Đặt vấn đề Rừng vốn đƣợc mệnh danh là ”Lá phổi xanh” của trái đất với chức năng điều hòa khí hậu, hạn chế thiên tai, bão, lũ lụt cùng với việc tham ra vào duy trì cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học bằng cách tham ra vào chu trình tuần hoàn sinh vật của thiên nhiên. Rừng là nơi cƣ trú và là nơi sinh sống của rất nhiều loài động, thực vật. Rừng là nơi cung cấp thức ăn cho động vật nói chung, con ngƣời nói riêng. Ngoài ra rừng còn đƣợc coi là nguồn vật chất cơ bản nhằm thỏa mãn nhu cầu của con ngƣời, ngoài việc cung cấp gỗ rừng còn cung cấp những lâm sản ngoài gỗ (LSNG) nhƣ: Thực phẩm, gia vị, tinh dầu, nhựa, củi, cây làm thuốc, cây cảnh, cây nhuộm màu, nguyên liệu giấy sợi và nhiều giá trị sử dụng khác.
Khi rừng nguyên sinh bị tàn phá, đất đai bị xói mòn, rửa trôi, tình trạng sa mạc hóa ngày càng gia tăng, diện tích rừng tự nhiên ngày càng thu hẹp. Tài nguyên sinh vật đang bị đe dọa, nhiều loài sinh vật bị khai thác cạn kiệt trở nên quý, hiếm và đang đứng trƣớc nguy cơ dần bị tuyệt chủng. Khi con ngƣời chúng ta không có biện pháp khắc phục sẽ tàn phá đi kho dự trữ, tàn phá đi nguồn vật chất cơ bản của sự sống. Vì vậy con ngƣời cần phải thay đổi tƣ duy của chính mình với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên theo phƣơng châm ”Phát triển bền vững” là một yêu cầu cấp thiết không thể trì hoãn.
Việc duy trì, bảo vệ rừng và tài nguyên rừng luôn trở thành nội dung quan tâm của các quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam hơn 80% là dân số sống ở các vùng nông thôn, miền núi cuộc sống ngƣời dân nghèo khó, trình độ dân trí thấp vì vậy cuộc sống của họ thƣờng xuyên lệ thuộc vào rừng để tìm kiếm thức ăn, khai thác gỗ và LSNG. Để đáp ứng nhu cầu, cuộc sống của họ mặt khác do nhu cầu thị trƣờng về các sản phẩm từ rừng ngày càng cao công tác quản lý chƣa chặt chẽ làm ảnh hƣởng không nhỏ đến đa dạng sinh học, làm cho nhiều loài đang đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng cao, thậm chí một số loài không còn khả năng tái tạo. Đứng trƣớc tình trạng đó Đảng và Nhà nƣớc ta đã có những giải pháp bảo vệ và phát triển rừng nhƣ việc thành lập hệ thống các Khu bảo tồn (KTB), khu rừng đặc dụng, n 2 rừng phòng hộ đồng thời ban hành các văn bản luật và dƣới luật quy định nhằm bảo tồn các loài động vật, thực vật quý, hiếm.
Định Hóa là một huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên, với tổng diện tích tự nhiên là 513.5 km2 (2011), điều kiện tự nhiên thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên tƣơng đối đa dạng và phong phú. Là nơi còn nhiều loài động thực vật đặc hữu và quý hiếm với nhiều giá trị sử dụng khác nhau đặc biệt là giá trị làm thuốc. Trên địa bàn huyện còn có 8 dân tộc anh em cùng sinh sống bao gồm: Tày, Nùng, Thái, Kinh, Sán Chỉ, Dao, Cao Lan, H’Mông. Để bảo vệ rừng, Nhà nƣớc ta đã có pháp lệnh cụ thể về khai thác rừng.
Với sự ủng hộ của các tổ chức bảo vệ môi trƣờng trên thế giới, phong trào thực hiện vƣờn rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc… Đang đƣợc tiến hành rộng khắp. Chúng ta hi vọng rằng rừng Việt Nam sẽ đƣợc bảo tồn và ngày càng phát triển. Thời gian gần đây, dƣới sự tác động của con ngƣời hệ sinh thái rừng và môi trƣờng sống bị thu hẹp diện tích và nhiều loài động vật thực vật đang đứng trƣớc nguy cơ bị tuyệt chủng trong tƣơng lai gần. Để ngăn ngừa sự suy thoái ĐDSH ở Việt Nam đã tiến hành công tác bảo tồn thông qua hệ thống các khu bảo tồn trên toàn đất nƣớc.
Nhƣng do nhu cầu sử dụng gỗ xây dựng và phuc vụ cuộc sống hàng này, nhiều loài gỗ quý vẫn bị khai thác quá mức. Đặc biệt là cây Gù hƣơng khi cách đây hơn 20 năm đã khai thác quá mức để lấy gỗ làm nhà, buôn bán… Để tìm hiểu một số đặc điểm sinh thái loài cây Gù hƣơng phục vụ công tác bảo tồn nguồn gen cây rừng. Tôi tiến hành thực hiện Khóa luận tốt nghiệp “Nghiên cứu đặc tính sinh học của loài cây Gù hương (Cinnamomum balansae H. Lecomte) làm cơ sở cho bảo tồn và phát triển loài tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên”, từ đó đƣa ra biện pháp bảo tồn và phát triển giống cây này trên địa bàn huyện Định Hóa tỉnh Thái nguyên.
Mục tiêu nghiên cứu - Xác định đƣợc những đặc điểm cơ bản về hình thái của loài Gù hƣơng (Cinnamomum balansae) tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên. - Xác định đƣợc một số đặc điểm sinh thái của cây Gù hƣơng tại khu vực nghiên cứu và đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài. Ý nghĩa của Khóa luận 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Khóa luận là việc vận dụng những kiến thức mà sinh viên tiếp thu đƣợc trong quá trình học tập tại trƣờng và nó có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với ngƣời thực hiện.
