Việt.