Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự đa dạng của tài nguyên động vật rừng nói chung và khu hệ chim nói riêng đóng vai trò cốt lõi trong việc duy trì cân bằng sinh thái, chuỗi thức ăn tự nhiên và hỗ trợ phát tán hạt giống cho các hệ sinh thái thực vật. Tại Việt Nam, danh lục chim liên tục được ghi nhận và cập nhật với 918 loài thuộc 101 họ và 24 bộ (Lê Mạnh Hùng và cs, 2020). Tuy nhiên, tài nguyên chim đang đối mặt với sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng cá thể và sinh cảnh sống do áp lực khai thác và phá rừng, với 76 loài bị đe dọa tuyệt chủng theo Sách đỏ Việt Nam năm 2007.

Xã Quyết Chiến là xã vùng cao thuộc huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, nằm cách thị trấn Tân Lạc 20 km về phía Tây Bắc và là xã vùng đệm liền kề Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Ngọc Sơn – Ngổ Luông. Đây là mắt xích quan trọng thuộc hành lang đa dạng sinh học nối liền Vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình) tới Khu BTTN Pù Luông (Thanh Hóa). Toàn xã sở hữu 1.960,62 ha rừng (chiếm 77% diện tích tự nhiên), trong đó có 1.950,52 ha rừng tự nhiên phòng hộ. Mặc dù có vị trí địa lý sinh thái quan trọng, khu vực này trước đây chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về thành phần loài động vật, dẫn đến sự thiếu hụt dữ liệu đánh giá đa dạng sinh học của địa phương.

Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Có bao nhiêu loài chim tại xã Quyết Chiến?
  2. Các loài động vật nói chung và các loài chim nói riêng đang đối mặt với các mối nguy hại nào?
  3. Làm thế nào để quản lý và bảo vệ được các loài chim tại xã Quyết Chiến?

Mục tiêu nghiên cứu được xác định gồm:

  • Mục tiêu chung: Xây dựng cơ sở dữ liệu về thành phần các loài chim tại xã Quyết Chiến phục vụ việc xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học cho huyện Tân Lạc và tỉnh Hòa Bình.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Lập bảng danh sách các loài chim tại xã Quyết Chiến từ các nguồn thông tin tin cậy.
    2. Xây dựng tư liệu lưu trữ về các loài chim ghi nhận được thông qua hình ảnh và số liệu mô tả hình thái.
    3. Xác định các tác động tiêu cực của con người làm ảnh hưởng đến quần thể chim và sinh cảnh sống tại khu vực nghiên cứu.
    4. Đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý và bảo tồn các loài chim trong khu vực điều tra.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Toàn bộ các loài động vật thuộc lớp Chim (Aves) xuất hiện tại khu vực nghiên cứu.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại 7 xóm thuộc xã Quyết Chiến, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình (xóm Bắc Hưng, xóm Biệng, xóm Cá, xóm Khao, xóm Nam Hưng, xóm Hưng và xóm Trung Hưng).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực địa và tổng hợp số liệu trong thời gian 5 tháng (từ tháng 12 năm 2020 đến tháng 05 năm 2021).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung phân loại và căn cứ pháp lý

  • Hệ thống phân loại học: Nghiên cứu áp dụng hệ thống phân loại, danh pháp khoa học và tên phổ thông cập nhật theo tài liệu Các loài chim Việt Nam (Lê Mạnh Hùng và cs, 2020), xây dựng trên hệ thống của Hiệp hội Nghiên cứu Chim Quốc tế (IOC).
  • Đánh giá giá trị bảo tồn: Đối chiếu tình trạng bảo tồn của các loài theo Sách đỏ Việt Nam (2007), Danh lục đỏ IUCN (2020/2021), Nghị định số 06/2019/NĐ-CP và Nghị định số 64/2019/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và thu thập dữ liệu

