Chương I - Quản trị và nhà quản trị - 13 - ngoài sản xuất, một công ty có thể chuyển nhà cung cấp khi cần thiết để sử dụng nhà cung cấp thích hợp nhất theo nhu cầu khách hàng. Quyết định về điều gì thuê ngoài và điều gì tự làm là một trong số các quyết định quan trọng nhất mà nhà quản trị phải thực hiện ngày nay. Hình I-4: Sự phát triển của cơ cấu tổ chức1 Khi tổ chức giảm quy mô và thuê ngoài các nhiệm vụ, chúng trở nên linh hoạt và tinh giản hơn. Hình I-4 minh hoạ việc thay đổi kích cỡ và hình dạng của tổ chức.
Không giống như mô hình đồ sộ trong quá khứ, những công ty mới và nhỏ hơn là không giống như những pháo đài trự trị và giống nhiều với các điểm nút của mạng lưới các mối quan hệ phức tạp. Cách này, gọi là hình thức mạng của tổ chức, bao gồm việc thiết lập các liên kết chiến lược trong số nhiều thực thể. Các hình thức mạng của tổ chức là phổ biến ở những ngành công nghệ cao, nơi mà chúng cho phép các công ty có uy tín xử lý những phát minh mới của các nhà khoa học ở các trường đại học và ở các tổ chức nhỏ, năng động. Để đạt được những lợi thế trong cạnh tranh các tổ chức phải thiết lập và quản lý các liên minh chiến lược với các công ty khác.
Trong một liên minh chiến lược, hai hoặc nhiều hơn các công ty đồng ý hợp tác trong một liên doanh với kỳ vọng là mang lại lợi ích cho cả hai. Lực lượng lao động thay đổi (A Changing Workforce) Cùng lúc với sự thay đổi về quy mô và mô hình tổ chức, kết cấu lao động cũng thay đổi một cách nhanh chóng. Một sự thay đổi quan trọng là sự phân bố của độ tuổi lao động. Tỷ lệ lớn lực lượng lao động Mỹ bây giờ xuất phát từ sự bùng nổ dân số (baby-boom) (77 triệu người sinh từ năm 1946 đến 1964), nhưng một số ít hơn những sinh viên mới tốt nghiệp gia nhập thị trường lao động.
Giữa những năm 2000 đến 2025, số người ở độ tuổi 35 đến 47 giảm 2% trong khi ở độ tuổi từ 60 đến 64 tăng 3%. Ví dụ cuối thập niên 1970, khoảng 3 triệu người gia nhập vào nhóm 18-24 tuổi mỗi năm. Nhưng đến năm 2000, chỉ có 1 triệu công nhân mới ở vào độ tuổi này, và con số này tiếp tục co lại. Ngụ ý rằng nguời ta mong đợi công việc được thực hiện bởi ít nhân viên hơn.
Đối với những tổ chức này để tồn tại, những nhân viên này phải có hiệu suất cao hơn. Một thay đổi quan trọng khác đó là tính đa dạng của lực lượng lao động gia tăng. Sự đa dạng của lực lượng lao động liên quan đến sự hoà hợp các nhân viên từ các nền tảng khác nhau trong lục lượng lao động hiện tại. Ví dụ ngày càng nhiều phụ nữ làm việc là kết quả của khuynh hướng cân bằng giới trong lực lượng lao động thay vì sự thống trị của nam giới.
Tổ chức đa văn hoá với sự đa dạng về văn hoá trong lực luợng lao động và cam kết trong việc tận dụng nguồn nhân lực đặt ra những vấn đề thách thức cho nhà quản trị. Họ cần làm quen với cách tiếp cận tiên phong trong việc quản trị nguồn nhân lực với sự đa dạng về nền tảng văn hoá và học vấn. Ví dụ đối với các nhóm làm việc năng động mà các thành viên 1 Susan E. Jackson, Don Hellriegel and John W.
