ĐẶT VẤN ĐỀ Trên thế giới, việc sử dụng các loài thảo dƣợc để điều trị các bệnh thƣờng gặp trong cộng đồng các dân tộc đƣợc hình thành từ lâu đời. Việc sử dụng đúng loài thảo dƣợc với từng loại bệnh khác nhau có thể mang lại hiệu quả tích cực trong việc chữa trị của các thầy thuốc. Mỗi dân tộc khác nhau có tri thức giống nhau và khác biệt trong việc sử dụng thảo dƣợc do những khác biệt của hệ thực vật từng cộng đồng dân tộc trên thế giới. Theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới, có khoảng 80% dân số trên thế giới đang sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật trong hỗ trợ và điều trị sức khỏe.
Giá trị y tế, kinh tế mang lại từ nguồn thảo dƣợc này vô cùng quý giá. Tính đến năm 2016, thị trƣờng thảo dƣợc thế giới đạt khoảng 71,19 tỷ USD và có thể đạt đến 5.000 tỷ USD vào năm 2050 với mức tăng trƣờng bình quân hàng năm là 8%. Với những giá trị kinh tế to lớn mang lại từ nguồn thảo dƣợc, sự giả mạo các nguyên liệu thảo dƣợc thuốc cũng trở thành vấn đề toàn cầu. Các nguyên liệu thảo dƣợc này có thể đƣợc thay thế bằng các loại thảo mộc khác có quan hệ họ hàng gần gũi, thậm chí từ những nguyên liệu giả mạo.
Mộc vệ ký sinh (Scurrula parasitica L.) là một cây thuốc đƣợc sử dụng phổ biến trong nền Y học cổ truyền của nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Trung Quốc, loài cây thuốc này đƣợc sử dụng đề điều trị phong thấp đau nhức xƣơng, lƣng gối mỏi đau, trẻ em bị di chứng bại liệt, tay chân tê liệt; thiếu sữa, thai động không yên; cao huyết áp, phù thũng và cũng đƣợc dùng chữa viêm khớp và đau dạ dày. Ở Ấn Độ, nhân dân dùng lá giã đắp trị mụn nhọt, lở lo t. Ở Việt Nam, Mộc vệ ký sinh đƣợc sử dụng trong nền Y học cổ truyền để chữa phong thấp, gân cốt, nhức mỏi, đau lƣng gối, đau bụng, động thai, phụ nữ sau sinh không có sữa với liều dùng khoảng 12 – 20g ở dạng thuốc sắc hoặc nấu nƣớc uống thay trà.
Dƣợc điển Việt Nam V (2017) quy định dƣợc liệu Tang ký sinh đƣợc lấy từ loài Mộc vệ ký sinh (Scurrula parasitica L.) ký sinh trên cây Dâu (Morus alba L. Tuy nhiên, do khả năng sống ký sinh trên nhiều nhóm cây chủ khác nhau, dẫn đến chất lƣợng của nhóm dƣợc liệu Mộc vệ ký sinh không ổn đinh làm ảnh hƣởng đến hiệu quả trong điều trị các nhóm bệnh khi sử dụng loài dƣợc liệu này. Ngoài ra Mộc vệ ký sinh còn bị nhầm lẫn với một số loài Tầm gửi khác cũng ký sinh trên cây Dâu. Do đó, vấn đề nhận biết dƣợc liệu Mộc vệ ký sinh là thực sự cần thiết.
Trong công tác kiểm nghiệm dƣợc liệu hiện nay, phƣơng pháp đƣợc dùng chủ yếu dựa trên phân tích hình thái vĩ mô (quan sát bằng mắt) và vi mô (quan sát tiêu bản hiển vi) của mẫu vật. Tuy vậy, phƣơng pháp hình thái học gặp trở ngại sau khi các nguyên liệu thực vật đã qua xử lý hoặc sơ chế. Vì vậy, các phƣơng pháp bổ sung giúp xác định chính xác các loài cây thuốc dựa trên hệ gen (ADN) đặc thù của chúng đã đƣợc phát triển vào cuối những năm 1990. Công việc này nối tiếp các thành tựu về ứng dụng các kỹ thuật phân tích DNA trong nghiên cứu hệ thống học thực vật đƣợc bắt đầu khoảng mƣời năm trƣớc đó kể từ sự phát minh phản ứng chuỗi trùng hợp - PCR.
