CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trong thời gian những năm gần đây, nhiều nước trên thế giới trong đó có các nước ở khu vực Đông Nam Á đã dành nhiều sự quan tâm cho việc nghiên cứu, sử dụng và bảo tồn các loài cây bản địa có giá trị. Tuy nhiên, có rất ít tài liệu nước ngoài nghiên cứu về loài Hoàng liên ô rô lá dày - Mahonia bealei (Fortune) Pynaert, chỉ có một số tài liệu mô tả, đánh giá khái quát về phân loại, hình thái, đặc điểm phân bố, đặc điểm sinh thái, giá trị sử dụng,. Phân loại thực vật - Phân loại và tên gọi Hoàng liên ô rô lá dày (Mahonia bealei (Fortune) Pynaert) thuộc chi Mã hồ (Mahonia Nutt., 1818), họ Hoàng liên gai (Berberidaceae) đã được Fortune Robert mô tả và công bố vào năm 1850 với tên Berberis bealei Fortune, 1850 [29]; đến năm 1875 Pynaert Édouard-Christophe đã xác định lại đây là loài thuộc chi Mahonia có tên là Mahonia bealei (Fortune) Pynaert [25].
Theo Ying Junsheng, David E. (1909) khi nghiên cứu về thực vật Đông Dương đã ghi nhận họ Hoàng liên gai có 2 chi, 21 loài trong đó chi Hoàng liên gai có 20 loài và chi Mã hồ có 01 loài. Chi Mã hồ - Mahonia có khoảng 60 loài, phân bố chủ yếu ở Đông Á và Đông Nam Á, phía Tây của Bắc Mỹ, vùng Trung Mỹ và phía Tây của Nam Mỹ. Các loài trong chi Mahonia thường là cây bụi thường xanh.
Chi Mahonia có quan hệ chặt chẽ với chi Hoàng liên gai (Berberis). Chính vì vậy, nhiều nhà thực vật học đã không tán thành việc chấp nhận tên chi Mahonia nên đã xếp chi Mahonia vào cùng với chi Berberis vì một số loài thuộc hai chi này có nhiều 5 đặc điểm giống nhau. Tuy nhiên, chi Mahonia có lá kép lông chim lớn dài từ 10 - 50cm, với 5 - 15 lá chét và hoa mọc thành các cành (dài từ 5 - 20cm) [24, 28, 29, 35]. - Về hình thái Trên thế giới, một số tác giả đã nghiên cứu, và mô tả hình thái Hoàng liên ô rô lá dày.
Tuy nhiên các nghiên cứu mới chỉ mô tả khái quát về đặc điểm một số cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản của loài. Theo Fortune 1850 trong The Gardeners' Chronicle & Agricultural Gazette đã mô tả Hoàng liên ô rô lá dày là cây bụi thường xanh, cao 2,4 - 3m. Lá kép lông chim lẻ dài 30,5 - 40,7cm, gồm 4 - 5 cặp lá chét. Lá chét lớn, mọc xiên, màu xanh bóng, phiến lá hình trứng, gốc lá hình tim, đầu lá nhọn tạo thành gai, mép lá xẻ răng cưa tạo thành các gai nhọn.
Hoa mọc cụm hình bông dài 15 - 23cm, mỗi cụm gồm khoảng 12 hoa màu vàng. Hoa thường ra vào mùa Đông, từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Quả màu xanh lục [29]. Theo Ying Junsheng, David E.
Lá kép lông chim màu xanh hơi vàng, thuôn dài 27 - 51 x 10 - 20cm, với 4 - 10 cặp lá chét. Lá chét màu xanh lục, gân lá không nổi rõ trên cả 2 mặt, cuống lá chét dài 2 - 4mm. Lá chét thường dày, cứng, kích thước 1,2 - 3,5 x 1 - 2cm, cặp lá thấp nhất hình trứng, kích thước 1,2 - 3,5 x 1 - 2cm, có 1 - 2 răng ở mỗi bên mép lá. Những cặp lá phía trên có hình trứng hay gần chữ nhật, kích thước 2 - 10,5 x 2 - 6cm, mỗi bên mép lá gồm 2 - 6 răng, đỉnh nhọn.
