Chương 1 MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ “NỘI DUNG” VÀ “HÌNH THỨC” TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY TRƯỚC MÁC 1. Quan niệm về “nội dung” và “hình thức” trong triết học phương Tây từ Hy Lạp Cổ đại đến thời Cận đại “Phương pháp triển vọng hơn cả để giải quyết vấn đề khoa học bất kỳ là cách tiếp cận lịch sử đến nó” [11, 23]. Thực chất của cách tiếp cận này là quay trở lại với lịch sử để thấy được sự phát sinh, hình thành và phát triển của vấn đề và đối tượng của nó. Thoạt nghe có thể nhầm tưởng đây là một nghiên cứu lịch sử.
“Nhưng những xung đột lịch sử của việc thực hiện “sự nghiệp lịch sử” không phải là mục đích mà chỉ là chất liệu thực tế để xuyên suốt qua nó dần hiện ra những vòng khâu rạch ròi hơn của lôgic sự việc” [11, 22]. Với cách tiếp cận này thì điểm đến đầu tiên là triết học Hy Lạp Cổ đại. Đây vẫn được coi là cái nôi của triết học thế giới, là khởi nguồn của triết học và sự phát triển về sau của rất nhiều khuynh hướng, trường phái triết học phương Tây. Sự ra đời của triết học Hy Lạp Cổ đại gắn liền với sự hình thành phép biện chứng “ngây thơ tự phát”.
Các nhà tư tưởng Hy Lạp Cổ đại đã bước đầu nhận thức thế giới trong tính đa dạng của nó nhưng lại dừng trước sự đồng nhất nó một cách phiến diện, ngây thơ. Học thuyết về bản nguyên của thế giới là một minh chứng cho điều đó. Học thuyết này “chưa đạt đến trình độ mổ xẻ, phân tích giới tự nhiên cho nên hãy còn quan niệm giới tự nhiên như là một chỉnh thể và đứng về mặt toàn bộ mà xét chỉnh thế ấy” [19, 491]. Mặc dù vậy tư duy của người Hy Lạp đã có những yếu tố của tư duy lý luận, tư duy hướng đến nhận thức thế giới trong tính chỉnh thể.
Thế giới tự nhiên là đối tượng của nhận thức triết học, đó là tư duy hướng đến thực tiễn, tuy nhiên thực tiễn ở đây mới chỉ đơn thuần là thế giới tự nhiên xung quanh con người. Suy tư của họ trước hết là những băn khoăn, những trăn trở trong việc đi tìm trả lời câu hỏi: Bản nguyên thế giới là gì? Thế giới được sinh 9 z ra từ đâu và được cấu tạo bằng gì? Chính những câu hỏi này đã đưa các nhà triết học lên những con đường và khuynh hướng tìm lời giải khác nhau cho những bài toán bí ẩn này. Chủ nghĩa duy vật thời cổ đại từ Talet đến Đêmôcrit đưa ra “phép biện chứng theo nghĩa đen” mà ở đó thực thể vật chất đã đồng nhất một cách trừu tượng với ý thức, tư duy đồng nhất với tồn tại. Trong khi kiến giải thế giới từ nguồn gốc vật chất của nó các nhà triết học Hy Lạp Cổ đại đã đồng nhất vật chất với những dạng cụ thể như nước ở Talet, lửa ở Hêraclit và cao hơn nữa là nguyên tử ở Đêmôcrit.
Từ cái nhìn trực quan về thế giới các nhà triết học Hy Lạp Cổ đại đã đồng nhất tư duy với tồn tại một cách trừu tượng cảm tính. Thế giới tự nhiên đa dạng thống nhất nhưng là thống nhất tại một dạng vật chất cụ thể, ở đó nước của Talet cũng giống như lửa của Hêraclit và cũng giống như apâyrôn của Anaximandrơ… đều là những dạng vật chất cụ thể cần thiết đối với con người. Các nhà triết học thời kỳ này đã nhận thấy tầm quan trọng của các yếu tố tự nhiên đối với đời sống con người, do đó họ coi chúng như là những yếu tố đầu tiên quyết định cấu tạo và sự vận hành của vũ trụ. Chính vì vậy họ chưa có cái nhìn khái quát, tổng hợp để thấy ra sự khác biệt ngay trong cái bản chất chung ấy của các yếu tố.
