Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu về chi Luồng 1. Nghiên cứu về đặc điểm sinh học Trên thế giới chi Luồng (Dendrocalamus) có khoảng 60 loài (Ohrnberger, 1999) [80], (Yi et al, 2008) [105], (Guo et al, 2010) [71], (Munro, 1868) [78].
Theo một số tác giả đã công bố, chi Luồng có phân bố rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của Châu Á từ Ấn Độ, Nepal, Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Maylaysia đến Papua New Guinea (Gamble,1896) [70], (Srapleton, 1994) [94], (Dransfied và Widjaja, 1995) [65], (Ohrnberger, 1999) [80], (Seethalakshmi và Kuma, 1998) [90], (Li và Stapleton, 2006) [76]. Riêng miền Nam Trung Quốc có 37 loài (Guo et al, 2010) [71]. Phân bố ở độ cao từ vài chục mét đến 1.700m so với mực nước biển, trong điều kiện đất ẩm, chủ yếu sống ở trong rừng, dọc ven suối và trong rừng thứ sinh nghèo (Ohrnberger, 1999) [80]. Rangsiruji và cộng sự (2018) [88] cho rằng việc phân biệt các loài trong chi Luồng thường khó do không có sự khác biệt về hình thái và ra hoa không thường xuyên.
Do đó, các phương pháp xác định loài bằng mô tả hình thái đang dần được thay thế bằng phương pháp xác định DNA có độ tin cậy cao. Tác giả cũng phân biệt 5 loài gồm D. sp nhờ sử dụng phương pháp chỉ thị phân tử AND. Sowmya và cộng sự (2015) [93] nghiên cứu cho loài tre Mạnh tông (D.
asper) cho thấy loài này ở nơi có điều kiện nhiệt đới ẩm phát triển tốt hơn so với điều kiện bán khô hạn ở bán đảo Ấn Độ. Sau khi trồng 5 năm, trong điều kiện bán khô hạn trung bình có 16 măng/cụm/năm và đường kính trung bình măng là 18 ± 1,1mm. Trong điều kiện nhiệt đới ẩm trung bình mỗi cụm sinh ra 25 măng mỗi năm, đường kính măng trung bình là 55 ± 2mm, khối lượng măng thu được cũng cao hơn (> 2kg). Tác giả cho rằng nên khai thác 30% tổng số măng sinh ra trong năm từ năm thứ 5 là thích hợp.
Khi phân tích măng cho thấy không có sự khác biệt về thành phần dinh dưỡng trong măng khi trồng ở vùng nhiệt đới ẩm và vùng bán khô hạn về các chỉ tiêu protein, carbohydrate, chất xơ và chất béo. 6 Jihad và cộng sự (2021) [75] nghiên cứu ảnh hưởng của đai độ cao tới sinh trưởng của loài Mạnh tông (D. asper) cho thấy ở các đai độ cao thấp, trung bình và cao có nhiệt độ bình quân tương ứng 21,39°C, 20,22°C và 18,51°C không có sự khác nhau về sinh trưởng, chiều cao cây đạt lần lượt là 17,28 ± 0,99m, 16,38 ± 2,53m, 15,42 ± 3,7m. Tuy nhiên Mera và Xu (2014) [77], Xie và cộng sự (2019) [103] cho rằng nhiệt độ, lượng mưa và các đặc tính của đất có thể ảnh hưởng đến sự phân bố và tăng trưởng của tre.
Banik (2016) [54] lại cho rằng nhiệt độ cao có thể kích thích tăng trưởng và nhiệt độ thấp sẽ ức chế sự phát triển của măng tre. Một số nghiên cứu khác cũng đã chứng minh rằng sự thay đổi độ cao sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của tre và độ cao thấp hơn mang lại tốc độ phát triển lớn hơn (Hoek et al, 2019) [73]; (Clark et al, 2015) [61]. Nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống Trên thế giới đã có nhiều tác giả quan tâm và đề cập đến nhân giống tre trúc như Banik (1985) [52], Hassan (1977) [72], Swarup và Gambhir (2008) [96], Nautial và cộng sự (2008) [79] bằng nhiều phương pháp khác nhau như bằng hạt, chiết, nuôi cấy mô, chồi gốc, giâm hom, có thể kể đến một số công bố tiêu biểu như sau: Chi Dendrocalamus có thể thực hiện nhân giống bằng phương pháp hữu tính hoặc sinh dưỡng, nhưng chủ yếu là bằng phương pháp nhân giống sinh dưỡng. Bernard Kingomo (2007) [56] đã đề cập đến nhân giống bằng cách dùng thân và gốc để tạo cây con.
