ĐẶT VẤN ĐỀ Sự đa dạng của tài nguyên động vật rừng nói chung và các loài chim nói riêng đã góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng sinh học ở Việt Nam. Các loài chim có vai trò quan trọng trong mạng lưới thức ăn tự nhiên, phát tán hạt giống và tạo điều kiện tồn tại, phát triển nhiều hệ thực vật trên trái đất; tạo nên sự cân bằng sinh thái và đa dạng cho quần xã. Số lượng các loài chim ở Việt Nam không ngừng tăng lên trong những năm gần đây từ 887 loài thuộc 88 họ, 20 bộ (Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân, 2011) lên đến 916 loài (Richard, Le Quy Minh, 2018) và cập nhật nhất hiện nay là 918 loài thuộc 101 họ và 24 bộ (Lê Mạnh Hùng và cs, 2012). Với sự phát hiện liên tục các loài chim mới ở Việt Nam cho thấy khu hệ chim ở nước ta vẫn còn rất nhiều bí ẩn cần nghiên cứu và khám phá.
Cũng giống như các nhóm động vật khác, tài nguyên chim Việt Nam đang bị suy giảm quần thể nghiêm trọng, nhiều loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng bởi tình trạng khai thác quá mức và phá hủy sinh cảnh sống của chúng. Trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 có 76 loài chim đang bị đe dọa tuyệt chủng (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007). Nhiều loài chim hiện vẫn chưa được phát hiện trong khi nguy cơ mất loài ngày càng tăng, đang là tiếng chuông cảnh báo về sự suy giảm đa dạng sinh học ở nước ta. Trước tình hình trên, việc đánh giá tài nguyên chim tại các vùng miền và xây dựng kế hoạch bảo tồn là cần thiết và cần triển khai rộng khắp trên toàn bộ lãnh thổ.
Xã Quyết Chiến là xã vùng cao thuộc huyện Tân Lạc, tỉnh Hoà bình; cách thị trấn Tân Lạc 20km về phía Tây Bắc và là xã vùng đệm của Khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông.960,62 ha rừng (chiếm 77% diện tích tự nhiên), trong đó có 1.950,52 ha rừng tự nhiên phòng hộ và 10 ha rừng trồng phòng hộ. Diện tích rừng của xã Quyết Chiến được quản lý bởi Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hòa Bình, liền kề với rừng của Khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông, nơi được coi là hành lang đa dạng sinh học nối liền VQG Cúc Phương (tỉnh 1 Ninh Bình) đến KBTTN Pù Luông (tỉnh Thanh Hoá). Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về tài nguyên động vật của khu vực làm thiếu hụt việc đánh giá toàn diện thành phần động vật rừng của tỉnh Hòa Bình và của Việt Nam. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần các loài chim tại xã Quyết Chiến, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình”.
Mục đích của nghiên cứu này là đi tìm câu trả lời cho 3 câu hỏi: (1). Có bao nhiêu loài chim tại xã Quyết Chiến? (2). Các loài động vật nói chung và các loài chim nói riêng đang đối mặt với các mối nguy hại nào? (3). Làm thế nào để quản lý và bảo vệ được các loài chim tại xã Quyết Chiến? 2 PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Các nghiên cứu tiêu biểu về thành phần loài chim ở Việt Nam Thành phần các loài chim ở Việt Nam thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các tác giả. Số lượng các loài chim mới được phát hiện không ngừng tăng lên trong những năm gần đây (bảng 1.1: Phân loại chim ở Việt Nam theo thời gian Thời gian Thành phần chim Tài liệu Tác giả Bộ Họ Loài Chim Việt Nam 1975 và 1981 773 - Hình thái và Võ Quý phân loại Danh lục chim 1995 và 1999 19 81 828 Võ Quý vàNguyễn Cử Việt Nam Nguyễn Cử, Lê Trọng 2000 và 2005 19 81 867 Chim Việt Nam Trải và Karen Phillipps Danh lục chim Nguyễn Lân Hùng Sơn 2011 20 88 887 Việt Nam và Nguyễn Thanh Vân Các loài chim 2020 24 101 918 Lê Mạnh Hùng và cs Việt Nam Võ Quý (1975; 1981) đã xây dựng tài liệu về hình thái và phân loại chim ở Việt Nam. Tác giả đã xây dựng khóa định loại chim cho 773 loài theo phương pháp “phân chia đối lập”. Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về mặt hình thái phân loại và phân bố tự nhiên của chim trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.