Slocum, “Management- A competetency based approach, 10th ed, Copyright ©2005 by Thomson South-Western, p.31 - 14 - Quản trị học trong nhóm mà giá trị văn hoá đề cao tính tập thể- được tìm thấy châu Á- là hiệu quả hơn nhiều nhóm mà các thành viên tiếp nhận một nền văn hoá đề cao tính cá nhân- chủ yếu ở Đức và Mỹ. Các cách quản trị khác nhau cần phải tối đa hoá hiệu quả của những nhóm như trên. Sự đa dạng về lực lượng lao động gia tăng, cùng với sự khác biệt về quan điểm đã từng bị bỏ qua trong quá khứ (bao gồm tín ngưỡng tôn giáo và cách sống) là những đặc điểm đại diện cho cả thách thức và cơ hội đối với tổ chức và nhà quản trị. Sự thay đổi về công nghệ (Changing Technology) Ở Mỹ, hơn 15 triệu người làm việc trong lĩnh vực công nghệ cao, phát triển, sản xuất và phân phối những sản phẩm điện tử mới và liên quan đến thông tin.
Những công nhân trí thức (Knowledge workers) là những người có trình độ giáo dục và làm việc với những thông tin chuyên biệt. Họ đóng góp 33% trong tổng sản phẩm quốc nội Mỹ trong suốt giữa thập niên 1990. Sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ đã chuyển đổi công việc. Công nghệ mới đang thay đổi tất cả công việc ở các ngành.
Hiển nhiên là hàng trăm nghìn người làm việc thường xuyên và bán thời gian ở nhà, liên lạc với văn phòng thông qua các phương tiện như máy tính, mođem và máy fax. Thậm chí hàng triệu người sẽ làm việc tại nhà thay vì đi đến văn phòng. Nhà quản trị sẽ chịu trách nhiệm giám sát công việc được thực hiện bởi những nhân viên có thể thi thoảng mới gặp. Toàn cầu hóa (Globalization) Trong suốt 50 năm qua, những tiến bộ công nghệ trong vận tải và truyền thông đã khuyến khích sự phát triển của thương mại quốc tế.
Và kết quả là nhiều hãng mà trước đó chỉ chuyên phục vụ nội địa đã mở rộng thành toàn cầu. Bước đầu tiên trong sự tiến triển này đơn giản là xuất khẩu hàng hoá sang một hoặc hai thị trường nước ngoài. Bước kế tiếp là sản xuất những sản phẩm này ở nước ngoài bởi vì sẽ hiệu quả hơn việc vận chuyển sản phẩm xa hàng nghìn dặm đến thị trường. Việc thành lập những công ty kinh doanh gần với thị trường nước ngoài cũng giúp đỡ công ty hiểu nhiều hơn khách hàng.
TẠI SAO PHẢI NGHIÊN CỨU QUẢN TRỊ ? Lý do đầu tiên để nghiên cứu quản trị là tất cả chúng ta mong được lợi từ việc cải thiện cách thức quản trị của tổ chức. Tại sao? Bởi vì chúng ta tương tác với chúng hàng ngày. Bạn có bị thất vọng khi phải chờ đợi ở Sở giao thông công chánh trong vòng hai giờ để được tái cấp bằng lái xe? Bạn có ngạc nhiên không khi một công ty lớn thịnh vượng và phát đạt đột nhiên bị phá sản? Bạn có tức giận không khi bạn gọi điện cho phòng vé của hãng hàng không ba lần và được thông báo về ba mức giá khác nhau cho cùng một chuyến đi? Có quá nhiều ví dụ để minh họa cho việc quản trị tồi. Những công ty quản trị tồi thường được nhìn nhận từ việc mất khách hàng và sụt giảm doanh thu.