  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập bản đồ hành chính, báo cáo dân sinh kinh tế - xã hội xã Quyết Chiến, các công trình phân loại chim Việt Nam và các báo cáo điều tra đa dạng sinh học tại Khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông.
  • Phương pháp phỏng vấn: Thực hiện phỏng vấn 20 người (độ tuổi từ 20 đến 55 tuổi), gồm cán bộ Kiểm lâm địa bàn và người dân địa phương thường xuyên đi rừng. Sử dụng bộ câu hỏi chuẩn bị sẵn kết hợp bộ ảnh màu nhận diện (sử dụng tài liệu của Nguyễn Cử và cs, 2000; Craig Robson, 2005, 2008; Lê Mạnh Hùng và cs, 2020) và quan sát các mẫu vật, lồng nuôi chim cảnh tại hộ dân.
  • Phương pháp điều tra theo tuyến: Thiết lập 5 tuyến điều tra đại diện qua các dạng sinh cảnh với chiều dài từ 1,2 km đến 3,2 km:
    • Tuyến 1 (1,2 km): Rừng trên núi đá và núi đất.
    • Tuyến 3 (3,2 km): Đồng ruộng, ao hồ, bìa rừng gần khu dân cư.
    • Tuyến 4 (1,6 km): Đồng ruộng, ao hồ, tràng cỏ, nương rẫy, rừng trên núi đất.
    • Tuyến 5 (1,8 km): Bìa rừng, gần khu dân cư. Quy trình thực hiện: Mỗi tuyến điều tra lặp lại 2 lần vào các khung giờ hoạt động cao điểm của chim: sáng (06:00 - 09:00) và chiều (15:00 - 18:00). Tốc độ di chuyển duy trì từ 1,3 - 2,5 km/h; ghi nhận loài bằng quan sát trực tiếp (ống nhòm, mắt thường), lắng nghe tiếng hót/tiếng kêu đặc trưng hoặc sử dụng thiết bị phát âm thanh dẫn dụ.
  • Phương pháp bắt thả và thu mẫu bằng lưới mờ: Sử dụng 11 lưới mờ có chiều dài 15 - 30 m đặt tại 17 vị trí trên 4 dạng sinh cảnh (rừng trung bình trên núi đá, rừng trung bình trên núi đất, tràng cỏ nương rẫy, rừng tre nứa) ở đai độ cao 641 - 728 m. Lưới được kiểm tra ban ngày và ban đêm (19:00 - 22:00, 2 lần/đêm). Mỗi loài thu tối đa 2 mẫu (ưu tiên đủ cá thể đực và cái), các cá thể bắt lặp lại được thả tại chỗ.
  • Phương pháp đo đếm hình thái và bảo quản mẫu: Đo đếm kích thước các chỉ số hình thái bằng thước kẹp điện tử (độ chính xác 0,1 mm) gồm: chiều dài thân (TH), đuôi (DU), cánh (CA), mỏ (M), giò (D), ngón (NG), vuốt (V). Mẫu vật sau khi chụp ảnh và ghi nhận hình thái được mổ rạch gần lỗ huyệt loại bỏ nội tạng, tiêm cồn cố định mô cơ (cổ, cánh, ngực, đùi) và ngâm bảo quản trong dung dịch cồn 70° hoặc 90° kèm nhãn etiket.
  • Phương pháp đánh giá mối đe dọa (TRA): Sử dụng phương pháp Đánh giá Giảm thiểu Mối đe dọa (Threats Reduction Assessment - Margoluis & Salafsky, 2001) dựa trên 3 tiêu chí: Diện tích ảnh hưởng, Cường độ ảnh hưởng và Tính cấp thiết để xếp hạng các nguy cơ tác động lên khu hệ chim.

Nội dung chính theo từng phần và chương

Phần I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Tổng hợp lịch sử nghiên cứu khu hệ chim Việt Nam qua các giai đoạn từ công trình của Võ Quý (1975, 1981 với 773 loài), Võ Quý và Nguyễn Cử (1995, 1999 với 828 loài), Nguyễn Cử và cs (2000 với 867 loài), Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011 với 887 loài) đến công trình cập nhật của Lê Mạnh Hùng và cs (2020 với 918 loài, 101 họ, 24 bộ). Phân tích hệ thống phân loại hình thái học chim (sử dụng 20 - 30 đặc điểm chính trên cơ thể) và ranh giới 6 vùng phân bố chim Việt Nam. Đồng thời, tổng hợp các kết quả nghiên cứu đa dạng sinh học động vật có xương sống trước đây tại khu vực lân cận là Khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông (ghi nhận từ 179 đến 264 loài chim tùy giai đoạn công bố).

Phần II: Mục tiêu, đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết khung thiết kế nghiên cứu, hệ thống 4 mục tiêu, xác định phạm vi 7 xóm thuộc xã Quyết Chiến trong thời gian 5 tháng. Mô tả chi tiết kỹ thuật 5 phương pháp thu thập dữ liệu (kế thừa, phỏng vấn 20 người, điều tra 5 tuyến, giăng lưới mờ tại 17 vị trí, xử lý bảo quản mẫu 4 bước) và 2 phương pháp xử lý số liệu (lập danh lục định loại theo IOC và tính điểm TRA đánh giá mối đe dọa).