Khóa luận sẽ giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, củng cố kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế, biết cách tích lũy, thu nhập, phân tích, xử lý thông tin cũng nhƣ kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng thôn bản và ngƣời dân. Khóa luận sau khi hoàn thành có thể làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu sau đó và làm cơ sở cho việc sử dụng bền vững loài cây có giá trị của cộng đồng. Ý nghĩa trong thực tiễn Khóa luận góp phần nghiên cứu chuyên sâu, tìm hiểu và đánh giá thực trạng phát triển của cây Gù hƣơng, từ những giải pháp đề xuất đƣợc sẽ là cơ sở giúp chính quyền địa phƣơng, ngƣời dân xác định đƣợc hƣớng bảo tồn, phát triển loài cây có giá trị này. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học Cây Gù hƣơng (Cinnamomum balansae) thuộc họ Re - Long não (Lauraceae) là một loài đặc hữu của Việt Nam, quý, hiếm đa tác dụng.
Hiện đƣợc xếp ở phân hạng bảo tồn sẽ nguy cấp (VU) Sách đỏ Việt Nam (2007) [1], trong danh lục đỏ IUCN hiện nay thuộc phân hạng nguy cấp (EN). Đây là loài cây có giá trị kinh tế, thân gỗ dùng cho chế biến các sản phẩm mỹ nghệ, gốc, rễ thân có thể dùng để sản xuất tinh tinh dầu. Do có giá trị kinh tế cao nên hiện nay hoạt động khai thác trái phép cây này ở Việt Nam đang là rất mạnh nên số lƣợng cá thể loài còn lại rất ít. Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủ Việt Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Nam để hƣớng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên.
Phiên bản IUCN 2008 đƣợc phát hành ngày 6 tháng 10 năm 2008 trong Đại hội Bảo tồn Thế giới ở Barcelona có một số sửa đổi so với phiên bản 2007 và 2006. Các loài Động thực vật nguy cơ bị tuyệt chủng đƣợc xếp vào 9 bậc theo các tiêu chí về mức độ đe dọa tuyệt chủng nhƣ tốc độ suy thoái (rate of decline), kích thƣớc quần thể (population size), phạm vi phân bố (area of geographic distribution), và mức độ phân tách quần thể và khu phân bố (degree of population and distribution fragmentation). Nghị định quy định các loài động thực vật quý hiếm nghiêm cấm và hạn chế vào mục đính thƣơng mại. n 5 Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH có rất nhiều loài động thực vật thuộc nhóm bị đe dọa gồm các cấp bảo tồn CR, EN và VU cần đƣợc bảo tồn, nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá cho thành phần đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, đây là cơ sở khoa học giúp tôi tiến hành Khóa luận này.
Tình hình nghiên cứu trong nƣớc và ngoài nƣớc 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Sự suy thoái nhanh chóng của diện tích rừng nhiệt đới trên toàn cầu với tốc độ ƣớc tính khoảng 12,6 triệu ha mỗi năm, tƣơng đƣơng 0,7% tổng diện tích rừng nhiệt đới (FAO, 2001) đã gây ra những tác hại to lớn về kinh tế, xã hội và môi trƣờng. Rừng nhiệt đới đƣợc xem nhƣ những “kho chứa” về tính đa dạng sinh học (ĐDSH) của thế giới (Kanowski và Boshier, 1997) nên sự suy thoái về số lƣợng lẫn chất lƣợng của rừng nhiệt đới đồng nghĩa với sự suy giảm tính ĐDSH. Vì vậy, việc phát triển những chiến lƣợc hiệu quả nhằm bảo tồn, khôi phục và phát triển tính ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang nhận đƣợc sự quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều dự án bảo tồn ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang đƣợc tiến hành trên quy mô toàn cầu.
Để nâng cao nhận thức trong xã hội và toàn cộng đồng về tính cấp thiết của việc bảo tồn đa dạng sinh học và tạo cứ liệu quan trọng cho công tác bảo tồn, từ năm 1964, hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới, đã cho xuất bản các bộ sách đỏ nhằm cung cấp một cách khoa học và có hệ thống danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới. Năm 1994, IUCN đã đề xuất những thứ hạng và tiêu chuẩn mới cho việc phân hạng tình trạng các loài động vật, thực vật bị đe doạ trên thế giới. Các thứ hạng và tiêu chuẩn của IUCN đƣợc cụ thể hoá nhƣ sau: Loài tuyệt chủng (EX), loài rất nguy cấp (CR), loài nguy cấp (EN), loài sẽ nguy cấp (VU)… Năm 2004 Sách đỏ IUCN công bố văn bản đánh giá các loài động thực vật gọi là (Sách đỏ 2004) vào ngày 17 tháng 11 năm 2004. Văn bản này đã đánh giá tất cả 38.047 loài, cùng với 2.140 phân loài, giống, chi và quần thể.503 loài nằm trong tình trạng nguy cơ tuyệt chủng gồm 7.180 loài động vật, 8.321 loài thực vật, và 2 loài nấm.
n 6 Danh sách cũng công bố 784 loài tuyệt chủng đƣợc ghi nhận từ năm 1500. Nhƣ vậy là đã có thêm 18 loài tuyệt chủng so với bản danh sách năm 2000. Mỗi năm một số ít các loài tuyệt chủng lại đƣợc phát hiện và sắp xếp vào nhóm DD. Ví dụ, trong năm 2002 danh sách tuyệt chủng đã giảm xuống 759 trƣớc khi tăng lên nhƣ hiện nay.