đặt vấn đề về tính khách quan và vai trò của sự thống nhất các mặt đối lập, V.Lênin cũng cảnh báo về thái độ xem nhẹ mặt này trong mối quan hệ giữa các mặt đối lập. Người viết: “Thưởng người ta không chú ý đầy đủ đến mặt này của phép biện chứng (…): sự đồng nhất của các mặt đối lập được coi như một tổng số của các thí dụ (…), mà không được coi như là quy luật của nhận thức (và như là quy luật của thế giới khách quan)2 .Lênin: Sự đồng nhất của các mặt đối lập (“Sự thống nhất” của chúng, nói như vậy có lẽ đúng hơn? Tuy ở đây sự phân biệt giữa từ đồng nhất và thống nhất không quan trọng lắm. Theo một nghĩa nào đấy, cả hai đều đúng), đó là sự thừa nhận (sự tìm ra) những khuynh hướng mâu thuẫn, bài trừ lẫn nhau, đối lập, trong tất cả các hiện tượng và quá trình của giới tự nhiên (kể cả tinh thần và xã hội). Điều kiện của một sự nhận thức về tất cả các quá trình của thế giới trong “sự tự vận động” của chúng, trong sự phát triển tự phát của chúng, trong đời sống sinh động của chúng là sự nhận thức chúng với tính cách là sự thống nhất của các mặt đối lập.Lênin, khi nói tới mâu thuẫn của sự vật, nói tới các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn, với cuộc đấu tranh của chúng thì cũng phải nói tới sự thống nhất tất yếu giữa các mặt đối lập này.
Đấu tranh là đấu tranh của hai mặt đối lập trong thể thống nhất. Thống nhất là sự thống nhất của hai mặt đối lập đang không ngừng bài trừ nhau, đấu tranh với nhau. Rõ ràng, vai trò của sự thống nhất các mặt đối lập biểu hiện như là điều kiện cần để có thể thực hiện được cuộc đấu tranh giữa chúng và qua đó mới có thể thực hiện được sự phát triển của bản thân sự vật. Một sự vật chỉ có thể tồn tại và phát triển nếu bản thân nó chứa đựng sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập của nó.
Ở đây, có một sự gắn bó chặt chẽ giữa mặt thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Thống nhất là điều kiện đấu tranh, muốn đấu tranh thì phải thống nhất, đồng thời thống nhất là để dẫn tới đấu tranh. Đấu tranh là nội dung bên trong của thống nhất, còn thống nhất là hình thức chuyển tải đấu tranh. Chỉ trên cơ sở gắn bó hữu cơ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập thì mâu thuẫn mới có điều kiện giải quyết, từ đó làm cho sự vật phát triển.
Theo nghĩa đó, cũng có thể khẳng định sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong mâu thuẫn, hay nói gọn, chính mâu thuẫn khách quan (sự tồn tại và giải quyết nó) là nguồn gốc của sự phát triển. Nếu như chỉ có đấu tranh thì sự vật sẽ không có lý do để tồn tại với tư cách là sự vật. Còn nếu chỉ có sự thống nhất thì sự vật không thể phát triển được. Khi đánh giá về tác động của sự thống nhất và đấu tranh giữa hai mặt đối lập đối với quá trình vận động phát triển, cũng cần thấy rằng, mặc dù gắn bó chặt chẽ với nhau, song tác động của chúng đối với sự phát triển sự vật ở đây không phải lúc nào cũng như nhau, cân bằng với nhau.Lênin cho rằng: Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối.
Sự đấu tranh của các mặt đối lập, bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, vận động là tuyệt đối. Ở đây cần lưu ý rằng, “tính tạm thời, thoáng qua, tương đối” của sự thống nhất cũng như tính liên tục, tuyệt đối của sự đối tranh giữa các mặt đối lập trong nhận định trên của V.Lênin không đơn giản chỉ biểu hiện ở khía cạnh thời gian như một số ý kiến. Chẳng hạn trong một số sách giáo khoa triết học ở 6 Tieu luan nước ta đã từng giải thích rằng sở dĩ sự thống nhất các mặt đối lập có tính tương đối là do nó chỉ diễn ra ở một thời điểm nào đó. Còn sự đấu tranh giữa các mặt đối lập mang tính tuyệt đối vì nó diễn ra liên tục, trong suốt quá trình tồn tại sự vật.
Cách giải thích như vậy là không thỏa đáng. Bởi lẽ, quan điểm như vậy không cho người ta thấy được vai trò của sự thống nhất giữa các mặt đối lập là điều kiện, nền tảng cho sự đấu tranh, bài trừ giữa chúng. Với quan điểm như vậy, rõ ràng đã tách rời giữa sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Quan điểm này sẽ đưa người ta tới nhận thức cho rằng khi nào các mặt đối lập tiến hành đấu tranh với nhau thì giữa chúng không có sự thống nhất, và ngược lại, khi chúng thống nhất là giữa chúng không có đấu tranh.
Cách hiểu như vậy thực ra lại không biện chứng mà trái lại, siêu hình. Đánh giá vấn đề này, cần lưu ý tư tưởng của V.Lênin khi ông so sánh giữa sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập với hai trạng thái đứng im và vận động của sự vật.Lênin coi sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối cũng như sự vận động. phát triển là tuyệt đối. Điều đó có thể suy ra rằng, sự thống nhất giữa các mặt đối lập, giống như sự đứng im của sự vật cũng là tương đối, song không phải đơn thuần về mặt thời gian.