Phần III: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

  • Điều kiện tự nhiên: Xã Quyết Chiến có toạ độ địa lý từ 20°34′55″ đến 20°58′19″ vĩ độ Bắc và 105°11′37″ đến 105°19′36″ kinh độ Đông; diện tích 26,21 km²; độ cao trung bình 800 - 850 m so với mực nước biển. Khí hậu chia làm 2 mùa: mùa mưa (tháng 5 - 10, chiếm 84% lượng mưa) và mùa khô (tháng 11 - 4 năm sau, chiếm 16%). Nhiệt độ trung bình năm là 23,3°C; lượng mưa trung bình năm đạt 1.750 mm; độ ẩm không khí trung bình 82%. Diện tích đất có rừng là 1.960,62 ha (1.950,52 ha rừng tự nhiên phòng hộ, 10 ha rừng trồng phòng hộ).
  • Điều kiện kinh tế - xã hội: Xã có 328 hộ với dân cư gồm 2 dân tộc chính là Mường và Kinh. Tổng số người trong độ tuổi lao động là 1.039 người (chiếm 69,54% dân số), trong đó lao động nông lâm nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo với 96,82% (1.006 người).

Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung trình bày toàn bộ kết quả khảo sát thực tế về khu hệ chim tại địa bàn:

1. Cấu trúc thành phần loài chim

Tổng cộng ghi nhận được 63 loài thuộc 46 giống, 27 họ và 9 bộ chim tại xã Quyết Chiến.

STT Tên bộ chim Tên khoa học Số họ Số giống Số loài Tỷ lệ số loài (%)
1 Bộ Gà Galliformes 1 1 1 1,59
2 Bộ Cu cu Cuculiformes 1 6 6 9,52
3 Bộ Bồ câu Columbiformes 1 1 1 1,59
4 Bộ Bồ nông Pelecaniformes 1 1 1 1,59
5 Bộ Ưng Accipitriformes 1 1 1 1,59
6 Bộ Cú Strigiformes 1 3 3 4,76
7 Bộ Sả Coraciiformes 1 2 2 3,17
8 Bộ Gõ kiến Piciformes 2 4 5 7,94
9 Bộ Sẻ Passeriformes 18 27 43 68,30
Tổng 9 bộ 27 46 63 100,00

Bộ Sẻ (Passeriformes) chiếm ưu thế tuyệt đối về cấu trúc phân loại với 18 họ (66,6% tổng số họ), 27 giống và 43 loài (68,3% tổng số loài). Về cấp độ họ, họ Chào mào (Pycnonotidae) đa dạng nhất với 7 loài (11,11%), tiếp đến là họ Cu cu (Cuculidae) với 6 loài (9,52%), họ Chèo bẻo (Dicruridae) với 5 loài (7,94%) và họ Chiền chiện (Cisticolidae) với 4 loài (6,35%).

2. Cơ cấu nguồn dữ liệu ghi nhận

  • Quan sát thực địa trực tiếp (QS): 22 loài (chiếm 35%).
  • Đánh lưới mờ thu mẫu (Lm): 18 loài (chiếm 29%).
  • Nhận diện qua tiếng hót/tiếng kêu (TK): 17 loài (chiếm 27%).
  • Mẫu vật nuôi nhốt trong dân (MV): 6 loài (chiếm 9%).

3. Đa dạng loài quý hiếm và giá trị bảo tồn

Khu hệ chim tại xã Quyết Chiến ghi nhận 4 loài có giá trị bảo tồn cao thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Nghị định 06/2019/NĐ-CP - Nhóm IIB) và Sách đỏ Việt Nam:

STT Tên phổ thông Tên khoa học Sách đỏ Việt Nam 2007 IUCN 2021 Nghị định 06/2019/NĐ-CP
1 Diều hâu Milvus migrans - - IIB
2 Cú mèo khoang cổ Otus lettia (Otus letia) - - IIB
3 Dù dì nê pan Bubo nipalensis CR - IIB
4 Cú vọ mặt trắng Glaucidium brodiei - - IIB

Ghi chú: Loài Dù dì nê pan (Bubo nipalensis) được xếp ở cấp Cực kỳ nguy cấp (CR) trong Sách đỏ Việt Nam 2007.

