CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI 1. Nghiên cứu về đặc điểm lâm học 1. Cấu trúc quần thể thực vật rừng Nội dung cơ bản của khoa học lâm học đó là cấu trúc rừng là một, nó bao hàm sự phối trí trong không gian và thời gian mà chủ yếu là của thực vật rừng.
Cấu trúc rừng mưa nhiệt đới đã được nghiên cứu từ việc mô tả, phân tích bởi Richards (1952), Odum (1971), Baur (1976), … Các nghiên cứu này đã đưa ra khái niệm và mô tả về tổ thành loài cây, các dạng sống cơ bản và tầng phiến của rừng, tiêu biểu là tác giả Odum (1971) đã đề xuất khái niệm hệ sinh thái rừng trên cơ sở hoàn chỉnh thuật ngữ hệ sinh thái. Cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng trên quan điểm sinh thái học là khái niệm hệ sinh thái rừng, khái niệm cấu trúc rừng. Cấu trúc rừng được phát triển mạnh mẽ cùng với khoa học toán thống kê và công nghệ xử lý trên máy tính nhằm định lượng và phát hiện các quy luật phức tạp của cấu trúc của rừng mưa nhiệt đới hỗn loài khác tuổi và được khái quát hóa thành các hàm toán học thông kê để mô tả chúng. Cấu trúc tổ thành, dạng sống cơ bản của rừng mưa nhiệt đới Rừng mưa nhiệt đới có tính đa dạng rất cao về thành phần loài động vật, thực vật rừng.
Có từ 70 -100 loài cây gỗ trên 1 ha rừng nhiệt đới, tuy nhiên hầu như không có loài nào chiếm hơn 10% tổ thành loài dẫn theo Richards (1952). Khi tiến hành nghiên cứu ở rừng Amazon, Baur (1976) đã ghi nhận được 36 họ thực vật trên ô tiêu chuẩn rộng 20.000 m2 hay tại New South Wales (Úc) cũng đã thống kê được 31 họ thực vật, không kể thực vật ngoại tầng, thân thảo và thực vật phụ sinh trên ô tiêu chuẩn 40. Theo tác giả Catinot, (1974) trong rừng mưa nhiệt đới khu vực phía Đông Nam Á, thường có một nhóm loài chiếm ưu thế, hình thành nên các ưu hợp từ 5 – 10 loài, 4 trong đó các loài thuộc họ Dầu chiếm tới 50% số lượng cá thể trong quần thể rừng thưalá rộng rụng lá cây họ dầu; Loàiưu thế cây gỗ thường được xác định qua chỉ số loài IV% (Importance Value Index) của Curtis và McIntosh (1950), Thái Văn Trừng, 1978; Bảo Huy, 2017). Narayan và Anshumali, (2015) tính thông qua các đại lượng N%, G% và F% với N% là % mật độ loài, G% là % tổng tiết diện ngang (G) của loài và F% là tần suất xuất hiện loài.
Theo Richards, 1952; Odum, 1971; Baur, 1976, các dạng sống được mô tả là rất đa dạng trong rừng mưa nhiệt đới bao gồm cây thân gỗ, thân thảo, dây leo, phụ sinh, ký sinh, … và chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trên sơ sở các mối quan hệ sinh thái, …Cũng theo Richards, 1952; Baur, 1976, xử lý mối quan hệ giữa các dạng sống để đạt được mục tiêu quản lý rừng khác nhau là phức tạp, trong khi kinh doanh rừng gỗ thì các loài dây leo, phụ sinh, ký sinh trên cây gỗ cần được loại trừ, trong khi đó để bảo tồn đa dạng sinh học thì các dạng sống đều có ý nghĩa của nó trong việc cân bằng hệ sinh thái rừng; Đặc biệt là mốiquan hệ giữacác nhóm thực vật rừng 1. Một số nghiên cứu về cây Chò nâu trên thế giới Sách đỏ thế giới (IUCN) đã xếp cây Chò nâu (Dipterocarpus retusus) ở phân hạng bảo tồn EN. A2cd (Endangered) thuộc đơn vị phân hạng nguy cấp. Trên thế giới Chò nâu phấn bố ở các nước: Campuchia; Trung Quốc (Vân Nam, Tây Tạng); Ấn Độ (Assam, Nagaland, Arunachal Pradesh); Indonesia ( Sunda Is., Jawa); Lào; Malaysia (Bán đảo Malaysia); Myanmar; Thái Lan và Việt Nam.
