MỞ ĐẦU. 1 1 Lý do chọn đề tài. 1 2 Mục đích của đề tài. 2 4 Các điểm mới của luận văn.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU. KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU .Vị trí địa lý .Điều kiện tự nhiên. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU .Khái quát về các loài ong thuộc họ Chrysididae.Tình hình nghiên cứu về họ Chrysididae trên thế giới .Tình hình nghiên cứu về họ Chrysididae ở Việt Nam. NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU. Đối tượng nghiên cứu. Thời gian nghiên cứu. Địa điểm nghiên cứu.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa. Phương pháp xử lý mẫu vật trong phòng thí nghiệm.
Phương pháp định loại. Phương pháp xử lý số liệu. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .1 THÀNH PHẦN, PHÂN BỐ VÀ MỨC ĐỘ PHỔ BIẾN CỦA CÁC LOÀI ONG THUỘC HỌ CHRYSIDIDAE Ở CÁC KHU VỰC NGHIÊN CỨU. MÔ TẢ CÁC LOÀI GHI NHẬN ĐƯỢC, LOÀI NGHI NHẬN MỚI VÀ CÁC LOÀI CHỈ ĐỊNH DANH ĐƯỢC ĐẾN GIỐNG .1 Thành phần của các loài ong thuộc họ Chrysididae ở các khu vực nghiên cứu .2 Phân bố của các loài ong xanh thuộc họ Chrysididae ở Việt Nam và thế giới…………………………………………………………………….3 Mức độ phổ biến của các loài ong thuộc họ Chrysididae ở các khu vực nghiên cứu .4 Mô tả các loài ghi nhận được, loài ghi nhận mới và các loài chỉ định loại đến giống.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁC LOÀI ONG THUỘC HỌ CHRYSIDIDAE Ở CÁC KHU VỰC NGHIÊN CỨU …………….3 KHÓA ĐỊNH LOẠI CỦA CÁC LOÀI THUỘC HỌ CHRYSIDIDAE QUA CÁC ĐẠI ĐIỆN Ở KHU VỰC NGHIÊN CỨU.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Lý do chọn đề tài Họ Ong xanh Chrysididae là một trong những nhóm ong có thành phần loài khá đa dạng và phong phú. Dựa trên những nghiên cứu gần đây nhất, có 2509 loài thuộc 84 giống thuộc họ này trên toàn thế giới đã được mô tả (Aguiar et al.
Các loài ong này phân bố khắp nơi thế giới nhưng tập trung chủ yếu ở phía bắc của Châu Á (Horning, 1969) [2]. Họ Ong xanh Chrysididae bao gồm các loài ký sinh (parasitoids) hoặc ký sinh ăn cắp (cleptoparasites) trên các loài thuộc các họ khác nhau của Bộ Cánh màng Hymenoptera. Ngoài ra, một vài nhóm còn ký sinh trên trứng bọ que hoặc các loài bướm đêm và ruồi (Kimsey and Bohart, 1991) [3]. Kimsey và Bohart (1991) chia họ Chrysididae thành bốn phân họ (Amiseginae, Chrysidinae, Cleptinae và Loboscelidinae), trong khi Mocsáry (1889) cho rằng Parnopinae là một phân họ [4].
Các loài ong thuộc họ Ong xanh Chrysididae ký sinh vào giai đoạn sâu non và nhộng của vật chủ. Chúng có ảnh hưởng đến thiên địch và các loài thụ phấn cho cây trồng (Ouayogode, 1979) [5]. Nhiều loài thuộc họ Chrysididae có hại về mặt kinh tế, chúng ký sinh trên các loài thiên địch kiểm soát dịch hại trên hệ sinh thái nông nghiệp hoặc các loài thụ phấn cho cây trồng. Điển hình là các loài thuộc giống Chrysis ký sinh trên cơ thể các loài ong bắt mồi đơn lẻ phân họ Eumeninae hay các loài ong mật thụ phấn thuộc họ Megachilidae.