Nếu dùng hom thân, lấy thân cây có độ tuổi từ 2-3 năm, cắt một đoạn có 2-3 mắt để làm hom, đục lỗ cách các mắt từ 5-7cm, sau đó vùi trong đất trộn cát sâu 6-10cm theo hướng nằm ngang, sau đó dùng axits 1 – Naphthalene acetic (NAA) đổ vào lỗ đã đục để kích thích ra rễ. Nếu dùng gốc để trồng, chọn cây từ 1-2 năm tuổi, đào sâu 30-60cm và cắt toàn bộ gốc mang đi trồng ngay. - Nhân giống bằng phương pháp giâm hom: A. Ramanatha (2000) [87] cho biết nhân giống sinh dưỡng là phương pháp có hiệu quả với hầu hết các loài tre.
Nhân giống bằng giâm hom cành có tính thực tiễn và hiệu quả cao, thích hợp cho các vườn gieo ươm thương mại với quy mô lớn. Phương pháp này sử dụng cho các loài có rễ khí sinh quanh gốc của các cành ngang. Nghiên cứu cũng đánh giá rằng các cành lớn có nhiều khả năng ra rễ hơn các cành nhỏ. Khả năng ra rễ của mỗi loài là khác nhau và phụ thuộc vào độ dài của đoạn hom và độ dày của vách.
Tre vách dày có khả năng ra rễ cao hơn vì có nhiều 7 dinh dưỡng trong đoạn hom để cung cấp cho rễ và măng phát triển. Phương pháp giâm hom cành áp dụng cho các loài tre mọc cụm thuộc các chi như Bambusa, Dendrocalamus. Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu tre Trung Quốc (2001) [59] về giâm hom tre cho các loài trong chi Dendrocalamus, Bambusa sử dụng các hom cành to cho tỷ lệ sống đạt tới 83,75%, nếu sử dụng cành nhỏ tỷ lệ sống chỉ khoảng 10%. Những cành sử dụng là cành của cây 1 năm tuổi, có trên 2 mắt phía trên của cành, đường kính cành khoảng trên 1cm, chiều dài cành cắt khoảng 30cm và cắt vát ở phần trên với góc 45 độ, cành để lại 3-5 lá.
Nghiên cứu của Fu Maoyi và cộng tác viên (2000) [68] về giâm hom bằng cành cho thấy cành được chọn để giâm hom tốt nhất có độ tuổi 1-2 năm và lấy từ cây 3 năm tuổi, độ dài hom 40-50cm có từ 2 hoặc 3 đốt, cành nên được đặt nghiêng so với luống và lấp đất ở độ sâu 5-6cm. Nhân giống có thể thực hiện tốt vào tháng 2 đến tháng 9, tuy nhiên vào tháng 2-3 cho tỷ lệ sống cao hơn, cành sử dụng cho giâm hom có kích cỡ nhỏ nên dễ dàng tích trữ, xử lý, vận chuyển, có chi phí thấp về giá cả. Trồng cây giâm hom có sự phát triển tốt về hệ rễ và cho tỷ lệ sống cao. Victor Cusack (1997) [101] nghiên cứu sử dụng hom thân cho thấy tỷ lệ thành công của phương pháp này là khác nhau giữa các loài tre và phụ thuộc vào kỹ thuật sử dụng, nhân giống tốt nhất vào mùa xuân.
