LỜI MỞ ĐẦU Than kinh học là một lĩnh vực nghiên cứu tương đối còn non trẻ. Năm 1970 , Hiệp Hội Thần Kinh , một tổ chức chuyên môn của các nhà thần kinh học , được sáng lập .Ngày nay , hiệp hội này là một trong những tổ chức khoa học lớn nhất thế giới với hơn 25.000 thành viên trên toàn thế giới. Thần kinh học có mối quan hệ mật thiết với các ngành khoa học khác, đòi hỏi một hệ thống nghiên cứu gồm nhiều khía cạnh khác nhau :giải phẫu than kinh , sinh lý thin kinh , nội tiết thin kinh , sinh học phân tử thân kinh , dược học than kinh, v. Thần kinh học còn cho thấy não hoạt động để điều khiển hành vi như thế nào.
Nghiên cứu thần kinh cần phải có kinh nghiệm và kiến thức về toán , hóa học (hóa đại cương , hóa vô cơ và sinh hóa ), vật lý , sinh học đại cương, di truyền học , sinh lý hoc , sinh học phân tử , tam thần học (hành vi , trí nhớ , ý thức , cảm giác và nhận thức),v. Trong thế kỷ qua , não bộ của con người đã không ngừng kích thích các nhà khoa học trên thế giới lao vào nghiên cứu , tìm hiểu và họ đã đạt được những thành tựu đáng kể. Ngày nay , thần kinh học được xem là một trong những lĩnh vực nghiên cứu nhanh nhất và lôi cuốn nhất. Đặc biệt, những thông tin vể não được khám phá trong vòng mười năm qua so với trước đây thì có nhiều hơn.
Do vậy , những năm 90 được gọi là “thập niên của não bệ”. Là một lĩnh vực nghiên cứu mới mẻ và có nhiều tiểm năng như vậy , trong thế kỷ qua , rất nhiều công trình nghiên cứu về hệ than kinh đã được xét và trao giải Nobel , một giải thưởng cao quý vào bậc nhất đối với giới khoa học. Thế nhưng hiện nay tài liệu bằng tiếng Việt có tính hệ thống để cập đến các khám phá. hiểu biết của con người vé não bộ trong suốt thế kỷ qua ít tìm thấy.
Đây là vấn để mà người làm công tác khoa học , giảng day và học tập rất quan tam. Chính vì vậy , với mục đích cung cấp tài liệu tham khảo cho việc học tập , giảng day và nghiên cứu khoa học , em đã chọn để tài tốt nghiệp là “Tìn: hiểu sự phát triển của giải phẫu sinh lý thần kinh ở thế kỷ XX qua các giải Nobel Y học - Sinh lý học “. Những công trình được tặng giải Nobel nói chung đều là những kết quả quan trọng đặc trưng cho lĩnh vực khoa học được xét cấp giải. Do đó , từ sự phân tích nội dung và ý nghĩa của các công trình được xét cấp giải , chúng ta có thể theo dõi lịch sử phát triển của các ngành khoa học từ cuối kỷ XIX đến nay.
thế Bằng phương pháp lịch sử logic kết hợp với phân tích hệ thống , công việc đầu tiền của khón luận này là tìm nguồn tài liệu , dịch sang tiếng Việt rỗi sau đó sắp xếp lại , một cách có hệ thống , theo trình tự thời gian , nội dung tất cả các công trình nghiên cứu về hệ than kinh đã được trao giải Nobel Y học - Sinh lý học. nhằm giúp người đọc dễ hình dung ra quá trình phát triển của giải phẫu , sinh lý thần kinh trong suốt thế kỷ qua và thấy được lịch sử phát triển của các giải Nobel gắn rất mật thiết với lịch sử thần kinh học ở thế kỷ XX. i) Trong khóa luận này, em không đặt nặng mục tiêu tự bản thân phân tích ý nghĩa của các công trình đạt giải Nobel đối với việc thúc đẩy sự phát triển của khoa học và đối với thực tiễn. Vấn để này quá lớn , vượt ra ngoài khả nang của em.
