CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Quan niệm về thơ Thơ là người bạn đồng hành từ bao đời nay của nhân loại, là một trong những loại hình kỳ diệu nhất của nghệ thuật. Vì vậy, niềm khao khát của những người yêu thơ là mong chạm vào được “bản thể” của thơ. Thơ trong quan niệm của nhà thơ, nhà phê bình văn học, nhà ngôn ngữ học, mỗi người một căn cứ và một lối nghĩ riêng.
Đến nay đã có vô vàn những khái niệm, những định nghĩa về thơ từ nhiều góc độ khác nhau. Nền văn học Trung Quốc cổ đại đã đề cập đến quan niệm về thơ từ rất sớm. Lưu Hiệp đã đề cập đến 3 phương diện để tạo nên một bài thơ. Đó chính là tình cảm, ý nghĩ; âm thanh và ngôn ngữ qua tác phẩm“Văn tâm điêu long”: “Tình sâu mà không giả dối/ Phong cách thuần hậu mà không hỗn tạp/ Sự việc chân thật, không hoang đường/ Nghĩa lý thẳng thắn, không quanh co/ Bố cục gọn gàng, không rối rắm/ Lời văn đẹp mà không lòe loẹt” (Lục nghĩa, 6 điều cần thiết).
Bạch Cư Dị là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất Trung Quốc đời Đường. Ông cũng là một trong những người sớm nhất đưa ra quan điểm riêng về thơ và nêu lên các yếu tố then chốt tạo thành điều kiện tồn tại của thơ:“Cái gọi là thơ thì không gì cảm hóa nhân tâm bằng tình cảm, không thể bắt đầu thơ bằng cái gì khác ngoài ngôn ngữ, không gì thân thiết bằng âm thanh, sâu sắc bằng nghĩa lý. Ông quan niệm thơ như một thực thể sinh vật đặc biệt: “Hoa của nó là âm thanh, quả của nó là nghĩa lý và lá của thơ là. Trong tác phẩm “Tứ Minh thi thoại”, nhà thơ Tạ Trăn nhận định: “Thơ có bốn cách: một là hứng, hai là thú, ba là ý, bốn là tình”.
Quan điểm này vừa chỉ ra các yếu tố cấu thành một tác phẩm đồng thời cũng nêu lên mối quan hệ biện chứng gắn bó lẫn nhau giữa các thành tố đó như một chỉnh thể 11 sống động. Đây được đánh giá là quan điểm sâu sắc, đánh giá một cách toàn diện nhất trong nền lý luận văn học cổ điển Trung Quốc. Ở phương Tây, từ thời cổ đại, Aristote trong cuốn Nghệ thuật thi ca đã quan niệm thơ như là một sự mô phỏng, nhưng phải là mô phỏng trong sáng tạo. Đối với Vonte - nhà thơ Pháp, ông cho rằng: “Thơ là sự hùng biện du dương” [13, tr11].
Nhận định này chú trọng tới bề ngoài, mặt biểu hiện của thơ qua hình thức. Nhà văn Pháp Victor Hugo cũng nêu lên quan điểm: “Những câu có vần nhịp, thì tự nó chưa phải là thơ”. Ông nhận thấy, “thơ phải được hình thành từ những ý tưởng và những ý tưởng chỉ có thể xuất phát từ trong tâm hồn của mỗi con người. Câu thơ chí là vẻ bề ngoài lụa là đẹp đẽ trên cơ thể”.
Thơ cũng có trường hợp được biểu hiện bằng văn xuôi, nhưng thực sự nó chỉ là chính mình và đạt tới vẻ đẹp kiêu sa, duyên dáng qua những câu thơ [33, tr. Nhà thơ nổi tiếng người Đức là Goethe luôn khẳng định, những gì ông không gặp trong cuộc sống, những gì không đốt cháy cõi lòng, không làm cho ông khổ đau, thì không bao giờ ông có thể viết thành thơ. Ông chỉ viết những bài thơ khi ông yêu, vì khi ấy tình cảm mới thực sự mãnh liệt [13,tr. Ở Việt Nam, thời kỳ trung đại đã có những ý kiến xác đáng về thơ.
Đơn cử như Hải thượng Lãn ông Lê Hữu Trác đã quan niệm: “Thơ cốt ở ý, ý có sâu xa thơ mới hay”. Theo ông, giá trị của thơ được thể hiện ở chỗ không phải bất cứ lời lẽ nào cũng thể hiện ra được thông qua thơ, mà chỉ những ý nghĩ sâu xa, triết lý, cảm xúc mới hình thành nên được thơ. Phạm Quang Trung cũng chia sẻ tinh thần trên của Lê Hữu Trác: “Thơ là tình, nhưng tình không tách rời ý”. Nhà bác học Lê Quý Đôn cũng quan niệm về thơ như sau: “Ta thường cho làm thơ có ba điều chính: một là tình, hai là cảnh, ba là sự”… Mã Giang Lân chỉ ra bốn yếu tố quan trọng của thơ là: Thơ thông báo thẩm mĩ trong đó kết hợp 4 yếu tố Ý-Tình-Hình-Nhạc [30, tr.
Theo người viết thơ phải hội tụ đủ bốn yếu tố trên vì đó dấu hiệu nhận biết những bài thơ 12 thực sự là thơ, nếu không nó chỉ giống như những bài vè có vần. Trong dòng văn học hiện đại, mỗi nhà thơ cũng đều có một quan điểm riêng về thơ. Thơ của Tố Hữu là vũ khí đấu tranh cách mạng, là hình thức tươi đẹp của hoạt động cách mạng. Thơ là một phần của tâm hồn cách mạng, một phần của sự nghiệp cách mạng.
Ông cho rằng, thơ phải hướng tới ngày mai, góp phần xây dựng cuộc đời mới chứ không chỉ hoài niệm quá khứ, tìm đến sự thoát li hay sự quên. Thơ cũng không chỉ dừng lại ở phê phán cái cũ mà muốn góp phần xây dựng cuộc đời mới thì phải thức tỉnh con người, tin ở con người và tập hợp con người thành sức mạnh. Với Tố Hữu, thơ là tư tưởng nhưng là tư tưởng đã cảm xúc hóa. Tố Hữu không tách rời tư tưởng và cảm xúc mà nhấn mạnh sự hòa quyện, sự thống nhất, sự chuyển hóa giữa tư tưởng và cảm xúc trong thơ.
Thơ là tiếng lòng, tiếng nói của cảm xúc tràn dâng. Ông tâm sự: “Không cố tình, nhưng mỗi khi có cái gì chứa chất trong lòng, không nói ra không chịu được thì lại thấy cần làm thơ” [24,tr. Theo quan niệm của nhà thơ Lưu Trọng Lư thì thơ chính là cốt lõi của cuộc sống, là tình yêu. Ông đặt ra yêu cầu mỗi bài thơ phải như một cánh cửa, để mở tới tình yêu.
Nhà thơ Sóng Hồng trong bài “Tựa tập thơ” thì cho rằng “Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cốt lõi của cuộc sống. Như vây cả nhà Lưu trọng Lư và Sóng Hồng đều đề cao vai trò của nội dung thơ là phản ánh cuộc sống, mang hơi thở cuộc sống, phục vụ cho cuộc sống con người. Chế Lan Viên thì phát biểu về thơ bằng chính thơ: “Thơ, thơ đong từng ngao như tát bể/ Là cái cân nhỏ xíu lại cân đời/ Đừng làm những câu thơ khuôn mình theo văn phạm/ Như cây xanh thẳng quá chim không về”. Nhà thơ Lê Đạt luôn nhấn mạnh thơ gắn liền với văn hóa, gắn liền với thiên nhiên, cảnh vật và con người.
Vì vậy, tìm ra giá trị của thơ cũng chính là tìm đến giá trị đẹp của văn hóa, của thiên nhiên. Ông cho rằng thơ là một trong những lĩnh vực tạo ra giá trị phi vật thể nên thơ không phải tự nó tạo 13 nên mà là do văn hóa, do tài năng nhà thơ hình thành ra. Ở hoàn cảnh riêng của bản thân, Hàn Mặc Tử có quan điểm về thơ: “Thơ là tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thương nhớ, ước ao trở lại trời, là nơi đã sống ngàn kiếp vô thủy vô chung với những hạnh phúc bất tuyệt.” Là một nhà cách mạng kiên trung của Đảng, nhưng cũng là một nhà thơ, đồng chí Trường Chinh (bút danh Sóng Hồng) quan niệm: “Thơ gắn liền con người với thời đại, không chỉ nói nên những tình cảm riêng mà thông qua đó, nói lên triết lý, lẽ sống, niềm hy vọng của dân tộc, những khát khao cháy bỏng của non sông và nhịp đập của trái tim quần chúng”. Ông cho rằng, “thơ chính là một hình thái nghệ thuật cao quý, người làm thơ phải có nguồn cảm xúc mạnh mẽ, cháy bỏng trong cõi lòng.
Thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa triết lý và tình cảm. Sự kết hợp đó được thể hiện bằng những hình tượng đẹp đẽ thông qua lời thơ”. Nghiên cứu về thơ cũng luôn là đề tài thú vị, tâm huyết được các nhà lý luận văn học, nhà phê bình văn học và các nhà ngôn ngữ quan tâm và có ý kiến riêng về thơ. Các nhà ngôn ngữ học cũng có những quan điểm khá phong phú về thơ.
Theo nhà ngôn ngữ học Hoàng Phê thì: “Thơ chính là một hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ, nhưng ngôn ngữ đó là loại ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, là loại ngôn ngữ có tính nhạc” [32, tr. Theo giáo sư Phan Ngọc, dưới góc nhìn cấu trúc, “thơ chính là cách thức tổ chức ngôn ngữ hết sức công phu, nó đòi hỏi người tiếp nhận phải nhớ, phải ngẫm, phải cảm xúc và suy nghĩ”. Ông cũng đưa ra một khái niệm về thơ với 3 quan điểm cơ bản: - Thơ có giá trị phổ quát, được áp dụng cho mọi sự vận hiện tượng, bất chấp ngôn ngữ, lịch sử, văn hóa. - Người đọc thơ không cần phải có kiến thức sâu, hiểu biết rộng và kinh nghiệm văn chương vẫn có thể nhận diện được.
- Ngôn ngữ thơ giúp ta nhận biết được thực chất của thơ, đọc thơ và 14 bình thơ có kết quả.6] Nguyễn Phan Cảnh trong công trình Ngôn ngữ thơ đưa ra nhận xét: “Rõ ràng là, trong văn xuôi, lặp lại là điều tối kỵ và phương trình không được dùng để xây dựng nên những thông báo. Nhận xét này chính là cơ sở để Nguyễn Phan Cảnh đề cao một nguyên lí trong tổ chức ngôn ngữ thơ: nguyên lí song hành. Nhà nghiên cứu Hữu Đạt khi nghiên cứu về ngôn ngữ thơ cũng đưa ra quan niệm về thơ như một định nghĩa khá toàn diện và hoàn chỉnh: “Thơ là một thể tài của văn học được trình bày bằng hình thức ngắn gọn, súc tích nhất với cách tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ nhằm phản ánh cuộc sống tập trung và khái quát nhất, dưới dạng các hình tượng nghệ thuật” [14 ,tr. Luận văn được người viết thực hiện dưới góc nhìn của ngôn ngữ học, nên chúng tôi thiên về ủng hộ quan niệm định nghĩa thơ của tác giả Hữu Đạt trong cuốn sách: “Ngôn ngữ thơ Việt Nam”.
Tuy nhiên, không thể cứng nhắc trong quan niệm mà trên một phương diện nhất định, chúng ta có thể chấp nhận những hình thức khá linh hoạt chứ không nhất thiết lúc nào cũng phải ngắn gọn và súc tích mà truyện thơ và trường ca là những minh chứng điển hình. Do đó, quan niệm của chúng tôi về thơ nhằm để thuận tiện cho các thao tác nghiên cứu về ngôn ngữ thơ Đồng Đức Bốn trong tập thơ “Chăn trâu đốt lửa” sẽ như sau: “Thơ là một thể loại văn học, là một chỉnh thể văn bản ngôn từ có sự tương xứng giữa nội dung và hình thức biểu hiện.