Tuy nhiên các thông tin mô tả về loài và hình ảnh của các loài còn rất hạn chế. Năm 1995, Võ Quý và Nguyễn Cử đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu tại nhiều vùng trong cả nước và đưa ra danh lục các loài chim ở Việt Nam gồm 828 loài, 81 họ và 19 bộ trong cuốn “Danh lục Chim Việt Nam”. Tên tiếng Anh, tên 3 khoa học và thứ tự sắp xếp các loài trong bản danh lục được sử dụng theo Richard Howard và Alick Moore “A complete Checklist of the Birds of the World”. Năm 1999, Võ Quý và Nguyễn Cử tiếp tục tái bản một lần nữa cuốn “Danh lục chim Việt Nam”.
Tuy nhiên, số lượng của các loài vẫn không có sự thay đổi so với các nghiên cứu trước đó. Năm 2000, Nguyễn Cử, Lê Trọng Khải, Karen Phillips đã xây dựng cuốn “Chim Việt Nam” trên cơ sở cuốn sách Chim Hồng Kông và Nam Trung Quốc của các tác giả Clive Viney, Lam Chiu Ying và Karen Phillipps (1994). Trong tài liệu có bổ sung và thay đổi dựa trên các tài liệu mô tả trước đó. Tình trạng của các loài và các loài mới được phát hiện ở Việt Nam cũng được cập nhật.
Trong phần phụ lục của cuốn sách Danh lục Chim Việt Nam có sự kế thừa của các tác giả Võ Quý và Nguyễn Cử (1995, 1999) về thành phần loài và tên phổ thông của các loài. Cuốn sách đã sử dụng các bản đồ trong báo cáo mở rộng hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam cho thế kỷ 21. Ngoài ra, các tác giả có mô tả về đặc điểm loài (có cả hình ảnh minh họa), tình trạng, phân bố, nơi ở của 500 loài trên tổng số 850 loài thuộc 81 họ và 19 bộ. Vì vậy, các thông tin về các loài chưa được mô tả cần tiếp tục bổ sung trong các nghiên cứu tiếp theo.
Năm 2011, Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân đã xây dựng tài liệu “Danh lục chim Việt Nam”. Bản danh lục là sự kế thừa các nghiên cứu trước đây của Võ Quý và Nguyễn Cử và sắp xếp danh lục chim theo hệ thống phân loại được đề xuất bởi Sibley - Ahlquist - Monroe (SAM) và được sử dụng trong Danh lục chim thế giới (Complete Checklist of the Birds of the World), tái bản lần thứ 3 có chỉnh lý và bổ sung (Dickinson ed. Bên cạnh đó, các tác giả có bổ sung một số dẫn liệu mới về phân loại chim được công bố gần đây và tham khảo thêm cuốn Danh lục chim thế giới (The Clements Checklist of Birds of the World) tái bản lần thứ 6 năm 2007 của James F. Năm 2020, Lê Mạnh Hùng và cs xuất bản cuốn “Các Loài Chim Việt Nam – Birds of Vietnam”.
Cuốn sách không những là tài liệu tra cứu nhanh các loài 4 chim thông qua đặc điểm hình thái mà còn cập nhật danh lục Chim Việt Nam với 918 loài thuộc 101 họ và 24 bộ. Trong cuốn sách trên, hệ thống phân loại, thứ tự và danh pháp được tác giả sử dụng theo Danh lục chim của Hiệp hội nghiên cứu chim quốc tế (IOC); tên phổ thông của các loài dựa trên các tài liệu: Danh lục chim Việt Nam của Võ Quý và Nguyễn cử (1995), Chim Việt Nam của Nguyễn Cử và cs (2000) và Giới thiệu một số loài chim Việt Nam của Lê Mạnh Hùng (2012). Cuốn sách là tài liệu hữu ích phục vụ cho công tác điều tra ngoại nghiệp với 1205 bức ảnh màu của 731 loài. Bên cạnh đó, thành phần các loài chim được cập nhật và được tra cứu theo cả tên khoa học, tên tiếng Anh và tên phổ thông.