4. Đo đếm hình thái 18 loài chim thu mẫu

Đề tài đã thu được 36 mẫu vật thực địa thuộc 18 loài bằng lưới mờ và lập bảng đo đếm chi tiết 7 chỉ số hình thái:

  • Cú mèo khoang cổ (Otus lettia): Thân 153,4 mm; Đuôi 82,2 mm; Cánh 162,2 mm; Mỏ 23,1 mm; Giò 46,2 mm; Ngón 33,8 mm; Vuốt 24,7 mm.
  • Cú vọ mặt trắng (Glaucidium brodiei): Thân 115,1 mm; Đuôi 65,3 mm; Cánh 125,3 mm; Mỏ 20,4 mm; Giò 40,2 mm; Ngón 29,6 mm; Vuốt 23,5 mm.
  • Bồng chanh (Alcedo atthis): Thân 67,6 mm; Đuôi 31,2 mm; Cánh 58,0 mm; Mỏ 34,1 mm; Giò 31,3 mm; Ngón 14,3 mm; Vuốt 11,3 mm.
  • Gõ kiến lùn mày trắng (Sasia ochracea): Thân 43,2 mm; Đuôi 19,2 mm; Cánh 42,7 mm; Mỏ 12,1 mm; Giò 21,3 mm; Ngón 13,6 mm; Vuốt 11,1 mm.
  • Bách thanh đầu đen (Lanius schach): Thân 64,4 mm; Đuôi 125,5 mm; Cánh 98,2 mm; Mỏ 26,0 mm; Giò 25,0 mm; Ngón 15,3 mm; Vuốt 14,2 mm.
  • Rẻ quạt họng trắng (Rhipidura albicollis): Thân 82,2 mm; Đuôi 84,4 mm; Cánh 92,3 mm; Mỏ 11,2 mm; Giò 28,1 mm; Ngón 17,6 mm; Vuốt 14,5 mm.
  • Giẻ cùi xanh (Cissa chinensis): Thân 104,4 mm; Đuôi 152,8 mm; Cánh 132,3 mm; Mỏ 36,1 mm; Giò 41,2 mm; Ngón 19,3 mm; Vuốt 16,7 mm.
  • Chào mào vàng mào đen (Pycnonotus melanicterus): Thân 49,8 mm; Đuôi 81,9 mm; Cánh 84,1 mm; Mỏ 16,6 mm; Giò 13,4 mm; Ngón 11,6 mm; Vuốt 9,2 mm.
  • Bông lau tai trắng (Pycnonotus aurigaster): Thân 46,2 mm; Đuôi 89,7 mm; Cánh 83,5 mm; Mỏ 14,0 mm; Giò 26,1 mm; Ngón 13,2 mm; Vuốt 11,5 mm.
  • Cành cạch lớn (Alophoixus pallidus): Thân 61,4 mm; Đuôi 91,7 mm; Cánh 97,7 mm; Mỏ 23,3 mm; Giò 24,2 mm; Ngón 14,8 mm; Vuốt 10,3 mm.
  • Chích đớp ruồi đầu xám (Phylloscopus valentini): Thân 38,2 mm; Đuôi 35,4 mm; Cánh 52,1 mm; Mỏ 12,3 mm; Giò 28,2 mm; Ngón 14,1 mm; Vuốt 8,3 mm.
  • Chiền chiện bụng vàng (Prinia flaviventris): Thân 32,1 mm; Đuôi 47,6 mm; Cánh 33,9 mm; Mỏ 12,2 mm; Giò 28,1 mm; Ngón 11,5 mm; Vuốt 6,9 mm.
  • Chích bông cánh vàng (Orthotomus atrogularis): Thân 33,2 mm; Đuôi 30,1 mm; Cánh 35,5 mm; Mỏ 16,1 mm; Giò 24,4 mm; Ngón 16,3 mm; Vuốt 12,1 mm.
  • Khướu bụi đốm cổ (Stachyris striolata): Thân 43,5 mm; Đuôi 49,7 mm; Cánh 58,3 mm; Mỏ 19,7 mm; Giò 22,2 mm; Ngón 8,7 mm; Vuốt 7,2 mm.
  • Chích chạch má vàng (Macronus gularis / Macronous gularis): Thân 30,3 mm; Đuôi 27,3 mm; Cánh 41,6 mm; Mỏ 13,1 mm; Giò 19,6 mm; Ngón 9,3 mm; Vuốt 6,5 mm.
  • Chuối tiêu đất (Pellorneum tickelli): Thân 42,8 mm; Đuôi 40,4 mm; Cánh 56,3 mm; Mỏ 12,2 mm; Giò 26,2 mm; Ngón 11,4 mm; Vuốt 8,6 mm.
  • Hoét bụng trắng (Turdus cardis): Thân 78,9 mm; Đuôi 46,9 mm; Cánh 91,1 mm; Mỏ 19,6 mm; Giò 31,2 mm; Ngón 14,6 mm; Vuốt 11,2 mm.
  • Đớp ruồi cằm đen (Niltava davidi): Thân 50,6 mm; Đuôi 69,3 mm; Cánh 91,1 mm; Mỏ 17,1 mm; Giò 15,9 mm; Ngón 9,8 mm; Vuốt 7,7 mm.