Phƣơng pháp PCR và sau này là sự phát triển của kỹ thuật giải trình tự ADN tự động đã tạo bƣớc ngoặt có tính cách mạng trong các nghiên cứu về ADN. Trong thực tế, các nhà phân loại học phân tử hiện nay đang hình dung ra danh mục tất cả các loài sinh vật sống trên trái đất bằng cách sử dụng kỹ thuật gọi là mã vạch ADN (DNA barcode) thông qua việc xác định đƣợc các trình tự DNA ngắn đặc trƣng của chúng và dùng chúng nhƣ “mã vạch” để nhận biết các mẫu sinh học kể cả khi chúng đã đƣợc sơ chế hoặc bảo quản lâu dài. Việc phát hiện ra các mã vạch ADN ở các loài cây thuốc sẽ có giá trị bổ sung cho các nghiên cứu tiêu chuẩn hóa và kiểm định chính xác dƣợc liệu nói riêng, và đóng góp vào nỗ lực xác định mã vạch cho tất cả các loài sinh vật trên trái đất nói chung. Từ thực tế trên, tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hình thái, vi phẫu, bột dƣợc liệu và xác định đoạn DNA Barcode của loài Mộc vệ ký sinh – Scurrula parasitica L.
thu thập tại Hƣng Yên và Hà Nội” nhằm xây dựng bộ dữ liệu về đặc điểm hình thái, vi phẫu, bột dƣợc liệu và DNA barcode giúp nhận dạng và phân biệt loài. Góp phần xác định tính đúng của dƣợc liệu làm thuốc phục vụ công tác kiểm nghiệm dƣợc liệu, đóng góp thêm vào dữ liệu là vô cùng quan trọng cho những hoạt động nghiên cứu kế tiếp tiến hành trên loài này. Đề tài đƣợc thực hiện với các mục tiêu cụ thể nhƣ sau: 1. Nghiên cứu và xác định đặc điểm hình thái, đặc điểm vi phẫu, bột dƣợc liệu của loài Mộc vệ ký sinh (Scurrula parasitica L.
Xác định DNA barcode của loài Mộc vệ ký sinh (Scurrula parasitica L.) đƣợc thu thập ở 2 địa điểm là Hƣng Yên và Hà Nội và so sánh với trình tự đã công bố trên Genbank. Với mục tiêu nhƣ trên, nội dung nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào: - Xác định tên khoa học của các mẫu thu thập. - Nghiên cứu đặc điểm hình thái: phân tích mô tả cơ quan sinh dƣỡng, cơ quan sinh sản. - Nghiên cứu đặc điểm vi phẫu: vi phẫu bộ phận sinh dƣỡng (thân, lá) và bột dƣợc liệu.
- Xác nhận chỉ thị trnH-psbA là chỉ thị hữu ích trong việc nhận dạng và phân biệt loài. CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan nghiên cứu về phân loại họ Tầm gửi (Loranthaceae) 1. Trên thế giới Trên thế giới, họ Tầm gửi (Loranthaceae) gồm khoảng hơn 70 chi, với khoảng 1000 loài phân bố tập trung ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Các loài trong họ chủ yếu là bán ký sinh trên các cây thân gỗ, trừ ba loài sống không ký sinh trên cây thân gỗ là Nuytsia floribunda R. Br - cây giáng sinh của Australia, Atkinsonia ligustrina (Lindl. - một loài cây bụi rất hiếm của dãy núi Blue tại Australia và một loài ở Trung và Nam Mỹ là Gaiadendron punctatum (Ruiz & Pav.Jussier (1808) [43] là ngƣời đầu tiên mô tả và đặt tên cho họ Tầm gửi lấy từ tên chi Loranthus - là một trong hai chi (Loranthus và Scurrula) đƣợc nhà thực vật học nổi tiếng ngƣời Thụy Điển C. Linnaseus mô tả trong công trình nghiên cứu “Species Plantarum” [44].Hooker (1880) [18] họ Loranthaceae thành 2 tông Eulorantheae và Visceae với 13 chi dựa vào đặc điểm hoa đơn tính hay lƣỡng tính; các tông và chi phân biệt với nhau dựa trên các nhóm đặc điểm: số ô của bầu, cách nở của hoa,.
Vào cuối thế kỷ XIX, A. Tác giả dựa trên các nhóm đặc điểm hình thái cơ quan sinh dƣỡng và cơ quan sinh sản, phân bố địa lý,. và bắt đầu đặt nền tảng cho việc nghiên cứu mối quan hệ gần gũi giữa các taxon trong họ. Điều này giúp cho việc phân định giữa các taxon mang tính bền vững hơn.