Và ngày nay những công ty quản trị tồi không có cơ hội tồn tại. Lý do thứ hai để nghiên cứu quản trị đó là một khi bạn tốt nghiệp đại học và bắt đầu nghề nghiệp, bạn hoặc là nhà quản trị hoặc bị quản trị. Đối với những ai lên kế hoạch, dự định làm nghề nghiệp quản trị, việc thấu hiểu tiến trình quản trị hình thành nên nền tảng để họ xây dựng những năng lực quản trị là hết sức hiển nhiên, nhưng không hẳn là mọi người nghiên cứu quản trị thì lập kế hoạch nghề nghiệp quản trị. Khoá học về quản trị chỉ yêu cầu cho bằng cấp mong muốn, nhưng điều đó không có nghĩa là không cần nghiên cứu về quản trị.
Giả sử rằng bạn sẽ làm việc để kiếm sống và bạn hầu như làm việc cho tổ chức, bạn sẽ là nhà quản trị hoặc làm việc cho nhà quản trị. Bạn có thể có được những hành vi mong đợi, hiểu được cách cư xử của người lãnh đạo và sự vận hành nội bộ tổ chức bằng cách nghiên cứu quản trị. Tóm lại, cần nhớ rằng bạn không cần phải là nhà quản trị để có được những kiến thức bổ ích từ khoá học quản trị. - 30 - Quản trị học CHƯƠNG II: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG QUẢN TRỊ Mục tiêu nghiên cứu: Sau khi đọc xong chương này, người đọc có thể: - Mô tả được ba hướng tiếp cận về quản trị trong quan điểm cổ điển về quản trị: quản trị quan liêu, quản trị khoa học và quản trị tổng quát.
- Hiểu rõ những đóng góp của quan điểm hành vi đối với khoa học quản trị. - Nhận thức rõ ràng làm thế nào mà các nhà quản trị có thể sử dụng tư duy hệ thống và các kỹ thuật định lượng để nâng cao kết quả công việc của nhân viên. - Trình bày rõ các thành tố chính (phương vị) của tình huống trong quan điểm ngẫu nhiên về quản trị. - Hiểu rõ những tác động của yêu cầu về chất lượng đối với thực hành quản trị.
- Nhận thức những xu hướng thay đổi trong nghiên cứu và thực hành quản trị hiện nay. ************* Ngày nay, công ty toàn cầu có hệ thống nhà xưởng phân bố trên toàn thế giới đang trở nên bình thường và hết sức phổ biến. Trong hơn 10 năm qua, các công ty như Toyota, Procter & Gamble (P&G), Marriott, và Nike đã tạo ra nhiều thách thức đối với các quản trị viên của họ trong việc quản trị trên quy mô toàn cầu. Các quản trị viên ngày nay lãnh đạo những nhân viên mà chính họ hiếm khi gặp hay nhìn thấy, và các nhân viên cũng biết cách tự giải quyết vấn đề tốt hơn.
Quản trị hiện đại, một mặt rất cần những phương pháp mới để quản lý nhân viên nhằm theo kịp với những thay đổi về tổ chức và công nghệ, nhưng mặt khác, lại không thể từ bỏ những điều đã xảy ra trong lĩnh vực quản trị trước khi bước vào kỷ nguyên của xa lộ thông tin. Nguyên nhân này lý giải việc quản trị ngày nay phản ảnh sự phát triển của các khái niệm, các quan điểm và những kinh nghiệm được tích lũy trong nhiều thập kỷ qua. Vấn đề quản trị hữu hiệu đã từng là mối quan tâm của chính quyền Hy Lạp trong thời kỳ trước công nguyên (sự hiện hữu của nước cộng hòa Athènes với Hội nghị tòa án phổ thông, những viên chức hành chính). Việc xây dựng các kim tự tháp là một minh chứng rõ ràng cho việc tổ chức một lực lượng lớn con người để hoàn tất một công việc chung.
Sự chú ý đến kinh tế học và khoa học quản trị một cách có hệ thống được bắt đầu khi có sự phát triển của chủ nghĩa tư bản.