Nghĩa là, tương tự như đối với trạng thái đứng im có tính tương đối của sự vật, được người ta hiểu đó chỉ là đứng im có tính tương đối của sự vật, được người ta hiểu đó chỉ là đứng im xét ở từng mối quan hệ xác định cụ thể; sự thống nhất có tính tương đối giữa các mặt đối lập trong một mâu thuẫn khách quan, nhìn tổng thể, giữa chúng luôn có sự đấu tranh với nhau. Tuy nhiên, ở từng phương diện cụ thể, ở từng phạm vi không gian thời gian cụ thể, giữa các mặt đối lập đó vẫn có biểu hiện thống nhất với nhau. Điều đó quy định tính tương đối của sự thống nhất của chúng với nhau. Chính sự nhận thức về mối quan hệ hữu cơ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập như thế, cùng với quan niệm đúng đắn về sự thống nhất, sự đấu tranh với tư cách những phạm trù triết học sẽ giúp người ta tránh rơi vào thái độ cực đoan trong đời sống thực tiễn.
Chẳng hạn, thái độ coi mâu thuẫn, đấu tranh là hiện tượng không bình thường, kìm hãm sự phát triển xã hội. Xã hội muốn phát triển thì phải có sự thống nhất (sự thống nhất được hiểu là sự nhất trí, sự thống nhất về ý chí). Từ đó đi tới hành động thủ tiêu mâu thuẫn, thủ tiêu đấu tranh; hoặc nếu có đấu tranh lại biểu hiện ở những hành động bạo lực. Cách hiểu sai lầm dẫn tới hành động cực đoan như thế thực ra đã đồng nhất khái niệm thống nhất, đấu tranh của phép biện chứng với quan niệm thống nhất và đấu tranh ở đời thường.
Trong lý luận biện chứng mác xít, bên cạnh vấn đề đấu tranh và thống nhất, vấn đề kết hợp giữa các mặt đối lập cũng được đặt ra và giải quyết. Đây là biểu hiện hoạt động tích cực, chủ động của chủ thể trên cơ sở nhận thức mâu thuẫn khách quan, nhận thức sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Chính xuất phát từ việc nhận thức sự thống nhất khách quan, từ những điểm chung vốn có giữa các mặt đối lập, đồng thời cũng xã hội xuất phát từ nhu cầu hoạt động thực tiễn xã hội của mình, con người có thể chủ động tiến hành kết hợp các yếu tố, thậm chí cả các mặt đối lập nào đó nhằm giải quyết được những mâu thuẫn xã hội cụ thể, đem lại lợi ích cụ thể cho chủ thể con người. Có thể nói, khi đề cập tới vấn để thống nhất giữa các mặt đối lập trong một mâu thuẫn biện chứng, người ta có thể và cần phải tiếp cận từ ba góc độ cụ thể sau : Thứ nhất, xem xét sự thống nhất giữa các mặt đối lập từ góc độ bản thể luận, tức sự thống nhất khách quan vốn có của chúng.
Ở góc độ này, mâu thuẫn của sự vật được biểu hiện ra với tư cách một thể thống nhất hoàn chỉnh. Đương nhiên, đó không phải là sự thống nhất có tính tuyệt đối, mà trái lại, là một sự thống nhất tương đối , thống nhất trong sự khác biệt , kể cả sự đối lập. Thứ hai, xem xét sự thống nhất giữa các mặt đối lập từ góc độ nhận thức luận. Ở góc độ này, sự thống nhất giữa các mặt đối lập được xem như đối tượng nhận thức của con người.
Nhiệm vụ của chủ thể ở đây là phải phát hiện, vạch ra những mặt đối lập đang tồn tại, ẩn náu bên dưới cái vỏ thống nhất hoàn chỉnh. Điều này rõ ràng là một công việc không đơn giản, không chỉ tùy thuộc vào nhân tố chủ quan, vào chủ thể mà còn phụ thuộc vào chính bản thân mâu thuẫn. Bởi vì mâu thuẫn không tự bộc lộ ra, mà 7 Tieu luan nó tồn tại bên trong cái "vỏ bọc" thống nhất với những hình thức cụ thể của nó. Để nhận thức nó, cần phải tiến hành thao tác nhận thức như V.Lênin đã chỉ dẫn:" phân đôi cái thống nhất".
Có biết "phân đôi" một cái vốn thống nhất thì mới có khả năng phát hiện và nắm bắt được các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn.Lênin viết như sau : " Sự phân đội của cái thống nhất và sự nhận thức các bộ phận mâu thuẫn của nó (.), đó là thực chất (một trong những "bản chất", một trong những đặc trưng hay đặc điểm cơ bản , nếu không phải là đặc trưng hay đặc điểm cơ bản nhất) của phép biện chứng ". Cố nhiên, "sự phân đôi" ở đây không phải là hoạt động chủ quan tùy tiện mà phải dựa trên cơ sở tôn trọng tính khách quan của mâu thuẫn biện chứng. Nhiệm vụ của chủ thể ở đây là phải vạch ra được sự tồn tại của các mặt đối lập trong thể thống nhất vốn có của chúng. Thứ ba, xem xét sự thống nhất giữa các mặt đối lập từ góc độ thực tiễn.