Tương ứng với những bản chất chung đó thì hình thức của sự vật cũng chỉ là những hình thức giản đơn, hình thức bề ngoài, hình thức đó có thể nhận biết được bằng các giác quan. Hình thức ấy thể hiện như là tính xác định không - thời gian của các đối tượng. Bởi lẽ các đối tượng phân biệt với nhau ở kích cỡ, hình dạng, vị trí trong không gian. Tính xác định không - thời gian là cơ sở duy nhất đảm bảo tính bền vững và thường xuyên lặp lại trong quá trình kinh nghiệm cảm tính của con người.
Hình thức ban đầu này đều có ở tất cả các sự vật đơn nhất trong thế giới. Nó là kết quả của sự khái quát những dấu hiệu bề ngoài, cảm tính, là sự tồn tại chiếm một vị trí xác định trong không gian và cũng là điểm khác biệt bề ngoài mà dựa vào đó con người có thể phân biệt các sự vật với 10 z nhau. Và khi đó khái niệm ghi nhận bản chất giản đơn của đối tương cũng chỉ là “khái niệm nói chung”. Như vậy ở cấp độ cái phổ biến trừu tượng thì hình thức mới chỉ là hình thức chung, hình thức bề ngoài, hình thức chưa thể hiện sự khác biệt bên trong bản chất của đối tượng.
Hình thức đó chưa nêu được mối liên hệ bên trong giữa các đối tượng, do vậy sự vật mới chỉ tồn tại dưới dạng “tự nó”. Nếu dừng lại ở Hêraclit thì chúng ta mới chỉ hé mở cánh cửa để đến với triết học Hy Lạp Cổ đại, con đường ấy phải được tiếp tục bởi những bước đi đến với trường phái triết học Êlê. Hêghen đã nói “chúng ta thấy ở đây khởi nguồn của phép biện chứng” [trích theo: 14, 266]. Người được coi là khởi đầu của xu hướng này là Pácmenit với luận điểm “tồn tại có, không có không tồn tại”.
Tồn tại là bản chất chung của thế giới, nó tồn tại vĩnh viễn và không thể mất đi, tồn tại chỉ một tồn tại. Tư duy của con người cũng là tư duy về chính tồn tại. Tồn tại ở đây bao gồm khía cạnh vật chất và tinh thần và chúng ta chỉ có thể nhận thức chúng bằng lý tính. Mọi tư tưởng của con người đều là tư tưởng về một cái gì đó đang tồn tại, không thể có tư tưởng về cái không tồn tại.
Như vậy tư duy ở Pácmenit đã hướng đến một đối tượng cụ thể đó là “tồn tại”, nhưng ông cũng chưa phân biệt được cụ thể đâu là tồn tại vật chất, đâu là tồn tại tinh thần. Thế giới vật chất hiện lên vẫn là những gì trừu tượng, chung chung, cái thế giới thực tiễn tự nhiên và hoạt động lao động sản xuất của con người vẫn chưa xuất hiện trong những gì “tồn tại” của Pácmenit. Tuy nhiên, ở đây tư duy triết học đã bước thêm một bước trên con đường khái quát thành các khái niệm, phạm trù tồn tại và không tồn tại. Quan điểm của Pácmenit đã được chính người học trò của mình bảo vệ.