5. Đánh giá các mối đe dọa và giải pháp

Nghiên cứu xác định 5 mối đe dọa chính ảnh hưởng trực tiếp đến chim và sinh cảnh:

  1. Săn bắn bẫy bắt trái phép (sử dụng súng tự chế, bẫy sập, nuôi nhốt và buôn bán chim cảnh như Dù dì nê pan, Chào mào, Đớp ruồi cằm đen).
  2. Khai thác gỗ trái phép (chặt cây làm đường, xô gỗ xuống chân núi làm mất sinh cảnh làm tổ).
  3. Phá rừng làm nương rẫy.
  4. Khai thác lâm sản ngoài gỗ (măng, thảo dược gây xáo trộn sinh cảnh).
  5. Chăn thả gia súc tự do trong rừng.

Tác giả đề xuất 2 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Giải pháp bảo vệ rừng: Tăng cường tuần tra kiểm soát của lực lượng Kiểm lâm phối hợp Trạm bảo vệ rừng số 02; quản lý nghiêm các hoạt động chặt phá gỗ và ngăn chặn tình trạng đặt bẫy thú/chim; kiểm soát việc chăn thả gia súc và mở đường trong rừng phòng hộ.
  • Giải pháp tuyên truyền giáo dục: Nâng cao nhận thức bảo tồn cho người dân địa phương (đặc biệt là đồng bào dân tộc Mường chiếm đa số); phổ biến danh mục các loài động vật hoang dã nguy cấp và chế tài xử phạt hành vi săn bắt, buôn bán động vật rừng theo quy định pháp luật.

Kết quả và đóng góp của đề tài

Kết quả chính

  • Xây dựng danh lục 63 loài chim thuộc 46 giống, 27 họ, 9 bộ tại xã Quyết Chiến; chứng minh tính ưu thế của bộ Sẻ (Passeriformes) chiếm 68,3% tổng số loài và họ Chào mào (Pycnonotidae) chiếm 11,11%.
  • Ghi nhận 4 loài chim nguy cấp, quý, hiếm thuộc Nhóm IIB theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP (Milvus migrans, Otus lettia, Bubo nipalensis, Glaucidium brodiei), trong đó loài Dù dì nê pan (Bubo nipalensis) thuộc cấp Cực kỳ nguy cấp (CR) trong Sách đỏ Việt Nam (2007).
  • Thu thập, định loại và đo đếm chính xác 7 chỉ số hình thái học cho 36 mẫu vật thuộc 18 loài chim bằng phương pháp bẫy lưới mờ.
  • Xác định và phân tích 5 nguyên nhân đe dọa đến quần thể chim và sinh cảnh sống tại địa bàn thông qua phương pháp đánh giá TRA.

Đóng góp khoa học và thực tiễn

  • Đây là công trình điều tra chuyên biệt đầu tiên về thành phần khu hệ chim tại xã Quyết Chiến, lấp đầy khoảng trống dữ liệu đa dạng sinh học của địa phương giáp ranh Khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông.
  • Cung cấp dẫn liệu khoa học, mẫu vật bảo quản và hình ảnh thực địa phục vụ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu động vật rừng cho huyện Tân Lạc và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hòa Bình.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế: Thời gian nghiên cứu thực địa ngắn (5 tháng, từ tháng 12/2020 đến tháng 05/2021), chưa bao quát được toàn bộ chu kỳ mùa trong năm, đặc biệt là các giai đoạn chim di cư mùa thu - đông và mùa sinh sản mở rộng. Địa hình núi đá chia cắt phức tạp và lực lượng điều tra mỏng khiến phạm vi giăng lưới mờ mới tập trung ở đai cao từ 641 - 728 m.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần mở rộng điều tra bổ sung vào các tháng còn lại trong năm (mùa mưa và thu đông); khảo sát thêm các sinh cảnh đai cao trên 850 m và nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm sinh thái học, tập tính sinh sản của các loài quý hiếm như Dù dì nê pan (Bubo nipalensis).