Lá chét ở phần phía trên lớn hơn nhiều với kích thước 7 - 13 x 3,5 - 10cm, cuống dài 1 - 6cm. Cụm hoa mọc đứng thẳng từ 3 - 9 tạo thành chùm dài 7 - 26cm. Lá bắc ở gốc cụm hoa hình trứng đến hình mác, kích thước 1,5 - 4 x 0,7 - 1,2cm. Cuống ngắn 4 - 6mm; lá bắc hoa hình trứng kích thước 2,3 - 2,5 x 1,5 - 2,5mm.
Cánh hoa màu vàng; lá đài phía ngoài hình trứng, kích thước 2,3 - 2,5 x 1,5 - 2,5mm; lá đài 6 phía trong hình trứng, kích thước 6,5 - 7 x 4 - 4,5mm; lá đài ở giữa hình elip, kích thước 5 - 6 x 3,5 - 4mm. Nhị hoa có kích thước 3,2 - 4,5mm, với bao phấn kích thước từ 1,1 - 1,3mm. Bầu thuôn dài hình trứng khoảng 3,2mm; noãn 3 hoặc 4; vòi nhụy ngắn. Quả mọng chín màu tím đậm, hình trứng khoảng 1,5 x 1 - 1,2cm; vòi nhụy sống dai.
Hoa thường ra từ tháng 9 đến tháng 6 năm sau; Quả từ tháng 3 đến tháng 5 [28]. - Đặc điểm phân bố và sinh thái Fortune Robert (1812 - 1880) trong The Gardeners' Chronicle & Agricultural Gazette, đã phát hiện và mô tả loài Hoàng liên ô rô lá dày - Mahonia bealei thường phân bố ở những đỉnh đồi nhỏ, rừng thường xanh, thị trấn Huy Châu, trung tâm tỉnh An Huy, Trung Quốc [29]. Năm 2001, Ying Junsheng và cộng sự trong Flora of China đã ghi nhận loài này thường phân bố ở ven rừng, ven suối hoặc lề đường, bụi cây ở độ cao từ 500 - 2. Tại các tỉnh An Huy, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Hà Nam, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tô, Giang Tây, Thiểm Tây, Tứ Xuyên và Chiết Giang ở Trung Quốc.
Ngoài ra, loài này cũng đã được trồng ở Nhật Bản, Mexico và các vùng có khí hậu ấm hơn của châu Âu và Hoa Kỳ, và cũng được nhập trồng ở phía Đông Nam của Hoa Kỳ [28]. Giá trị sử dụng Hoàng liên ô rô lá dày (Mahonia bealei) là loài có phạm vi phân bố khá hẹp, nên các tài liệu và công trình công bố nghiên cứu về giá trị sử dụng của loài này trên thế giới còn ít. Các tài liệu hiện nay mới chỉ tập trung ở Trung Quốc nơi loài này phân bố. Trong nền y dược học Trung Quốc, hầu hết các loài trong chi Mahonia Nutt.
được sử dụng làm thuốc, chúng được sử dụng để điều trị một số bệnh như bệnh lao, viêm lợi, kiết lỵ, viêm họng, chàm và làm lành vết thương. Đồng thời các loài trong chi này đều phát huy hết tác dụng của nó 7 trong việc thanh nhiệt, bài tiết độc tố, lưu thông máu, giảm ho và giảm viêm [25]. Mahoniae caulis là phần thân khô của loài Mahonia bealei là một trong những loại dược liệu truyền thống quan trọng được liệt kê trong Dược điển Trung Quốc năm 2010 với các đặc tính: thanh nhiệt, thanh lọc và loại bỏ độc tố và đã được sử dụng để điều trị bệnh nóng trong, tiêu chảy, kiết lỵ, vàng da, nước tiểu đỏ, đau mắt đỏ, đau răng, viêm loét dạ dày, sưng tấy và áp xe [25, 34]. Theo nghiên cứu của Hu (2011), Zeng X (2003) và Zeng X (2006) đã cho thấy, thân và rễ của loài Mahonia bealei có khả năng chống ô xy hóa và ức chế sự phát triển của tế bào ung thư ruột kết ở người, alkaloid có trong dịch chiết từ rễ của loài này ở nồng độ 0,25mg/ml gây ra sự ức chế quá trình gia tăng của virus cúm A1.