Bằng việc đưa ra các nghịch lý Dênon cố gắng bảo vệ quan điểm “tồn tại là duy nhất và bất biến”. Thông qua việc phân tích các nghịch lý Dênon đã chỉ ra các mâu thuẫn trong việc phản ánh các quá trình hiện thực bằng khái niệm. Ông đặt ra vấn đề tư duy con người phải thường xuyên biến đổi để nhận thức thế giới. 11 z Với yêu cầu đó thì “các nghịch lý của Dênon bao hàm các yếu tố giữ chức năng như “đèn đỏ” báo hiệu khẩn cấp, cảnh báo rằng cần mở ra các con đường mới cho nhận thức lý luận về hiện thực” [36, 165].
Cần phải thấy rằng Dênon hoàn toàn không có ý nghĩ phủ nhận sự vận động coi như “tính xác định cảm tính”, mà ông chủ yếu xem xét sự vận động một cách khách quan, biện chứng, nghĩa là xem xét sự vận động một cách tự nó và không cần có một ý niệm tiền đề nào cả. Dênon dựa vào tính vốn có của vận động để xem xét đối tượng qua đó bộc lộ những quy định đối lập nhau và lột bỏ nó. Ở đây tư duy đã có sự phản ánh lôgic về vận động dẫn đến những mâu thuẫn hình thức qua đó bác bỏ tính khách quan bề ngoài của vận động. Tuy nhiên “vấn đề không phải là sự vận động có tồn tại không mà là thể hiện nó như thế nào trong lôgic của các khái niệm” [14, 271].
Tư duy của Dênon cố vươn tới diễn tả sự vận động của đối tượng trong khái niệm. Khái niệm là hình thức của tư duy diễn tả sự vận động của tư duy khi phản ánh đối tượng “khái niệm không bất động mà luôn vận động, chuyển hóa từ cái nọ sang cái kia, tràn từ cái nọ sang cái kia, không như vậy chúng không phản ánh đời sống sinh động” [14, 267]. Có thể nói Dênon đã bước đầu vạch ra con đường biện chứng của tư duy. Ông chính là người “khởi xướng ra phép biện chứng”.
Với quan điểm cho rằng bản nguyên thế giới là nguyên tử, Đêmôcrit chính là khởi nguồn của một trong hai đường hướng triết học ở Hy Lạp Cổ đại - Đường hướng Đêmôcrit (duy vật). Mặc dù cũng như nhiều nhà triết học Hy Lạp Cổ đại khác, Đêmôcrit cũng chỉ có cái nhìn trực quan cảm tính, song ông đã thấy được sự khác biệt trong bản chất của đối tượng, sự khác biệt đó thể hiện trong cấu trúc của sự vật, dựa vào sự khác biệt cấu trúc, dạng hình các nguyên tử, mức độ tập trung hay phân tán của chúng trong không gian. Sự tích tụ và phân tán các nguyên tử tạo nên các vật hữu hình trong thế giới. Ở đó, các phạm trù tồn tại và không tồn tại thể hiện như là cái đầy đủ và cái hư vô.
Cái đầy đủ là tổng thể các nguyên tử tích tụ với nhau, cái hư vô là sự thiếu vắng chúng. Đêmôcrit đã phân 12 z biệt bản chất triệt để hơn, vạch ra các mặt đối lập giữa tồn tại và không tồn tại nhưng cũng chỉ dừng lại ở sự khác biệt bề ngoài, thuần túy về lượng. Mặc dù “Đêmôcrit đã diễn đạt một cách rõ rệt hơn sự khác nhau giữa những vòng khâu của tồn tại tự nó và tồn tại vì một cái khác” [14, 283], nhưng sự khác nhau đó chưa biểu hiện rõ ra là sự chuyển hóa trong bản chất của đối tượng, do đó cái hình thức ghi lại sự khác nhau đó cũng đơn thuần là hình thức bề ngoài. Đường hướng thứ hai (duy tâm) trong triết học Hy Lạp Cổ đại được khởi xướng bởi chính nhà tư tưởng kiệt xuất Platon.
Khác với Đêmôcrit, nhận thức của Platon vượt lên trên nhận thức cá nhân để vươn tới nhận thức cái phổ biến, nhận thức cái chung cho cả thế giới tự nhiên.