mở đầu cho những ý tưởng tâm lý học trong mối quan hệ giữa mỗi cá nhân với nhà nước và chính quyền. Lốc cho rằng, sở hữu của con người quyết định mối quan hệ của anh ta với nhà nước, khác với quan niệm về chính quyền của Hốpxơ. Nhà triết học người pháp Rútxô (Rousseau) đưa ra quan điểm về xã hội không phải là tập hợp của những con người khác nhau, bao gồm những lợi ích khác nhau mà phải là một cơ thể thống nhất, trong đó mỗi thành viên là một phần không thể tách rời. Ta còn có thể nhắc đến những tên tuổi khác nữa như Hen- venxi, Hê ghen.
Những tư tưởng tâm lý học xã hội có cả trong triết học duy tâm lẫn triết học duy vật. Chúng không tách rời những tư tưởng và những hiện tượng tâm lý cơ bản nhất. Vì thế, phân biệt được đâu là khía cạnh tâm lý học xã hội thuần tuý là một điều khó khăn. Do cũng là lý do đã làm cho tâm lý học xã hội ra đời muộn so với nhiều khoa học khác, tuy đã có sẵn những tiền đề.
TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI HÌNH THÀNH NHƯ MỘT KHOA HỌC ĐỘC LẬP Từ những "tư duy tâm lý học xã hội" đã có ngay từ buổi bình minh của xã hội loài người, được biểu hiện trong các sinh hoạt xã hội đến những tư tưởng tâm lý học xã hội xuất hiện trong những luận điểm triết học từ thời có đại, tâm lý học xã hội đã trải qua một giai đoạn dài phát triển trong lòng các khoa học khác mới trở thành một khoa học độc lập. Ở đây chúng ta cần chú đến ba điểm chính: Thứ nhất là nhu cầu phát giải quyết các vấn đề tâm lý học xã hội phát sinh ở ranh giới của các khoa học khác nhau. Thứ hai là quá trình chuẩn bị để hình thành vấn đề đặc trưng cho tâm lý học xã hội trong lòng hai khoa học chính: tâm lý học và xã hội học. Cuối cùng là đặc điểm của những dạng đầu tiên của tri thức tâm lý học xã hội như một bộ môn khoa học độc lập.
Vào giữa thế kỷ 19 có một bước tiến đặc biệt trong sự phát triển của rất nhiều ngành khoa học, trong số đó là các khoa học có liên quan trực tiếp tới nhiều mặt khác nhau của đời sống xã hội. Đầu tiên ta phải nhắc đến sự phát triển của ngôn ngữ học. Nhu cầu thúc đẩy sự phát triển của khoa học này là làn sóng di dân của thế giới tư bản, khi mà chủ nghĩa tư bản đang phát triển, những quan hệ kinh tế giữa các nước ngày càng được mở rộng. Những vấn đề cấp bách được đặt ra là sự giao lưu ngôn ngữ, sự giao tiếp và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các dân tộc, và do đó dẫn đến những mối liên quan giữa ngôn ngữ với những yếu tố tâm lý của các dân tộc.
Mặt khác, ngôn ngữ không thể giải đáp được hết những nhu cầu nảy sinh này. Cùng với ngôn ngữ học, các khoa học khác như nhân chủng học, dân tộc học và khảo cổ học cũng gặp nhiều khó khăn khi giải thích những hiện tượng mang tính chất xã hội phát sinh ngày càng nhiều. Nhà nhân chủng học người Anh Tailor đề cập đến văn hoá cổ đại trong tác phẩm của mình. Nhà dân tộc học và khảo cổ học người kỹ Morgan nghiên cứu về lối sống của người da đỏ.
Nhà xã hội học và dân tộc học người Pháp Lêvi Brul nghiên cứu về các đặc điểm tư duy của con người cổ đại. Nói tóm lại, các nhà khoa học lớn nói trên đều tìm đến các nghiên cứu mang mầu sắc tâm lý như truyền thống, phong tục tập quán, những đặc điểm của các nhóm người thuộc các dân tộc khác nhau. Tình hình cũng như thế đối với khoa học hình sự: sự phát triển các mối quan hệ trong xã hội tư bản làm nảy sinh những hành vi phạm pháp mới mà nguyên nhân sâu xa phải tìm đến những hiện tượng tâm lý của những nhóm xã hội khác nhau. Như vậy từ nhu cầu của thực tiễn đã dần dần hiện rõ một đối tượng cho một ngành khoa học.
Nhu cầu phải có những nghiên cứu tâm lý học xã hội còn thấy rõ hơn trong sự phát triển của hai khoa học, được coi là "cha mẹ" của tâm lý học xã hội, đó là xã hội học và tâm lý học. Sự phát triển của tâm lý học cho đến giữa thế kỷ 19 có đặc điểm như là tâm lý học cá nhân. Tuy nhiên trong những lĩnh vực riêng rẽ như trong tâm lý học bệnh lý đã xuất hiện mầm mống của các khái niệm tương lai về các hình thức tác động qua lại đặc trưng giữa người với người. Cũng như vậy trong tâm lý học thần kinh, sự sử dụng thôi miên như là một hình thức đặc biệt của ám thị thúc đẩy sự ra đời của các khái niệm mà trong tâm lý học xã hội gọi là sự điều chỉnh hành vi.