Do vậy, ở đây , em chỉ xin được tổng kết lại những đánh giá , ý kiến của các chuyên gia về thin kinh nổi tiếng đã được công bố trên các báo , các phương tiện thông tin , và em cũng không đi sâu vào tiểu sử của các nhà khoa học được tặng giải. Tuy khái quát nhưng từ đó chúng ta cũng có thể rút ra những kết luận có ý nghĩa liên quan đến quá trình phát triển của giải phẫu , sinh lý thần kinh. Ngoài ra , để có một cái nhìn tương đối hoàn chỉnh về những bước đi của khoa học thần kinh , em cũng đã cố gắng trình bày thêm vé một số công trình rất đáng chú ý có liên quan đến hệ thần kinh nhưng không được giải Nobel , déng thời cũng nêu ra những vấn để còn chưa sáng td , chưa được giải quyết trong lĩnh vực này. Trong quá trình thực hiện để tài , em đã hết sức cố gắng tham khảo các nguồn tài liệu , đặc biệt là nguồn thông tin phong phú trên mạng Internet , để có thể giới thiệu một cách ngấn gọn nhưng đẩy đủ và chính xác về các công trình nghiên cứu Tuy vậy , khóa luận này chắc chấn vẫn còn nhiều thiếu sót , chưa thực sự đạt được mục tiêu như mong muốn , do nguồn tài liệu không đẩy đủ và khả năng hạn chế.
Cuối cùng , em xin chân thành cẩm ơn cô Trin Thúy Ai đã tận tình hướng đẫn em trong việc lựa chọn tài liệu cũng như trong việc sửa chữa các Sai sót trong dich thuật , biên soạn và biên tập tài liệu. ^ PHAN I: SƠ LƯỢC SU PHAT TRIEN CUA SINH HOC 6 THE KY XX QUA CAC GIAI NOBEL A. LICH SỬ GIẢI THƯỞNG NOBELI'*9-®' I. CUỘC ĐỜI CUA ALFRED BERNHARD NOBEL ALFRED BERNHARD NOBEL (1833 -1826) Nobel là nhà hóa học , nhà sáng chế , nhà từ thiện nổi tiếng người Thụy Điển.
Nobel sinh ngày 21-1-1833 tai Stockholm , mất ngày 16-12- 1896 , Cha của Nobel , Imanuel Nobel , là một nhà phát minh danh tiếng mặc dù chưa từng học qua một trường cao đẳng cũng như chưa từng học qua một lớp hóa học nào , nhưng ông say mê làm các thí nghiệm hóa học , dồn tâm sức vào việc chế tạo thuốc nổ. Đường đời cha Nobel gặp nhiều trở ngai. Năm Nobel 6 tuổi , cha ông đang làm ở Thụy Điển bị phá sẵn , đành phải một mình sang Nga tìm kế sinh sống. Tại đây , ông được chính phủ Nga tài trợ cho việc nghiên cứu thủy, địa lôi.
Xí nghiệp phát triển hưng thịnh và ông đã đón gia đình đến ở Petersburg vào tháng 10 năm 1842 (lúc này Nobel được 9 tuổi). Alfred Nobel là con trai thứ ba trong một gia đình gdm bốn anh em trai , là mOt cậu bé ốm yếu nên được gia đình đặt nhiều tình thương , được cha mẹ mời thay về dạy riêng. Mùa thu năm 1849 , Nobel 16 tuổi mà đã học xong một cách xuất sắc toàn bộ giáo trình bậc trung học. Cuối nim, ông một mình lên đường du học , đầu tiên ông tới Đức , rồi Dan Mạch , Ý.