Tuy nhiên, các loài ong xanh thuộc họ Chrysididae có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát sinh học của các loài côn trùng hại, nhiều loài trong chúng là những loài có lợi khi ký sinh trên các loài gây hại như cánh cứng gây hại, bọ que, rệp, bướm đêm hay bọ xít hại. Bên cạnh đó, loài ong thuộc họ Chrysididae rất nhạy cảm với những tác động của môi trường nên chúng có thể được sử dụng như những loài chỉ thị sinh học cho môi trường. Điển hình tại Phần Lan, gần một nửa số loài trong tổng số 49 loài ong thuộc họ Chrysididae ghi nhận được ở khu vực đều có mặt trong sách đỏ ở mức độ nguy cấp và sẽ nguy cấp. Tác giả đưa ra 2 nguyên dẫn đến suy giảm số lượng loài ong xanh do mất môi trường sống (Paukkunen et al.
Miền Bắc của Việt Nam được đánh giá là một trong những khu vực có độ đa dạng sinh học bậc nhất ở khu vực Đông Nam Á. Với địa hình đa dạng và phức tạp bao gồm đồi núi, đồng bằng, bờ biển và thềm lục địa và nền khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm là những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của côn trùng nói chung và các loài ong thuộc họ Chrysididae nói riêng. Tuy nhiên, cho đến nay, dẫn liệu về các loài ong thuộc họ Chrysididae ở Việt Nam còn rất hạn chế. Vì vậy, để làm rõ sự đa dạng của các loài ong thuộc họ Chrysididae, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu về thành phần và sự phân bố của các loài ong thuộc họ Chrysididae (Hymenoptera: Chrysidoidea) ở một số khu vực thuộc miền Bắc Việt Nam”.
Mục đích của đề tài Nghiên cứu thành phần các loài ong xanh thuộc họ Chrysididae ở một số khu vực điển hình đại diện cho miền Bắc, đồng thời so sánh sự đa dạng của chúng giữa các khu vực nghiên cứu, tạo cơ sở cho nghiên cứu sau này về phân loại, sinh học và sinh thái của các loài ong thuộc họ Chrysididae. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn - Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu nhằm đưa ra những dẫn liệu mới về thành phần và phân bố của các loài ong xanh thuộc học Chrysididae ở một số khu vực thuộc miền Bắc Việt Nam. - Ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu này tạo tiền đề cho những nghiên cứu về đa dạng sinh học và tiềm năng sinh học của các loài ong xanh thuộc họ Chrysididae nói riêng và tổng họ Chrysidoidae nói chung ở Việt Nam. Các điểm mới của luận văn Đây là nghiên cứu đầu tiên về thành phần và sự phân bố của các loài ong xanh thuộc họ Chrysididae ở một số khu vực thuộc miền Bắc Việt Nam.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Vị trí địa lý Theo Cục địa chất Việt Nam cho biết Bắc Bộ nằm ở vùng cực bắc lãnh thổ Việt Nam, phía bắc giáp với Trung Quốc, phía nam và tây nam giáp với dãy núi Tam Điệp (Ninh Bình), giáp với miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, phía tây giáp chân của dãy Hoàng Liên Sơn và phía đông giáp với Vịnh Bắc Bộ. Chiều dài theo hướng bắc – nam là 1650km, chiều ngang theo hướng đông – tây là 500km và rộng nhấ so với hai vùng Trung Bộ và Nam Bộ [7].
Theo phân vùng địa lý tự nhiên Việt Nam, miền Bắc Việt Nam nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm được tính từ dãy núi Bạch Mã trở ra, được giới hạn bởi tọa độ địa lý từ 16o đến 23,5 o vĩ Bắc và từ 102 o đến 108 o kinh Đông. Khu vực đồng bằng rộng lớn nằm ở lưu vực sông Hồng, có diện tích 167,782 km2 và chiếm 4.5% diện tích cả nước. Đồng bằng có dạng hình tam giác, đỉnh là thành phố Việt Trì và cạnh đáy là đường bờ biển phía đông. Đây là đồng bằng châu thổ lớn thứ hai Việt Nam (sau Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích 15.000 km2) do sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp.