Loài Chò nâu có nguồn gốc từ Châu Á, nó được tìm thấy ở Ấn Độ, trên khắp Đông Dương và các tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. Loài này cũng được tìm thấy trên các đảo của Indonesia. Phân bố ở độ cao từ 310m đến 1.600m so với mặt nước biển. Loài Chò nâu có phạm vi phân bố tự nhiên rộng nhưng trong phạm vi phân bố số lượng cá thể ít và phân tán, (Báo cáo thống kê phát triển rừng của Cộng hòa Ấn Độ (Singh et al.
Nằm trong vùng 5 phân bố tự nhiên nhưng số lượng cá thể Chò nâu ở Vân Nam lại rất hiếm (Xiwen et al. Chò Nâu là loài cây gỗ lớn có thể cao tới 50 m (Singh et al. Cây mọc ở vùng đất thấp, rừng thường xanh ẩm ướt và rừng trên núi. Ở Malaysia, Chò nâu được tìm thấy trong các khu rừng sồi (Quercus sp.) (Chua et al.
Nó có thể được tìm thấy trong các lâm phần thuần loài nhưng phổ biến hơn là trong các khu rừng hỗn giao. Môi trường sống của loài hiện đang bị suy giảm cả về mức độ và chất lượng. Phạm vi phân bố, mật độ loài: Loài Chò nâu có nguồn gốc từ Châu Á, nó được tìm thấy ở Ấn Độ, trên khắp Đông Dương và các tỉnh Xizang và Vân Nam của Trung Quốc. Loài này cũng được tìm thấy trên các đảo của Indonesia.
Phân bố ở độ cao từ 300 m đến 1.500 m so với mặt nước biển và có phạm vi xuất hiện ước tính (EOO) vượt quá 4 triệu km2. Môi trường sống và sinh thái: Là loài cây gỗ lớn có thể cao tới 50 m (Singh et al. Cây mọc ở vùng đất thấp, rừng thường xanh ẩm ướt và rừng trên núi. Ở Malaysia, Chò nâu được tìm thấy trong các khu rừng sồi (Quercus sp.) (Chua et al.
Nó có thể được tìm thấy trong các lâm phần thuần loài nhưng phổ biến hơn là trong các khu rừng hỗn giao. Môi trường sống của loài hiện đang bị suy giảm cả về mức độ và chất lượng. Tình hình sử dụng gỗ Chò nâu, mối đe dọa loài: Loài Chò nâu đang bị đe dọa do mất môi trường sống và bị chia cắt. Môi trường sống bản địa của nó đang tiếp tục suy giảm về diện tích, mức độ và chất lượng do giải phóng mặt bằng để mở rộng đất nông nghiệp.
Loài này cũng có nguy cơ bị khai thác chọn lọc để lấy gỗ. Cây Chò nâu được sử dụng để lấy gỗ (Mark et al. Nó thuộc chi Dipterocarpus sản xuất gỗ cứng trung bình có giá trị thương mại và có tên 6 thương mại là Kerving. Ở Ấn Độ, gỗ thường được sử dụng trong sản xuất ván ép, tủ đựng trà, thùng đóng gói và tà vẹt đường sắt (Singh và cộng sự 2014), ở Vân Nam, gỗ được sử dụng trong xây dựng dân dụng (Xiwen và cộng sự 2007).