Thực tế, tính chất phụ thuộc của quá trình điều chinh hành vì cá nhân vào các tác động có tính định hướng của người khác đã được xem xét. Như vậy là các nghiên cứu đã tiến sát tới phạm vi của tâm lý học xã hội. Tuy nhiên, như đã nói sự hình thành những dạng dầu tiên "tiền tâm lý học xã hội" đó không nằm ở chính giữa trục đường phát triển của tâm lý học, mà nó tạo thành một nhánh riêng biệt từ "thân cây" là bộ môn tâm lý học. Trong quá trình nghiên cứu lịch sử của tâm lý học xã hội chúng ta còn tìm thấy các tri thức của nó lẩn khuất trong nhiều khoa học ra đời trước nó như lý thuyết về nhà nước và pháp luật, chính trị kinh tế học, đạo đức học.
và nhất là xã hội học. Vào giữa thế kỷ 19 xã hội học ra đời như một khoa học độc lập. Gần như từ lúc khởi thuỷ nó đã cố gắng giải thích những hiện tượng xã hội bằng các qui luật đã có ở các bộ môn khoa học khác. Những thuyết đầu tiên của xã hội học dựa trên cơ sở lý luận ở sinh học.
Tuy nhiên để giải thích nhiều hiện tượng xã hội, sinh học không đủ khả năng và cơ sở khoa học. Khi đó, các nhà bác học buộc phải tìm đến những giải thích ở các qui luật Tâm lý học. Việc tìm cội rễ của các hiện tượng xã hội ở tâm lý học đã làm rõ nét đặc trưng của đời sống xã hội khi so sánh nó với đời sống sinh học. Thoạt tiên, các nhà xã hội học tìm đến tâm lý học cá nhân.
Ví dụ như học thuyết của Tarde, nhà xã hội học người Pháp. Ông ta cho rằng mỗi hiện tượng xã hội dù đơn gỉan nhất cũng không thể tạo nên do một bộ não, mà là sự va chạm của một vài trí óc và do đó cần đến sự nghiên cứu tâm lý. Ông đi đến mô hình chung cho các hiện tượng xã hội như là sự tác động qua lại giữa hai cá thể, khi một người trong số họ bắt chước người kia. Khi sự đơn giản hoá các hiện tượng xã hội theo những mô hình tâm lý học cá nhân kiểu như trên tỏ rõ những điểm yếu thì xã hội học lại tìm đến với tâm lý học tập thể.
Từ đó hình thành một hướng mới trong xã hội đó là những trường phái tâm lý trong xã hội học. Ông tổ của trường phái này ở Mỹ được coi là Lester Uord, nhưng những nội dung chính của nó được thể hiện rõ hơn ở những bài viết của Franklin Giddings. Theo ông ta những hiện tượng xã hội cơ sở không được tạo nên bởi ý thức của từng cá nhân riêng rẽ mà là ý thức của nòi giống. Từ đó hiện tượng xã hội được qui về “tri thức xã hội”.
Sự nghiên cứu "tri thức xã hội" phải được thực hiện trong tâm lý học xã hội, hay như ông ta hiểu thực chất là xã hội học. Như vậy, tâm lý hoá các hiện tượng và các nghiên cứu trong xã hội học đã phát triển rất mạnh và thu được sự đồng tình của đông đảo các nhà xã hội học. Tuy nhiên, điều này cũng gây trở ngại cho sự xác định tính đặc thù và đối tượng của tâm lý học xã hội. Đôi khi tâm lý học xã hội bị đánh đồng với trường phái tâm lý trong xã hội học.
Tóm lại, bên cạnh những kết quả về tâm lý học thu được khi nghiên cứu các hiện tượng xã hội, việc tâm lý hoá xã hội học cũng gây trở ngại nhất định cho sự phát triển của tâm lý học xã hội như một khoa học độc lập. Nhìn một cách tổng thể, sự phát triển của tâm lý học và xã hội học làm nảy sinh nhiều vấn đề trên ranh giới chung của hai khoa học này. NHỮNG HÌNH THỨC ĐẦU TIÊN CỦA TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI Từ những tri thức manh nha trong nhiều khoa học khác nhau, trên bước đường hình thành của nó, tâm lý học xã hội đã xuất hiện những hình thức đầu tiên mà Hipsơ và Phorvec cũng đã đưa ra cách phân loại các hình thức này dựa trên sự phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa cá nhân và xã hội, đánh giá vai trò của chúng trong mối quan hệ như thế nào. Trong tâm lý học dân tộc, xã hội được coi là hàng đầu còn trong tâm lý học đám đông và thuyết bản năng của hành vi thì ngược lại.
Cả hai quan điểm này còn phát triển tiếp tục ở các giai đoạn sau này của lịch sử tâm lý học xã hội. Tâm lý học dân tộc Tâm lý học dân tộc là một trong những hình thức lý luận đầu tiên của tâm lý học xã hội, hình thành vào giữa thế kỷ XIX ở Đức. Đối với nó, trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, vai trò hàng đầu là xã hội. Ở đó tồn tại một "tinh thần (hay tâm hồn) siêu cá nhân" nào đó phụ thuộc vào các chỉnh thể siêu cá nhân.
Các chỉnh thể này là nhân dân hay dân tộc. Ở đây, điều cần nhấn mạnh là quan điểm này đã tuyệt đối hoá các mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội và sự tuyệt đối hoá này gắn với dân tộc. Chúng ta sẽ hiểu vì sao khi xem xét quá trình hình thành các dân tộc ở châu Âu lúc đó, chẳng hạn ở Đức, quá trình này diễn ra dưới hình thức đặc biệt vì sự cần thiết thống nhất các lãnh địa phong kiến riêng rẽ. Đặc điểm này biểu hiện ở một loạt quan điểm lý luận trong nghiên cứu xã hội Đức thời kỳ đó.