Ở phương pháp này, tác giả chọn một cây trưởng thành khoảng 2-3 năm tuổi với chiều dài hom thân 1,5-2m, cắt tất cả các cành và lá trên hom, có thể để một cành dài hơn ở một số đốt. Đoạn hom thân được giâm trong rãnh đất ở độ sâu 150mm, các cành dài để nhô ra khỏi mặt đất, tưới nước hàng ngày trong tuần đầu, sau đó 2 lần một tuần trong khoảng 3 tuần tiếp theo, thường xuyên giữ đất ẩm ở những tuần kế tiếp. Sau 4 tuần những cành và lá sẽ được phát triển từ các mắt, nếu gặp điều kiện thuận lợi rễ sẽ phát triển và tạo thân ngầm và măng mới. Tác giả đưa ra 2 loại hom có thể sử dụng là hom thân 1 đốt hoặc 2 đốt.
N và Ramanatha Rao V (2000) [87] nghiên cứu về giâm hom sử dụng hom thân cũng cho rằng đây là một phương pháp có hiệu quả để nhân giống các loài tre có vách dày và kích thước lớn (8-12cm đường kính) như B. Những cây 1 năm tuổi sử dụng phù hợp cho giâm hom, hom được cắt đoạn để lại 1 hoặc 2 đốt sau đó giâm trong môi trường ra rễ với một góc 450 và độ sâu 20cm. Phần đốt được 8 đặt trong các môi trường ra rễ với một mắt hở ở bên trên. Thực hiện tưới nước 2 lần/ngày và chồi mới có thể mọc sau 2 - 4 tuần sau đó.
Nước, thuốc chống nấm và thuốc trừ sâu thường xuyên được sử dụng trong 6-12 tháng trước khi ra ngôi. Tuy nhiên, tác giả nhận định phương pháp này là không phổ biến vì có chi phí đắt, thêm vào có sự giới hạn trong sử dụng hom thân 1 năm tuổi, vì vậy cần đưa thêm cách nhân giống khác. Nghiên cứu của Fu Maoyi (2000) [68] về nhân giống bằng hom thân 1 đốt cho thấy hom thân sử dụng từ cây 1 hoặc 2 năm tuổi, cây được cắt khúc để lại 1-2 lóng. Nếu cây mẹ có đường kính 4cm, có thể cho ra 10 đốt dùng được và cây mẹ lớn hơn 6cm có thể duy trì 15-20 đốt.
Sau khi chuyên chở đến vườn ươm, các hom được cắt cẩn thận không làm tổn thương tới mắt. Khoảng cách từ vị trí cắt của 2 bên hom từ mắt đốt tới bên phải và bên trái là 6-9cm và tưới nước thường xuyên sau khi giâm hom và phủ cỏ trên luống. Tác giả cho rằng nhân giống các loài tre có vách mỏng khác bằng cắt khúc thường ít thành công và không hiệu quả vì vậy khó sử dụng trong mô hình nhân giống có quy mô lớn. Phương pháp này phù hợp với loại tre có vách dày và kích thước lớn hơn như loài D.
Mặc dù rất nhiều mắt đốt có thể nảy mầm nhưng chỉ khoảng 30% trong số mắt sống sót sau cùng. Fu Maoyi (2000) [68] đưa ra một phương pháp nhân giống trong đó sử dụng các cây tre non sau khi đã kết thúc sinh trưởng về chiều cao được chặt phần ngọn để kích thích sự phát triển của mắt, khi mắt đã đủ lớn cây được ngả xuống luống đã được chuẩn bị sẵn với độ sâu và độ rộng 10-15cm có chứa hỗn hợp phân bón và đất. Cây ngả được phủ đất với độ dày 2-3cm, thường xuyên tưới nước và giữ ẩm cho đất là yếu tố quan trọng để nhân giống thành công. Nhân giống vào tháng 2-3, măng mọc vào tháng 4-5 và rễ phát triển vào tháng 7-8, cây sau 1 năm tuổi đạt chiều cao khoảng 120cm đạt tiêu chuẩn trồng rừng.
Phương pháp này được tác giả khuyến cáo sử dụng cho các loài tre mọc cụm có kích thước trung bình như D. Singh và cộng sự (2004) [92] nghiên cứu về giâm hom tre Mạnh tông (D. asper) với 2 loại hom cành là hom cành gần thân (hom có đùi gà cấp 1) và hom cành xa thân (các hom cấp 2) trong môi trường giá thể cát có phun sương, độ ẩm khống chế ở mức 70% và nhiệt độ 300C.