Theo quan điểm này của A. Engleer, họ Loranthaceae gồm 2 phân họ: Loranthoideae và Viscoideae; trong mỗi phân họ mới chia thành các nhóm gồm các chi mang nhóm đặc điểm giống nhau. Đến năm 1919 [45], tác giả đã bổ sung và phân chia họ Loranthaceae thành 2 phân họ, mỗi phân họ đƣợc chia đến bậc tông; trong đó: Loranthoideae gồm 1 tông; Viscoideae gồm 1 tông; các tông và các chi phân biệt với nhau dựa vào nhóm đặc điểm: cấu trúc của cụm hoa, tính đối xứng của hoa; mức độ dính nhau của ống tràng, tính chất dính nhau hay rời nhau của bộ nhị, đặc điểm hình thái của vòi nhụy và đầu nhụy.; trong công trình này, tác giả nghiên cứu rất chi tiết về đặc điểm hình thái và chiều hƣớng tiến hóa của cụm hoa. Engler đã phân chia thành các bậc taxon rõ ràng từ phân họ, tông, chi, dƣới mỗi chi gồm các nhóm đƣợc xếp vào các section [45].
Đến năm 2003, Qiu Huaxing và Michael G. Gilbert trong “ Flora of China” đã ghi nhận họ Tầm gửi với 8 chi và 48 loài. Họ tầm gửi có đặc điểm chung nhƣ sau: cây bụi, thƣờng là bán ký sinh trên các cây hạt giống khác, lan dọc theo vật chủ bởi rễ giác mút, cây ký sinh ở trên mặt đất hiếm gặp hơn, các đốt không khớp với nhau, nhẵn hoặc có lông, lông thƣờng hình sao hoặc hình vòng. Lá mọc đối hoặc xen kẽ, không có lá kèm; cuống lá thƣờng khó quan sát; phiến lá đơn giản, thƣờng có gân hình lông chim, m p nguyên.
Cụm hoa mọc ở nách lá hoặc trên đỉnh cây, mọc theo chùm, bông hoặc tán; lá bắc thƣờng không rõ ràng, đôi khi hình thành lá bao rõ ràng (trong chi Tolypanthus). Hoa thƣờng lƣỡng tính, hiếm khi đơn tính, chia 4-6 thùy, có tính đối xứng tỏa tia hoặc đối xứng hai bên, thƣờng dễ thấy. Đài hợp thành hình trứng, lá đài hình khuyên đến hình ch n, có răng cƣa ngắn, khó rụng. Cánh hoa thƣờng có 4-6 cánh, để tự do hoặc hợp lại với nhau.
Đĩa hoa thƣờng không rõ ràng đến không có. Nhị hoa có số lƣợng bằng với cánh hoa, đối diện và hợp vào cánh; bao phấn chủ yếu mọc trên đỉnh chỉ nhị, đôi khi mọc dọc theo chỉ nhị, 2-4 khoang. Phấn hoa dẹt hoặc hơi dẹt, thƣờng có 3 thùy, hoặc hình tam giác. Noãn nhỏ, có 1 hoặc 3-4 khoang, không có noãn thực, túi phôi có nguồn gốc từ một cột trung tâm hoặc ở gốc noãn, không có vỏ.
Chỉ nhị đơn giản; đầu nhụy nhỏ. Quả mọng, có một lớp viscin (mô nhầy dính) ở bên ngoài các bó mạch. Hạt 1; không có vỏ; nội nhũ đa dạng; Phôi lớn. Tại Việt Nam Ở Việt Nam cho đến nay đã ghi nhận họ này có 6 chi: Dendrophthoe, Elytranthe, Helixanthera, Macrosolen, Scurrula, Taxillus với hơn 30 loài, nhiều loài sử dụng làm thuốc.
Nguyễn Tiến Bân (1994) [1] trong Tạp chí Sinh học số 16 đã đƣa ra danh sách họ Tầm gửi gồm 2 phân họ Loranthoideae và Viscoideae với 8 chi và 43 loài, 1 thứ. Năm 2003 [7], tác giả đã coi Loranthoideae và Viscoideae là 2 họ độc lập với tên là Loranthaceae và Viscaceace; khi đó họ Tầm gửi còn 5 chi, 33 loài và 1 thứ.