Các loài chim không những được mô tả các đặc điểm cơ bản nhất mà còn được mô tả về sinh cảnh và phân bố của chúng. Một số thay đổi của tài liệu với các tài liệu trước đây được khái quát như sau: - Tên của một số loài chim mới được ghi nhận ở Việt Nam được cập nhật cho phù hợp hơn với điều kiện sử dụng hiện tại, bao gồm: Sả mày vàng Todiramphus sanctu, Sẻ hồng Fansipan carpodacus vinaceus, Chích bụi tây nguyên Locustella indones, Khướu mỏ quặp ngọc linh Pteruthius xanthochlorus, Khướu đất cánh vằn Spelaeornis troglodytoides, Khướu ria mép Lanthocincla cineracea, Hải âu đuôi nhọn Ardena pacifica, Trèo cây bụng vàng Sitta neglecta, Trèo tường Tichodroma muraria, Đớp ruồi xanh mũi trắng Cyornis rufigastra, Chim manh mày trắng Anthus sylvanus. - Một số loài phụ trước đây đã tách loài mới như: Chiền chiện núi Prinia rocki, Cu rốc tai tím Psilopogon auricularis. - So với các hệ thống phân loại trước đây, một số họ, giống và loài trong cuốn sách của Lê Mạnh Hùng và cs (2020) đã được thay đổi, bổ sung dựa trên các nghiên cứu di truyền học gồm: Họ Cú muỗi mỏ rộng Podargidae, họ Giả phường trèo Vangidae, họ Khướu mỏ quặp Vireonidae, họ Giả đớp ruồi Stenostiridae, họ Khướu mỏ cong Timalidae, họ Chuối tiêu Perllorneidae, họ Khướu Leithridae, họ khướu mỏ dẹt Sylvidae, họ Chim lam Ireidae, họ Khướu đất Pnoepygidae, họ Chim xanh Chloropseidae, họ Rồng rộc Ploeidae, họ Sẻ 5 thông Fringillidae, họ Trèo tường Tichodromidae.
Các loài đuôi cụt từ giống Pitta sang Hydronis. Các loài cu rốc, thầy chùa từ megalaima sang Psilopogon. Các loài sáo đá từ Sturnus sang Gracupica. Các loài vịt cánh trắng, Vịt lưỡi liềm, Vịt đầu vàng từ giống Anas sang giống Mareca.
Vịt mỏ thìa, Mòng két mày thẳng từ Anas sang Spatula. Các loài Hoét vàng, Hoét siberia từ Zoothera sang Geokichla. Oanh cổ đỏ từ Luscinia sang Calliope. Oanh lưng xanh, Oanh cổ trắng sang larvivora.
Đớp ruồi họng trắng, Đớp ruồi mày hung từ Ficedula sang anthipes. Hút mật bụng vạch từ Hypogramma sang Kurochkinegramma. Vành khuyên nhật bản từ Zosterops simplex. Đớp ruồi họng vàng Cyomis sumatrensis.
Trước khi cuốn “Các loài chim Việt Nam” của Lê Mạnh Hùng và cs (2020) ra đời, tài liệu “Danh lục chim Việt Nam” của Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011) được sử dụng phổ biến trong việc kế thừa hệ thống phân loại, tên phổ thông, tên khoa học để xây dựng thành phần loài cho các khu vực điều tra, nghiên cứu. Tuy nhiên, với việc cập nhật đầy đủ nhất về thành phần chim Việt Nam hiện nay, Danh lục chim Việt Nam đề cập trong tài liệu của Lê Mạnh Hùng và cs (2020) là tài liệu được sử dụng trong việc lập danh sách các loài chim tại xã Quyết Chiến của nghiên cứu này.