Tổng quan về ADN mã vạch (DNA barcode) Năm 2003, Paul Heber – nhà nghiên cứu tại Đại học Guelph, Ontario đưa ra lần đầu tiên. Để phân biệt hai loại sinh vật với nhau, người ta dùng mã vạch ADN sử dụng một trình tự ADN ngắn nằm trong geneome của sinh vật đó là một chuỗi ký tự duy nhất giúp nó tương tự như máy quét trong siêu thị đọc hai mã vạch của hai sản phẩm mà nhìn bên ngoài của chúng rất giống nhau nhưng thực sự là khác nhau. Phương pháp định danh mà nó sử dụng một đoạn ADN chuẩn ngắn nằm trong bộ genome của sinh vật đang nghiên cứu nhằm xác định sinh vật đó thuộc loại nào người ta căn cứ vào mã vạch ADN. và cộng sự, (2010), thông tin về các loài cần xác định được xác định thông qua các trình tự mã vạch được nhân bản từ ADN hệ gen của bố mẹ dự kiến sẽ cung cấp.
Khó khăn nhất trong việc khuếch đại PCR từ gen nhân vì gen nhân chủ yếu là đơn gen hoặc có bản sao gen thấp, đặc biệt từ sự suy thoái và chất lượng ADN genome và khả năng phân biệt dưới loài do bảo toàn gen chức năng có thể chính là lý do tại sao hạn chế số lượng các gen nhân được thử nghiệm trong xác định loài bằng phương pháp ADN mã vạch. Hệ gen của thực vật gồm phân tử ADN mạch vòng có kích thước 122 – 162 kb chia làm hai bản sao đơn là bản sao đơn lớn (large single-copy region) và bản sao đơn nhỏ (small single-copy region). Hai bản sao được phân cách bởi hai chuỗi lặp lại đảo nhau (Ira và Irb) có độ dài trung bình 20 – 30 kb. Các gen rRNA (4 gen ở thực vật bậc cao), các gen tRNA (35 gen) và các gen khác mã hóa cho các protein tổng hợp trong lục lạp (khoảng 100 gen) cần thiết cho sự tồn tại của chúng được nằm trong hệ gen lục lạp.
7 Tính bảo thủ cao của hệ gen lục lạp có và mang tính đặc thù của từng loài nên việc sử dụng các kết quả phân tích hệ gen lục lạp vào nghiên cứu phát sinh loài và phân loại thực vật được các nhà khoa học rất quan tâm. Các nghiên cứu về phát sinh loài và các nghiên cứu gần đây, một số locus là đoạn gen hay các gen được chọn để nghiên cứu làm chỉ thị barcode tiềm năng cho các loài thực vật trên trái đất được dựa trên những thông tin có sẵn. Được sử dụng trong nghiên cứu phát sinh loài hiện có khoảng 20 gen lục lạp có độ dài phù hợp (khoảng 1 kb). Theo Liu và cộng sự, (2016), Vijayan K.,(2010), Các gen này chứa đựng nhiều mức độ tiến hoá và vì vậy phù hợp cho nhiều mức độ phân loại.
Trong số các gen lục lạp, matK là một trong những gen tiến hoá nhanh nhất, có kích thước khoảng 1550 bp và mã hóa cho enzyme maturase liên quan đến quá trình loại bỏ các intron loại 2 trong quá trình phiên mã RNA. matK đã được sử dụng như một chỉ thị trong nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài và phát sinh loài ở thực vật do matK tiến hoá nhanh và có mặt hầu hết trong thực vật. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM 1. Nghiên cứu về đặc điểm lâm học 1.
Cấu trúc quần thể thực vật rừng Thái Văn Trừng (1978, 1999) là người đầu tiên nghiên cứu về cấu trúc rừng ở Việt Nam. Ông đã phân chia thực vật rừng nhiệt đới thành 5 tầng. Tiếp theo là Nguyễn Văn Trương, 1973, 1983; Đồng Sĩ Hiền, 1974, đã nghiên cứu cấu trúc và được lượng hóa mô phỏng định lượng theo các hàm toán học, phân bố xác suất có độ tin cậy cao và có tính khái quát. Cấu trúc quần thể thực vật rừng nhiệt đới bao gồm cấu trúc không gian 3 chiều (Nguyễn Văn Trương, 1973, 1983; Đồng Sĩ Hiền, 1974) và động thái của nó còn gọi là cấu trúc theo thời gian (Nguyễn Văn Trương, 1973, 1983; Đồng Sĩ Hiền, 1974; Thái Văn Trừng, 1978; 13 Phùng Ngọc Lan, 1986; Bảo Huy, 2017).