Theo "Fu Jian Yao Wu Zhi" (Fujian Institute of Medicine, 1979) đã chỉ ra rằng Mahonia bealei có thể được sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau, bao gồm các bệnh về răng miệng, bệnh ngoài da, đường ruột và rối loạn hô hấp. Liên quan đến điều trị bệnh kiết lỵ và tiêu chảy, rễ của loài Mahonia bealei và thân loài Euphorbiae humifusae đã được kết hợp với nhau sắc nước uống để điều trị. Ngoài ra thân, rễ Mahonia bealei và rễ của loài Drynaria sp. cũng được sắc lấy nước để rửa các bộ phận của cơ thể bị bệnh chàm [30, 34].
Ngoài ra, một số nghiên cứu về thành phần hóa học của loài Mahonia bealei cũng cho thấy dịch chiết từ loài này có khả năng kháng sinh, chống oxy hóa và chống cúm. Trong nghiên cứu của Cong Yue và cs. (2011), Xiangying Zeng và cs. Kỹ thuật nhân giống bảo tồn Nhìn chung, đa số các tài liệu nước ngoài khi nghiên cứu về loài Hoàng liên ô rô lá dày (Mahonia bealei), mới dừng lại ở nghiên cứu mô tả, đánh giá khái quát về phân loại, hình thái, đặc điểm phân bố, đặc điểm sinh thái của loài, mà chưa đi sâu nghiên cứu về giá trị sử dụng và bảo tồn.
Hiện nay, chưa có công bố nào liên quan đến nghiên cứu bảo tồn loài cây này. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 2. Phân loại thực vật - Phân loại, tên gọi Ở nước ta, ngoài tên gọi thông thường là Hoàng liên ô rô lá dày, thì loài cây này còn có nhiều tên gọi khác nhau. Trong các tài liệu khác nhau như Nguyễn Tiến Bân (2003); Đỗ Tất Lợi (2009); Võ Văn Chi (2012) còn sử dụng các tên khác nhau để gọi loài Hoàng liên ô rô lá dày như Hoàng liên ô rô, Thập đại công lao, Thổ hoàng bá, Thổ hoàng liên [2, 7, 14].
Về danh pháp quốc tế, trải qua một thời gian dài đi sâu phân tích, hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất với danh pháp quốc tế của loài Hoàng liên ô rô lá dày là Mahonia bealei (Fortune) Pynaert. Ở Việt Nam, họ Hoàng liên gai (Berberidaceae) còn được gọi là họ Hoàng Mộc, Mã Hồ, họ gồm có 4 chi và 9 loài. Họ có rất nhiều đặc điểm chung với các họ Lardizabalaceae, Sargentodoxaceae và Menispermaceae. Nhưng khác với các họ này, họ Hoàng liên gai thường là cây bụi, gỗ nhỏ hoặc là cỏ nhiều năm, có hoa lưỡng tính, bao phấn thường mở bằng 2 van, bộ nhụy đơn số, noãn nhiều và đính trên đường nối bụng hoặc noãn chỉ 2 và đính gốc.
Chính vì vậy, họ Hoàng liên gai là đối tượng nghiên cứu khá phức tạp [1, 2]. 9 -Về hình thái Theo Phạm Hoàng Hộ (2003), mô tả Hoàng liên ô rô lá dày là cây bụi cao đến 1m. Lá kép lẻ; lá chét dai, mép có răng nhọn, hình trái xoan đến tròn dài, gốc lá tròn hay cắt ngang. Chùm hoa vàng; lá đài 9; cánh hoa 6; tiểu nhụy.
Phì quả lam đen, và ăn được. Theo sách đỏ Việt Nam (2007), Hoàng liên ô rô lá dày là cây bụi, cao 1,5 - 3m. Vỏ thân lúc non nhẵn, sau dày lên, có lớp bần màu xám trắng. Đường kính thân 2 - 4cm.
Gỗ thân và rễ có màu vàng. Lá kép lông chim lẻ, dài 15 - 35cm; mỗi bên có 4 - 7 lá chét không cuống; lá chét trên cùng to hơn, có cuống; phiến lá chét hình bầu dục biến dạng hoặc hình trứng lệch, cỡ 3 - 9 x 2,5 - 4,5cm, cứng, dày, gốc tròn hoặc hơi hình tim, đỉnh nhọn hoắt thành gai, mép khía 3 - 7 răng nông, nhọn sắc ở đầu; gân chính 3, gân phụ nổi rõ ở mặt trên. Cụm hoa mọc ở ngọn, gồm 1 - 5 nhánh, hình bông, có thể phân nhánh.