Giá trị tham khảo và ứng dụng thực tiễn

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh học thực nghiệm và Bảo tồn đa dạng sinh học; các nhà nghiên cứu về khu hệ chim miền núi phía Bắc.
  • Phần nội dung giá trị:
    • Quy trình 5 bước bẫy chim bằng lưới mờ kết hợp phương pháp xử lý mổ lấy nội tạng và ngâm mẫu bảo quản cồn phục vụ nghiên cứu hình thái học.
    • Bảng tổng hợp số đo chi tiết 7 chỉ số kích thước cơ thể (TH, DU, CA, M, D, NG, V) của 18 loài chim thực địa.
    • Bộ tư liệu danh lục và tọa độ các tuyến điều tra chim tại khu vực giáp ranh Khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông.

Câu hỏi thường gặp

1. Đề tài ghi nhận được tổng cộng bao nhiêu loài chim và bộ nào chiếm ưu thế nhất?

Khóa luận ghi nhận được tổng cộng 63 loài chim thuộc 46 giống, 27 họ và 9 bộ. Trong đó, bộ Sẻ (Passeriformes) chiếm ưu thế lớn nhất với 18 họ, 27 giống và 43 loài (chiếm 68,3% tổng số loài ghi nhận). Họ có số lượng loài cao nhất là họ Chào mào (Pycnonotidae) với 7 loài (chiếm 11,11%).

2. Có những loài chim quý hiếm nào được phát hiện tại xã Quyết Chiến?

Nghiên cứu ghi nhận 4 loài chim quý hiếm thuộc Danh mục Nhóm IIB theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP gồm: Diều hâu (Milvus migrans), Cú mèo khoang cổ (Otus lettia), Dù dì nê pan (Bubo nipalensis) và Cú vọ mặt trắng (Glaucidium brodiei). Đặc biệt, loài Dù dì nê pan (Bubo nipalensis) thuộc nhóm Cực kỳ nguy cấp (CR) trong Sách đỏ Việt Nam (2007).

3. Phương pháp bẫy lưới mờ trong khóa luận được triển khai với quy mô ra sao và thu được bao nhiêu mẫu?

Tác giả đã sử dụng 11 lưới mờ (chiều dài từ 15 - 30 m) đặt tại 17 vị trí trên 4 dạng sinh cảnh ở độ cao từ 641 m đến 728 m. Phương pháp này đã bắt và thu thập được 36 mẫu vật của 18 loài chim khác nhau để phục vụ đo đếm hình thái và ngâm mẫu bảo quản.

4. Tỷ lệ ghi nhận loài giữa các nguồn dữ liệu điều tra được phân bổ như thế nào?

Dữ liệu thành phần loài được xác định qua 4 nguồn: Quan sát trực tiếp trên tuyến (QS) đạt 35% (22 loài); Đánh bẫy lưới mờ (Lm) đạt 29% (18 loài); Nhận diện qua tiếng hót/tiếng kêu đặc trưng (TK) đạt 27% (17 loài); và Ghi nhận từ mẫu vật, lồng nuôi trong nhân dân (MV) đạt 9% (6 loài).

5. Những mối đe dọa chính nào đang tác động lên khu hệ chim tại xã Quyết Chiến?

Nghiên cứu xác định 5 mối đe dọa chính gồm: Săn bắn và bẫy bắt trái phép (bẫy sập, súng săn, nuôi nhốt buôn bán); Khai thác gỗ trái phép (chặt hạ cây, mở đường kéo gỗ); Phá rừng làm nương rẫy; Khai thác lâm sản ngoài gỗ quá mức; và Chăn thả gia súc tự do trong rừng.

Kết luận

Khóa luận đã cung cấp dẫn liệu thực địa đầu tiên và toàn diện về khu hệ chim tại xã Quyết Chiến, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình với 63 loài thuộc 27 họ và 9 bộ, trong đó ghi nhận 4 loài quý hiếm thuộc Nhóm IIB (Nghị định 06/2019/NĐ-CP) và 1 loài Cực kỳ nguy cấp (CR) theo Sách đỏ Việt Nam. Công trình đã mô tả chi tiết hình thái học 18 loài chim thu mẫu và ứng dụng phương pháp TRA để xác định 5 nguy cơ đe dọa sinh cảnh từ hoạt động của con người. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học tin cậy phục vụ công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học cho huyện Tân Lạc và Khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông.