mở đầu bằng những phát ngôn mang nội dung cu thể, minh hoa dẫn chứng. Những phát ngôn này hoàn toàn độc lập, không có quan hệ trực tiếp, ràng buộc nhau. Những phát ngôn cuối cùng như một kết luận mang nội dung khái quát vẻ điều đã nói ở những câu trên. Mô hình: a-b; c-d; e-f A-B Cấu trúc quy nạp có cách trình bày đi từ cụ thể đến khái quát.
Xét về mặt mô hình, nó thực chất có cấu trúc diễn dich đảo. Trong đó, điểu đáng lưu ý là các cấu cuối của đoạn văn bao giờ cũng là những câu độc lập mà mang nghĩa có tính chất khái quát. Ngoài các phương tiện liên kết duy trì chủ để là các phương tiện liên kết hình thức, người ta còn sử dụng các phương tiện: lặp từ ngữ, thế đại từ, thế đồng nghĩa, phép tỉnh lược. và các phương tiện hình thức để phát triển chủ dé: phép phối ứng từ ngữ, phép đối, phép nêu câu hỏi.
Trong phần liên kết nội dung của văn bản, ngoài liên kết chủ để còn có liên kết logic. Liên kết logic: * Định nghĩa: Liên kết logic - Đó là sự phân bố sắp xếp các ý, là sự tổ chức các mối liên hệ, và quan hệ giữa các ý vói nhau. Đó là hình thức, cơ cấu và tổ chức bên trong của các thành tố nội dung văn bản theo những quan hệ hợp lý. Trong đó, các thành tố nội dung phải tương hợp, thống nhất với nhau trong khuôn khổ chủ để và được bố trí sắp đặt theo những quy luật của logic, của tư duy.
* Liên kết logic phản ánh qua 2 bình diện: + Bình diện thứ nhất: Phản ánh mối quan hệ biện chứng, quan hệ logic nằm ngay bên trong sự vật hay trong mối quan hệ mật thiết, tương tác giữa các su vật, giữa các đối tượng, tính chất, vấn để. được tập hợp trong văn bản. -14- + Bình diện thứ hai: Phản ánh tính logic trong quy luật vận động của tư tưởng, của nhận thức con người và sự-biểu lộ, truyền đạt nhận thức ấy, tức logic của tư duy, của nhận thức và của sự diễn đạt, trình bày, biện luận. Liên kết logic chủ yếu là sự tổ chức các phần báo: Do vậy nó là một bình diện sâu hơn của liên kết nội dung, mang tính ngữ nghĩa và phụ thuộc vào những nhân tố ngoài ngôn ngữ nhiều hơn.
Trong liên kết logic, đơn vị liên kết chủ yếu là hành động, khái niệm và sự việc. Nếu xét vé mặt ngôn ngữ, các đơn vị liên kết logic được thể hiện bằng các cụm từ, các phát ngôn và các chuỗi phát ngôn. Hai phép liên kết thể hiện liên kết logic: phép trình tự tuyến tính và phép nối. Cũng như liên kết chủ để, liên kết logic trong văn bản cũng được thể hiện ở3 bậc: bậc văn bản, bậc đoạn văn và bậc liên câu.2 Hệ thống liên kết hình thức của văn bản Trong văn bản tiếng Việt, liên kết chủ để và liên kết logic muốn thể hiện phải được tường minh hóa, hiển ngôn hóa bằng các phương tiện hình thức là các yếu tố ngôn ngữ.
Hay nói cách khác, các biện pháp liên kết hình thức văn bản chính là phương thức tổn tại của liên kết nội dung. Tuy nhiên, trong văn bản, nội dung là cái quyết định giá trị của nó, song nội dung lại là cái khó quan sát trực tiếp và rất khó nắm bắt. Cho nên, muốn việc tìm hiểu liên kết của văn bản được thuận lợi hơn, ta phải thông qua liên kết hình thức mà phát hiện và nhận diện mặt liên kết nội dung của nó. Như vậy, trước hết ta phải tìm hiểu liên kết hình thức là gì? nó được thể hiện như thế nào? Liên kết hình thức: là việc sử dụng phối hợp hài hòa các yếu tố ngôn ngữ để vật chất hóa, hình thức hóa sự liên kết nội dung.
Mộ! đơn vị ngôn ngữ trước hết phải có khả năng khu biệt, tức phải có một hình thức hoàn chỉnh với những ranh giới rõ ràng có thể cho phép nhận điện nó và sử dụng nó. Trong văn bản cũng phải có liên kết tham gia để cấu tạo nó thành những đoạn có hình thức hoàn chỉnh với những dấu hiệu rõ ràng cả trong lời nói lẫn trong bài viết. Ở ngôn ngữ tiếng Việt, hệ thống dấu hiệu liền kết hình thức văn bản bao gồm các phương tiện sau: 3.1 Phép trình tự tuyến tính: (Gọi tắt là phép tuyến tính (PTT)). Đặc điểm của phép trình tự tuyến tính là không sử dụng các tín hiệu ngôn ngữ để thể hiện sự liên kết mà dựa vào sự sắp xếp có chủ định các đơn vị lời nói (câu, đoạn, phần).
Theo trình tự trước - sau; trên - dưới theo một chiểu mấhướng hợp lý chứ không thể ngược lại. Phép trình tự tuyến tính (PTT) thể hiện rõ mạch liên kế! logic của văn bản, diễn đạt các quan hệ logic như thời gian, không gian, nhân - quả. mà không dùng đến phương tiện nối kết bằng ngôn ngữ. Trong một chuỗi lời nói, trình tự các câu phải tuân theo một trật tự hợp lý, có quy luật của sự trình bày, -l5- chứng minh, luận giải.
của một quá trình tư duy logic. Nếu trật tự các câu trong một chuỗi bị tùy tiện đảo lộn thì nói chung, mạch liên kết chủ để - đặc biệt là mạch liên kết logic - nhất định bị biến đổi, thậm chí bị phá vỡ. PTT gồm các dạng: a. Phép tuyến tính biểu hiện quan hệ thời gian: trình tự giữa các câu nói lên quan hệ thời gian biểu thị mối quan hệ nhân quả.
Phép tuyến tính không biểu hiện quan hệ thời gian: nằm trong 3 trường hựp sau: e Trường hợp biểu thị những sự kiện diễn ra đồng thời © Trường hợp phát ngôn sau chỉ là sự thuyết minh cho phát ngôn trước. e Trường hợp không trình bày các sự kiện mà biểu đạt các phán đoán, nhận định, suy lý, các quan hệ logic: nhân - quả, điễn dịch, so sánh, quy nạp.2 Phép nối: Đóng vai trò là một phép liên kết trong văn bản. Nó là một phương tiện liên kết hình thức phổ quát của nhiều ngôn ngữ, song mối thứ tiếng có thể sử dụng các yếu tố ngôn ngữ làm công cụ nối khác nhau. Trong tiếng Việt, phép nối được sử dụng dưới dạng các liên từ, giới từ và liên ngữ mang ý nghĩa tiếp nối trong chức năng hướng ngoại của chúng.
Chúng thường đứng đầu, đôi khi ở cuối các kết ngôn. Phép nối có tần số xuất hiện cao, nó giúp phần đắc lực vào việc diễn đạt các quan hệ logic phức tạp giữa các sự vật, đối tượng và logic của sự trình bày, biện luận. Các yếu tố ngôn ngữ được sử dụng trong phép nối - như một công cụ liên kết văn bản - phong phú và đa dạng. Các nhà nghiên cứu chia phép nối ra 2 dạng: phép nối chặt và phép nối lỏng.
Phép nối chặt: Là hình thức các phương tiện nối nằm trong chủ ngôn và kết ngôn có tính sóng đôi, hô - ứng nhau chặt chẽ. Ở dang này, phép nối được thể hiện bằng các cặp quan hệ từ: Vì. Phép nối lỏng: Dùng các liên ngữ thường đứng ở đầu câu và thường được tách ra bằng dau phẩy. Được gọi là thành phần chuyển tiếp, thành phần biệt lập, chúng không làm biến đổi cấu trúc của câu văn có chứa chúng, đồng thời không phải là một thành tố ngữ nghĩa của câu, chúng chủ yếu làm nhiệm vụ tiếp nối, gắn dính các bộ phận của văn bản với nhau.
Một số liên ngữ được dùng trong phép nối lỏng: Tóm lại, nhìn chung, cuối cùng; một là, hai là, mặt này.3 Phép lặp: (phép điệp): Là một phương tiện liên kết ma ở đó người ta lặp lại những yếu tố ngôn ngữ đồng nhất, theo những quy luật nhất định. Phép lặp được sử dụng dưới 2 dạng: lặp từ ngữ va Mp cấu trúc. sỉ: e Lap từ ngữ: là nhắc lại những từ ngữ nhất định ở những phần không quá xa nhau trong văn bản nhằm tạo ra tính liên kết giữa những phần ấy với nhau. e Lap cấu trúc: là hiện tượng lặp lại một mô hình có tính chất khái quát, trừu tượng, một kết cấu nào đó trong hai hoặc nhiều câu.
Theo mô hình: Sự thật là C - V - B chứ không phải B' Sự thật là C - V từ B chứ không phải từ B' Lặp cấu trúc là lặp lại khuôn hình câu không nhất thiết phải có liên kết vé mặt nội dung.4 Phép thế: là một trong những phương tiện dùng để liên kết với những phát ngôn đi trước mà có tác dụng rút ngắn được độ dài của văn bản. Đó là cách thay đổi những từ ngữ nhất định bằng những từ ngữ có nghĩa tương đương nhằm tạo tinh liền kết giữa các phan văn bản chứa chúng. Phép thế gồm 2 loại: a. Thế dai từ: là dùng các đại từ và các từ ngữ đại từ hóa để thay thế cho các tên gọi đã nêu ở chủ ngôn: Ví dụ: Day, đấy, đó, ấy, kia thế vậy; anh, chị, cô, bác,.
Thế đồng nghĩa: là thay thế tên gọi sự vật, đối tượng, tư tưởng. đã nêu ở chủ ngôn bằng một tên gọi khác ở kết ngôn chỉ cùng một sự vật đối tượng ấy bằng cách dùng từ đồng nghĩa hay một cách miêu tả khác, hoặc lấy đặc trưng cơ bản hay dấu hiệu nổi bật của chúng để làm tên gọi chúng. Cơ sở của phép thế đồng nghĩa là chủ tố và từ được thay thế phải có mối liên hệ thông qua đối tướng.5 Phép liên tưởng (phối ứng từ ngữ): Là phương thức liên kết các câu tự nghĩa với chủ ngôn bằng cách sử dụng những từ ngữ chỉ các sự vật có thể nghĩ đến theo một định hướng nào đó xuất phát từ những từ ngữ ban đầu nhằm tạo ra mối liên kết giữa các phần chứa chúng trong văn bản. Phép liên tưởng khác phép thế ở chỗ trong phép thế người ta dùng những từ khác nhau để cùng chỉ một sự vật.
Còn ở phép liên tưởng, dùng những từ ngữ chỉ sự vật khác nhau có liên quan đến nhau theo lối: từ cái này mà nghĩ đến cái kia. Phép liên tưởng gồm2 loại: e Liên tưởng cùng chất e Liên tưởng khác chất 3.6 Phép đối: Day là biện pháp liên kết văn bản độc đáo trong tiếng Việt, là phương tiện liên kết hai phát ngôn tự nghĩa có chức năng liên kết qua lại, thể hiện ở việc dùng trong hai phát ngôn những từ, cụm từ, đối chọi, đối xứng hoặc hô - ứng nhau về ý, vẻ lời, về thanh. Phép đối thường sử dụng phối hợp với phép lặp, ngoài chức năng liên két van bản, chúng còn làm cho câu văn có nhịp điệu cân đối và có tính nhạc.