Thang 11 năm 1850 , Nobel rời Paris với danh nghĩa là một kỹ sư tới Mỹ , theo học ở công trường của kỹ sư danh tiếng John Erison. Năm 20 tuổi , ông trở về Peterburg , đoàn tu cùng người thân trong gia đình. Trong khi đó , công việc chế tạo thuốc nổ của cha Nobel tiến triển tốt , ông đã cho ra đời nhiều loại thuốc nổ. Nhưng không day 2 năm sau , Nga bại trận, chính phủ bãi bỏ điểu ước đã ky , xí nghiệp tuyên bố phá sản, gia đình ông lại trở vé Stockholm Thụy Điển .1864 , một vụ nổ khủng khiếp làm rung chuyển toàn bộ khu vực ngoại ô Stockholm với ngọn lửa vàng khè và cột khói khổng 16 đâm thẳng lên trời , đã hoàn toàn phá hủy xưởng sản xuất của gia đình Nobel , đang tầng chứa ít nhất 110 lít nitroglyxérin.
Năm người chết không toàn thây, trong số đó có người em trai út, Emil Nobel , còn người cha , Immanuel Nobel , thì bị liệt nửa người vì sức ép. Sau vụ nổ , dưới áp lực của dư luận và sự kích động của báo chí , chính phủ Thụy Điển đã ra lệnh cấm sẩn xuất và tàng trữ nitroglyxérin ở gần các khu dân cư , nhưng diéu này vẫn không làm ông chin bước. Ông đến vùng đất hoang ở ngoại 6 Stockholm , tiếp tục tiến hành thí nghiệm liên tục trong nhiều tháng lién. Nhiều lân biểu diễn thị phạm vé phương pháp an toàn và uy lực của thuốc nổ nittroglyxêrin do ông chế tạo , Nobel đã dành được sự tín nhiệm của Cục đường sắt quốc gia Thụy Điển.
Thuốc nổ Nitroglyxérin chính thức được phê chuẩn và sử dụng ngay để làm đường sắt ở Stockholm. Tháng 10 năm 1867 , Nobel đã lập nhà máy sản xuất thuốc nổ Nitroglyxêrin đầu tiên trên thế giới , đơn đặt hang từ các nơi gởi về rất nhiều. Năm 1868 , ông chuyển tới Hamburg và xây dựng “Công ty Nobel”. Khi bắt đầu được sử dụng rộng rãi , thuốc nổ nitroglyxêrin còn ở dang lỏng.
Do người sử dụng và người vận chuyển còn thiếu wi thức vé đặc tính của sản phẩm; mặc khác , do sản phẩm chưa ổn định , dễ phân giải khi nhiệt độ thay đổi , nên đã xảy ra hàng loạt vụ nổ khủng khiếp trong lúc vận chuyển. Một số quốc gia ra lệnh cấm nhập thuốc nổ nitroglyxêrin. Những lời chỉ trích , công kích không ngừng đội tới tai Nobel. Ông tìm cách cải biến cơ bản tính chất của loại thuốc nổ đó bằng cách dùng chất kieselguhr , một loại đá bọt , có thành phan chủ yếu là silicdioxit , một chất hút nước lý tưởng có rất nhiều ở mién Bắc nước Đức.
Ông pha trộn 3 phần chất dầu nổ của mình với | phân silicdioxit , thu được một chất rắn , trong đó các phân tử nitroglyxérin nim rải rác trong bột đã mất đi tính khí hung dữ của nó. Chất này chỉ phát nổ khi bị kích hoạt bởi kíp nổ. Nobel gọi chất nổ mới này là Dynamit (từ tiếng Hy Lạp dynamis là lực ) và ông đã được Viện khoa học hoàng gia Thụy Điển trao tặng huân chương vàng cao quý (huân chương chỉ dành tặng cho những người có thành tựu kiệt xuất trong các lĩnh vực nghệ thuật , văn học và khoa học , có những phát hiện quan trọng , có giá trị thực dụng cho loài người ) .