Phần lớn bề mặt đồng bằng có địa hình khá bằng phẳng, độ cao từ 0.4-12m so với mực nước biển. Liền kề với đồng bằng sông Hồng về phía tây và tây bắc là khu vực Trung du và miền núi có diện tích rộng 102.7% diện tích cả nước. Địa hình ở đây bao gồm các dãy núi cao và hiểm trở, kéo dài từ biên giới phía bắc tới phái tây tỉnh Thanh Hóa. Vùng này từ lâu đã xuất hiện những khu vực đồng cỏ nhưng không lớn lắm và chủ yếu nằm dải rác trên cao nguyên với độ cao 600-700m.
Về phía khu vực Đông Bắc phần nhiều là núi thấp và đồi nằm ven bờ biển Đông, được bao bọc bởi các đảo và quẩn đảo lớn nhỏ. Ở vịnh Bắc Bộ tập trung quần thể bao gồm 3.000 hòn đảo nằm trong các khu vực biển vịnh Hạ Long, Bái 4 Tử Long, Cát Hải, Cát Bà và Bạch Long Vĩ và nhiều bờ biển đẹp như bờ biển Tà Cổ, Bãi Cháy, Tuần Châu và Vân Đồn thuộc tỉnh Quảng Ninh như Cát Bà, Đồ Sơn thuộc thành phố Hải Phòng, Đồng Châu thuộc tỉnh Thái Bình, Hải Định, Quất Lâm thuộc thành phố Nam Định. Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu ở một số tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, khu vực Đông Bắc và Tây Bắc do thời gian nghiên cứu có hạn và các mẫu vật được kế thừa từ các đồng nghiệp cũng như mẫu vật thu được từ các chuyển thực địa đều được ghi nhận ở khu vực này. Điều kiện tự nhiên Miền Bắc có vùng đồi núi tạo thành dạng cung tròn xung quanh biên giới phía Bắc của Việt Nam, mặc dù các khu vực miền núi này cao hơn và chiều rộng của cung tròn này mở rộng ra ở phía Bắc và phía Tây.
Bên trong cung tròn này là châu thổ sông Hồng rộng lớn. Những đồi thấp và tròn cao 150-200m trên mực nước biển và những thung lũng hẹp tạo thành vùng trung du chuyển tiếp giữa vùng phía trên của châu thổ và vùng núi. Vùng núi cũng bị cắt bởi một khu vực trũng rộng nằm ở phía Đông từ tỉnh Cao Bằng gần biên giới Trung Quốc kéo dài về phía Nam đến vùng ven biển. Các nhà địa chất mô tả nửa phía Bắc của Việt Nam là “sự pha trộn kiến tạo” bởi vì nó được ghép lại từ nhiều thành phần địa chất và sau đó bị biến đổi, biến dạng và sắp xếp lại qua hàng trăm triệu năm.
Được tạo thành từ sự va chạm của mảng Nam Trung Quốc và mảng Đông Dương và sau đó bị biến đổi bởi năng lượng tạo ra do sự va chạm của mảng Ấn Độ vào mảng Âu Á, nó vẫn là vùng có động đất hoạt động cho đến ngày nay. Ở phía Đông của sông Hồng, địa chất của miền Bắc Việt Nam chủ yếu có nguồn gốc từ Nam Trung Quốc. Ở phía Tây của sông Hồng, vùng tiếp giáp rộng kéo dài xuống phía Nam tới Đà Nẵng ở miền Trung Việt Nam, nơi các thành phần của mảng Nam Trung Quốc và mảng Đông Dương cũng như các mảng nhỏ khác trộn lẫn với nhau. Các đứt đoạn và nếp oằn rộng được hình thành trong khu vực này, chủ yếu trong thời kỳ sau sự 5 tác động của mảng Ấn Độ vào châu Á 50 triệu năm trước tạo ra một loạt các núi vào thung lũng chạy song song theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.